Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu

Khóa luận tốt nghiệp cử nhân luật với đề tài "Công khai, minh bạch tài sản, thu nhập trong phòng, chống tham nhũng: Một số vấn đề lý luận và thực tiễn" được thực hiện bởi sinh viên Ngô Thanh Xuân (MSSV: 1853801014227), dưới sự hướng dẫn khoa học của ThS. Nguyễn Văn Trí tại Khoa Luật Hành chính, Trường Đại học Luật TP. Hồ Chí Minh (niên khóa 2018 – 2022).

1. Lý do chọn đề tài và bối cảnh thực tiễn

Tham nhũng được xác định là hành vi tha hóa quyền lực nhà nước bắt nguồn từ lòng tham nhằm trục lợi về tiền bạc, tài sản. Để giải thích cơ chế hình thành tham nhũng, tác giả vận dụng công thức của Robert Klitgaard:

$$\text{C} = \text{M} + \text{D} - \text{A}$$

Trong đó:

  • $\text{C}$ (Corruption): Tham nhũng.
  • $\text{M}$ (Monopoly): Sự chuyên quyền, độc đoán.
  • $\text{D}$ (Discretion): Sự tự ý hành động do thiếu kiểm soát.
  • $\text{A}$ (Accountability): Trách nhiệm giải trình.

Để phòng ngừa tham nhũng, việc triệt tiêu yếu tố tự ý hành động ($\text{D}$) và tăng cường trách nhiệm giải trình ($\text{A}$) thông qua công khai, minh bạch tài sản, thu nhập là yêu cầu bắt buộc.

Tại Việt Nam, cơ chế này phát triển từ Pháp lệnh Chống tham nhũng năm 1998, qua Luật Phòng, chống tham nhũng năm 2005 (sửa đổi, bổ sung năm 2007, 2012) và hiện nay là Luật Phòng, chống tham nhũng năm 2018 (có hiệu lực từ ngày 01/07/2019). Sau hơn 03 năm thi hành Luật năm 2018 và Nghị định số 130/2020/NĐ-CP, việc thực thi cơ chế kiểm soát tài sản, thu nhập trên thực tế đã bộc lộ những vướng mắc, hạn chế nhất định, đòi hỏi phải được tổng kết, đánh giá cả về phương diện lý luận và thực tiễn áp dụng.

2. Tổng quan tình hình nghiên cứu

Tác giả điểm qua các công trình nghiên cứu chuyên sâu đã công bố sau khi Luật Phòng, chống tham nhũng năm 2018 có hiệu lực:

  • Sách chuyên khảo: Tác phẩm "Tìm hiểu quy định về kiểm soát tài sản, thu nhập của người có chức vụ, quyền hạn ở Việt Nam (Theo Luật Phòng, chống tham nhũng năm 2018 và Nghị định 130/2020/NĐ-CP)" và "Một số vấn đề về tham nhũng và những nội dung cơ bản của Luật Phòng, chống tham nhũng 2018" của TS. Đinh Văn Minh. Các tác phẩm này tập trung giải thích các quy định mới nhưng chưa đi sâu đánh giá hạn chế và đề xuất giải pháp lập pháp cụ thể.
  • Bài báo tạp chí chuyên ngành: Các bài viết của Lê Thị Hoa (Tạp chí Thanh tra, 2021), Phan Thị Lan Phương (Tạp chí Nghiên cứu Lập pháp, 2019), Hà Quang Thanh (Tạp chí Nghiên cứu Lập pháp, 2021), Nguyễn Hoài Thịnh (Tạp chí Quản lý nhà nước, 2022). Các bài viết này phân tích tổng thể quy định về kiểm soát tài sản, thu nhập nhưng chủ yếu dừng lại ở góc độ quy định pháp luật thực định mà chưa hệ thống hóa toàn diện các vấn đề lý luận nền tảng.

3. Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu

Khóa luận đặt ra các nhiệm vụ nghiên cứu cụ thể:

  1. Hệ thống hóa và làm rõ cơ sở lý luận, khái niệm, đặc điểm, vai trò và cơ sở pháp lý quốc tế của cơ chế công khai, minh bạch tài sản, thu nhập.
  2. Phân tích, đánh giá thực trạng quy định của pháp luật Việt Nam hiện hành (Luật Phòng, chống tham nhũng năm 2018 và Nghị định số 130/2020/NĐ-CP) về chủ thể, đối tượng kê khai, phương thức, trình tự xác minh và chế tài xử lý vi phạm.
  3. Khảo sát thực tiễn thi hành quy định tại các địa phương, chỉ ra những ưu điểm, bất cập và khoảng trống pháp lý.
  4. Đề xuất các giải pháp, kiến nghị hoàn thiện hệ thống văn bản quy phạm pháp luật và nâng cao hiệu quả thực thi cơ chế kiểm soát tài sản, thu nhập.

4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

  • Đối tượng nghiên cứu: Các vấn đề lý luận về công khai, minh bạch tài sản, thu nhập trong phòng, chống tham nhũng; các quy phạm pháp luật hiện hành điều chỉnh hoạt động kiểm soát tài sản, thu nhập và thực tiễn áp dụng.
  • Phạm vi nghiên cứu: Khóa luận tập trung vào hệ thống pháp luật phòng, chống tham nhũng của Việt Nam, trọng tâm là Luật Phòng, chống tham nhũng năm 2018 và Nghị định số 130/2020/NĐ-CP; số liệu thực tiễn được thu thập từ báo cáo công tác phòng, chống tham nhũng giai đoạn 2020 – 2021 và các vụ việc điển hình tính đến năm 2022.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp

1. Khung lý thuyết và nền tảng tư tưởng

  • Chủ nghĩa Mác – Lênin và Tư tưởng Hồ Chí Minh: Khẳng định lợi ích kinh tế là động lực cơ bản của con người nhưng khi bị chi phối bởi chủ nghĩa cá nhân sẽ làm tha hóa cán bộ mang quyền lực công. Vận dụng quan điểm "vừa phòng bệnh, vừa chữa bệnh" của Chủ tịch Hồ Chí Minh để khẳng định biện pháp minh bạch tài sản nhằm ngăn chặn từ sớm mầm mống bất chính.
  • Truyền thống pháp lý dân tộc (Luật Hồi tỵ): Nghiên cứu quy chế hồi tỵ thời Lê sơ (đời vua Lê Thánh Tông, niên hiệu Hồng Đức 1460 – 1497) và thời Nguyễn để phân tích cơ chế kiểm soát xung đột lợi ích giữa quyền lực công vụ và quan hệ thân tộc.
  • Văn bản pháp lý quốc tế:
    • Công ước Chống tham nhũng liên Mỹ (IACAC 1996): Điều ước quốc tế đầu tiên quy định tại Điều III khoản 4 về việc thiết lập hệ thống báo cáo và công khai tài sản.
    • Công ước của Liên minh Châu Phi về Phòng chống tham nhũng (AUCC 2003): Điều 7 cam kết kê khai tài sản khi nhậm chức, trong và sau thời gian công tác.
    • Công ước Liên Hiệp Quốc về Chống tham nhũng (UNCAC 2003): Khoản 5 Điều 8 và Khoản 5 Điều 52 quy định việc công khai tài chính và kiểm soát xung đột lợi ích của công chức.

2. Hệ thống văn bản pháp luật quốc gia áp dụng

  • Luật Phòng, chống tham nhũng năm 2005 (sửa đổi, bổ sung năm 2007, 2012) và Luật Phòng, chống tham nhũng năm 2018.
  • Nghị định số 130/2020/NĐ-CP về kiểm soát tài sản, thu nhập của người có chức vụ, quyền hạn trong cơ quan, tổ chức, đơn vị.
  • Nghị định số 59/2019/NĐ-CP quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật Phòng, chống tham nhũng (Điều 29 về xung đột lợi ích).
  • Bộ luật Dân sự năm 2015 (Điều 105 về tài sản, Điều 158 về quyền sở hữu).
  • Luật Tố cáo năm 2018 (Điều 29 về điều kiện thụ lý tố cáo).
  • Luật Cán bộ, công chức năm 2008 (sửa đổi, bổ sung năm 2019) và Nghị định số 112/2020/NĐ-CP về xử lý kỷ luật cán bộ, công chức, viên chức.

3. Phương pháp nghiên cứu và nguồn dữ liệu

  • Phương pháp luận: Sử dụng phương pháp duy vật biện chứng và duy vật lịch sử để phân tích sự vận động của các quy định pháp luật gắn liền với điều kiện kinh tế – xã hội qua từng thời kỳ.
  • Phương pháp cụ thể: Phương pháp phân tích quy phạm pháp luật, phương pháp so sánh luật học (đối chiếu quy định của Việt Nam với các chuẩn mực quốc tế), phương pháp thống kê và tổng hợp số liệu thực tế.
  • Nguồn dữ liệu: Dữ liệu Báo cáo công tác phòng, chống tham nhũng năm 2021 của Chính phủ; Báo cáo Chỉ số Cảm nhận Tham nhũng (CPI) của Tổ chức Minh bạch Quốc tế (TI); các kết luận thanh tra của Thanh tra Chính phủ và số liệu điều tra tội phạm tham nhũng của Bộ Công an.

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Một số vấn đề lý luận về công khai, minh bạch tài sản, thu nhập trong phòng, chống tham nhũng

Chương 1 tập trung làm rõ nội hàm các khái niệm và bản chất của chế định:

  • Khái niệm tham nhũng và phòng, chống tham nhũng: Tác giả phân tích tham nhũng theo cả nghĩa hẹp (khu vực công) và nghĩa rộng (bao gồm khu vực ngoài nhà nước theo định nghĩa của Hội đồng Châu Âu và OECD). Phòng và chống là hai mặt biện chứng, trong đó phòng ngừa giữ vai trò triệt tiêu điều kiện phát sinh tham nhũng.
  • Phân biệt "công khai", "minh bạch" và "kiểm soát": "Công khai" là cung cấp thông tin một chiều; "minh bạch" đòi hỏi tính rõ ràng, có trách nhiệm giải trình hai chiều; còn "kiểm soát tài sản, thu nhập" thể hiện sự chủ động của Nhà nước với việc hình thành Cơ quan kiểm soát tài sản, thu nhập chuyên trách, tách bạch tương đối khỏi cơ quan quản lý trực tiếp cán bộ.
  • Bốn đặc điểm cốt lõi của chế định:
    1. Là biện pháp phòng ngừa đánh trực tiếp vào động cơ tích lũy lợi ích bất chính.
    2. Lấy chính tài sản, thu nhập của người có chức vụ làm công cụ để giám sát, phản biện.
    3. Hiệu quả của biện pháp phụ thuộc vào việc hình thành cơ quan đầu mối chuyên trách độc lập.
    4. Hoạt động mang tính định kỳ và đòi hỏi quy trình phối hợp khép kín giữa các khâu (kê khai, công khai, xác minh, giải trình, xử lý).
  • Vai trò của chế định: Góp phần bảo vệ quyền tiếp cận thông tin của xã hội; phát hiện, ngăn chặn hành vi làm giàu bất chính và giải quyết xung đột lợi ích trong hoạt động công vụ.

Chương 2: Thực trạng quy định và thực hiện pháp luật về công khai, minh bạch tài sản phòng, chống tham nhũng ở Việt Nam hiện nay

Chương 2 phân tích chuyên sâu các quy định thực định và đối chiếu với thực tiễn áp dụng:

1. Các căn cứ và cơ chế xác minh tài sản, thu nhập

Luật Phòng, chống tham nhũng năm 2018 (Điều 41) quy định 05 căn cứ tiến hành xác minh tài sản, thu nhập:

  • Có dấu hiệu rõ ràng về việc kê khai tài sản, thu nhập không trung thực.
  • Có biến động tăng về tài sản, thu nhập từ 300.000.000 đồng trở lên so với lần kê khai trước mà người có nghĩa vụ giải trình không hợp lý.
  • Có tố cáo về việc kê khai không trung thực đủ điều kiện thụ lý theo Luật Tố cáo năm 2018.
  • Có yêu cầu hoặc kiến nghị của cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền quy định tại Điều 42.
  • Thuộc trường hợp xác minh theo kế hoạch xác minh hằng năm đối với người có nghĩa vụ kê khai được lựa chọn ngẫu nhiên (quy định đột phá mới).

Quy trình xây dựng kế hoạch xác minh ngẫu nhiên hằng năm được thực hiện theo Điều 14, 15, 16 Nghị định số 130/2020/NĐ-CP:

  • Căn cứ vào định hướng do Thanh tra Chính phủ trình Thủ tướng Chính phủ phê duyệt trước ngày 31 tháng 10 hằng năm.
  • Tiêu chí lựa chọn ngẫu nhiên áp dụng cho người chưa được xác minh tài sản, thu nhập trong thời gian 04 năm liền trước đó.

2. Quy định xử lý vi phạm về kiểm soát tài sản, thu nhập

Chế tài được phân định rõ theo hai nhóm chủ thể:

  • Đối với người kê khai:
    • Kê khai, giải trình không trung thực: Người ứng cử đại biểu Quốc hội, HĐND bị xóa tên khỏi danh sách; người dự kiến bổ nhiệm, phê chuẩn bị hủy bỏ việc bổ nhiệm; cán bộ, công chức khác bị xử lý kỷ luật từ cảnh cáo, hạ bậc lương, giáng chức, cách chức, buộc thôi việc hoặc bãi nhiệm và đưa ra khỏi quy hoạch (Điều 51).
    • Tẩu tán tài sản, không nộp bản kê khai sau 02 lần đôn đốc: Bị xử lý kỷ luật nghiêm khắc từ cảnh cáo đến buộc thôi việc, tước danh hiệu quân nhân, công an nhân dân.
  • Đối với chủ thể quản lý và xác minh: Người đứng đầu cơ quan thiếu trách nhiệm trong tổ chức kê khai hoặc thành viên Tổ xác minh vi phạm quy trình bị kỷ luật khiển trách, cảnh cáo, giáng chức, cách chức. Mọi hành vi vi phạm nếu có dấu hiệu tội phạm đều bị xử lý hình sự.

3. Đánh giá ưu điểm và những bất cập, lỗ hổng pháp lý

Nhóm nội dung Ưu điểm của pháp luật hiện hành Hạn chế, bất cập phát hiện
Cơ quan thực hiện Thành lập hệ thống Cơ quan kiểm soát tài sản, thu nhập chuyên trách; trao thẩm quyền yêu cầu cung cấp thông tin, phong tỏa tài sản tẩu tán (Điều 32 Luật năm 2018). Chưa có cơ sở dữ liệu quốc gia đồng bộ; việc kiểm tra tại một số cơ quan còn phụ thuộc vào báo cáo nội bộ.
Đối tượng và phương thức kê khai Thu hẹp diện kê khai hằng năm vào các vị trí lãnh đạo từ Phó Trưởng phòng trở lên hoặc lĩnh vực nhạy cảm; bổ sung hình thức kê khai bổ sung khi có biến động từ 300 triệu đồng. Chỉ quy định người kê khai phải kê khai thêm cho vợ/chồng và con chưa thành niên; bỏ sót con đã thành niên, cha mẹ, anh chị em ruột – tạo kẽ hở tẩu tán tài sản.
Phạm vi tài sản kê khai Quy định tương đối chi tiết các loại động sản, bất động sản, tài khoản ở nước ngoài và thu nhập tăng thêm. Chưa quy định kê khai "tài sản hình thành trong tương lai" (theo Điều 105 BLDS 2015); quy định về quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất còn lẫn lộn giữa quyền sử dụng và quyền sở hữu.
Thời điểm kê khai Quy định kê khai lần đầu, kê khai hằng năm, kê khai bổ sung và kê khai phục vụ công tác cán bộ. Bỏ quên quy định "kê khai khi kết thúc nhiệm kỳ hoặc trước khi nghỉ hưu", dẫn đến mất dấu vết tài sản đối với cán bộ không thuộc diện kê khai hằng năm.

Chương 3: Một số kiến nghị góp phần bảo đảm hiệu quả công khai, minh bạch tài sản trong phòng, chống tham nhũng

Chương 3 đề xuất hệ thống giải pháp hoàn thiện quy định pháp luật và tổ chức thi hành:

  1. Mở rộng diện chủ thể có liên quan phải kê khai: Bổ sung nghĩa vụ giải trình hoặc kê khai biến động tài sản chuyển dịch cho con đã thành niên, cha mẹ ruột khi có dấu hiệu tẩu tán tài sản liên quan đến người có chức vụ.
  2. Bổ sung loại tài sản kê khai: Sửa đổi biểu mẫu và quy định tại Nghị định số 130/2020/NĐ-CP để bắt buộc kê khai các dạng "tài sản hình thành trong tương lai" (hợp đồng mua bán căn hộ hình thành trong tương lai, hợp đồng bảo hiểm giá trị lớn, các khoản đầu tư tài chính phái sinh).
  3. Thiết lập phương thức kê khai khi kết thúc nhiệm kỳ: Quy định bắt buộc kê khai tài sản trước thời điểm miễn nhiệm, nghỉ hưu từ 03 đến 06 tháng đối với công chức giữ chức vụ quyền hạn nhằm đánh giá toàn diện sự biến động tài sản trong cả chu kỳ công tác.
  4. Hoàn thiện cơ chế xác minh ngẫu nhiên và tiêu chuẩn hóa tiêu chí: Cụ thể hóa định lượng cho khái niệm "dấu hiệu rõ ràng về việc kê khai không trung thực" để tránh tùy nghi trong áp dụng pháp luật.

Kết quả và đóng góp

1. Số liệu thực tiễn được trích xuất trong nghiên cứu

Khóa luận đã tổng hợp các số liệu thực tế phản ánh tính cấp thiết của việc kiểm soát tài sản:

  • Chỉ số Cảm nhận Tham nhũng (CPI): Năm 2021, Việt Nam đạt 39/100 điểm, xếp hạng 87/180 quốc gia (tăng 3 điểm và cải thiện thứ hạng so với năm 2020 đạt 36/100 điểm, xếp hạng 104/180).
  • Số liệu Báo cáo công tác PCTN năm 2021 của Chính phủ:
    • Toàn ngành thanh tra phát hiện vi phạm kinh tế 61.200 ha đất; kiến nghị thu hồi 16.775 tỷ đồng và 3.497 ha đất; chuyển cơ quan điều tra xử lý hình sự 245 vụ/182 đối tượng (tăng 58% số vụ chuyển cơ quan điều tra).
    • Riêng Thanh tra Chính phủ ban hành 14 kết luận thanh tra, phát hiện vi phạm 4.960 ha đất, kiến nghị thu hồi 1.773 tỷ đồng và 573 ha đất.
    • Cơ quan điều tra trong Công an nhân dân thụ lý 582 vụ án/1.262 bị can phạm tội tham nhũng; khởi tố mới 310 vụ/665 bị can (tăng 20 vụ, 49 bị can so với cùng kỳ); kết luận điều tra đề nghị truy tố 305 vụ/804 bị can; tạm đình chỉ điều tra 37 vụ/58 bị can.

2. Đóng góp khoa học của đề tài

  • Khóa luận phân định rạch ròi quá trình phát triển thuật ngữ từ "kê khai tài sản" (Pháp lệnh 1998) sang "minh bạch tài sản" (Luật 2005) và "kiểm soát tài sản, thu nhập" (Luật 2018), chỉ rõ sự chuyển dịch từ cơ chế thụ động sang quản lý chủ động của Nhà nước.
  • Chỉ ra 03 khoảng trống pháp lý mang tính cấu trúc của Luật Phòng, chống tham nhũng năm 2018 và Nghị định số 130/2020/NĐ-CP: lỗ hổng về chủ thể liên quan (con đã thành niên), sự thiếu tương thích với Bộ luật Dân sự năm 2015 (bỏ quên tài sản hình thành trong tương lai), và thiếu vắng khâu kê khai kết thúc nhiệm kỳ.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

  • Hạn chế: Do Luật Phòng, chống tham nhũng năm 2018 và Nghị định số 130/2020/NĐ-CP mới có hiệu lực thi hành được 03 năm tại thời điểm thực hiện đề tài (2022), số liệu thực tiễn về công tác xác minh tài sản ngẫu nhiên hằng năm tại các địa phương chưa được công bố đồng bộ và đầy đủ trên quy mô cả nước.
  • Hướng nghiên cứu tiếp: Cần tiếp tục theo dõi thực tiễn vận hành cơ sở dữ liệu quốc gia về kiểm soát tài sản, thu nhập sau khi được kết nối liên thông giữa các cơ quan thanh tra, thuế, ngân hàng và văn phòng đăng ký đất đai; nghiên cứu cơ chế xử lý tài sản không giải trình được nguồn gốc hợp lý bằng chế tài tịch thu dân sự hoặc thuế thu nhập đột xuất.

Giá trị tham khảo

  • Đối với sinh viên, học viên ngành Luật: Tài liệu cung cấp hệ thống lý luận hoàn chỉnh, các bảng so sánh điều khoản và phân tích án lệ thực tế (như vụ việc liên quan đến tài sản nhà ở của cán bộ tại Hà Nội), phục vụ cho việc học tập các học phần Luật Hành chính, Luật Phòng, chống tham nhũng và Kỹ thuật lập pháp.
  • Đối với cán bộ nghiên cứu, cơ quan thanh tra, lập pháp: Khóa luận cung cấp các luận cứ thực chứng và kiến nghị sửa đổi cụ thể đối với Nghị định số 130/2020/NĐ-CP và Luật Phòng, chống tham nhũng năm 2018 nhằm bịt kín các kẽ hở tẩu tán tài sản qua các quan hệ dân sự ủy quyền.

Câu hỏi thường gặp

1. Công thức tham nhũng của Robert Klitgaard được tác giả vận dụng nhằm mục đích gì?

Tác giả sử dụng công thức $C = M + D - A$ ($Corruption = Monopoly + Discretion - Accountability$) để chứng minh rằng để ngăn chặn tham nhũng ($C$), giải pháp hữu hiệu nhất là giảm thiểu tối đa quyền tự ý hành động trong bóng tối ($D$) và tăng cường trách nhiệm giải trình ($A$). Việc công khai, minh bạch tài sản chính là công cụ buộc cán bộ phải giải trình nguồn gốc tài sản, đưa các biến động kinh tế cá nhân ra ánh sáng.

2. Pháp luật hiện hành quy định những căn cứ nào để tiến hành xác minh tài sản, thu nhập?

Theo Điều 41 Luật Phòng, chống tham nhũng năm 2018, việc xác minh được tiến hành khi có 1 trong 5 căn cứ: (1) Có dấu hiệu rõ ràng về kê khai không trung thực; (2) Có biến động tăng từ 300 triệu đồng trở lên mà giải trình không hợp lý; (3) Có tố cáo đủ điều kiện thụ lý theo Luật Tố cáo; (4) Có yêu cầu, kiến nghị của cơ quan, người có thẩm quyền theo Điều 42; (5) Thuộc kế hoạch xác minh hằng năm đối với người được lựa chọn ngẫu nhiên.

3. Quy định kê khai đối với người thân thích của người có nghĩa vụ kê khai bộc lộ hạn chế gì?

Hiện nay pháp luật chỉ bắt buộc người kê khai phải kê khai tài sản của bản thân, vợ hoặc chồng và con chưa thành niên. Tác giả chỉ ra lỗ hổng lớn là người có hành vi tham nhũng có thể dễ dàng tẩu tán tài sản bằng cách đứng tên hộ qua con đã thành niên, cha mẹ ruột, anh chị em ruột hoặc bạn bè thân tín thông qua các giao dịch dân sự, hợp đồng ủy quyền mà cơ quan kiểm soát không thể giám sát theo diện bắt buộc kê khai.

4. Tại sao tác giả cho rằng quy định về tài sản kê khai chưa tương thích với Bộ luật Dân sự 2015?

Theo Điều 105 Bộ luật Dân sự 2015, tài sản bao gồm tài sản hiện có và tài sản hình thành trong tương lai. Tuy nhiên, Luật Phòng, chống tham nhũng năm 2018 và Nghị định 130/2020/NĐ-CP chỉ liệt kê các tài sản hiện hữu mà bỏ quên "tài sản hình thành trong tương lai" (như nhà ở mua trả góp theo dự án, hợp đồng đầu tư thương mại chưa bàn giao), tạo kẽ hở để cán bộ hợp thức hóa dòng tiền tham nhũng bằng các giao dịch thanh toán trả dần.

5. Hành vi kê khai tài sản không trung thực bị xử lý như thế nào theo Luật năm 2018?

Theo Điều 51 Luật Phòng, chống tham nhũng năm 2018: Người ứng cử đại biểu Quốc hội, HĐND bị xóa tên khỏi danh sách ứng cử; người dự kiến bổ nhiệm, phê chuẩn bị hủy dự kiến bổ nhiệm; cán bộ, công chức khác bị xử lý kỷ luật từ cảnh cáo, hạ bậc lương, giáng chức, cách chức, buộc thôi việc hoặc bãi nhiệm, đồng thời bị đưa ra khỏi danh sách quy hoạch lãnh đạo, quản lý.


Kết luận

Khóa luận của tác giả Ngô Thanh Xuân đã hệ thống hóa toàn diện các vấn đề lý luận về công khai, minh bạch tài sản, thu nhập và làm rõ bước chuyển biến pháp lý quan trọng từ cơ chế "kê khai" thụ động sang "kiểm soát" chủ động theo Luật Phòng, chống tham nhũng năm 2018 và Nghị định số 130/2020/NĐ-CP. Bằng phương pháp phân tích luật học kết hợp dẫn chứng số liệu thanh tra thực tế, đề tài đã chỉ ra những khoảng trống pháp lý cốt lõi về đối tượng kê khai mở rộng, tài sản hình thành trong tương lai và chế độ kê khai kết thúc nhiệm kỳ. Các giải pháp lập pháp được đề xuất trong khóa luận có giá trị khoa học và đóng góp thiết thực cho công tác hoàn thiện thể chế phòng ngừa tham nhũng tại Việt Nam.