Chương 1: Một số vấn đề lý luận về công khai, minh bạch tài sản, thu nhập trong phòng, chống tham nhũng Chương 2: Thực trạng quy định và thực hiện pháp luật về công khai, minh bạch tài sản trong phòng, chống tham nhũng ở Việt Nam hiện nay Chương 3: Một số kiến nghị góp phần bảo đảm hiệu quả công khai, minh bạch tài sản trong phòng, chống tham nhũng. MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ CÔNG KHAI, MINH BẠCH TÀI SẢN, THU NHẬP TRONG PHÒNG, CHỐNG THAM NHŨNG 1. Khái niệm, đặc điểm công khai, minh bạch tài sản, thu nhập trong phòng, chống tham nhũng 1. Khái niệm công khai, minh bạch tài sản, thu nhập trong phòng, chống tham nhũng *Khái niệm tham nhũng Tham nhũng là hành vi xã hội tiêu cực, nảy sinh khi xuất hiện nhà nước, có thể tồn tại ở bất kỳ quốc gia nào và gây ra những hệ lụy xấu trên nhiều lĩnh vực, từ chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội cho tới an ninh, quốc phòng, đối ngoại.
Tệ nạn tham nhũng xảy ra ở tất cả các quốc gia, không phân biệt chế độ chính trị, bất kể quốc gia đó giàu hay nghèo, đang ở trình độ phát triển kinh tế nào. Tham nhũng phát triển thường xuyên, hàng ngày, len lỏi vào mọi lĩnh vực của đời sống xã hội và phạm vi tác hại của nó không bó hẹp với một chủ thể nào nhất định. Thuật ngữ “tham nhũng” vẫn còn tồn tại nhiều cách hiểu, nhiều cách định nghĩa khác nhau. Ở nghĩa rộng, theo từ điển Tiếng Việt phổ thông, tham nhũng là lợi dụng quyền hành để nhũng nhiễu dân hoặc để tham ô tài sản với giá trị lớn.3 Cách định nghĩa này chưa hoàn chỉnh, còn mơ hồ.
Theo cách hiểu này, ta lại đắn đo thêm: thế nào là nhũng nhiễu dân? Hoặc là, chỉ tham ô tài sản với giá trị lớn thì mới gọi là tham nhũng sao? Hoặc, với các hành vi khác cũng mang mục đích vụ lợi nhưng không nhũng nhiễu dân hay tham ô, như là sử dụng tài sản công trái phép; giả mạo trong công tác; không thực hiện, thực hiện không đúng hoặc không đầy đủ nhiệm vụ, công vụ… thì có được xem là tham nhũng không? Theo một cách định nghĩa hẹp hơn, tham nhũng có thể hiểu là hành vi của người được nhà nước giao nhiệm vụ, quyền hạn đã lợi dụng chức vụ, quyền hạn, nhiệm vụ của mình để thực hiện mục đích vụ lợi.4 Cách định nghĩa này gần hơn với cách hiểu về tham nhũng theo pháp luật về phòng, chống tham nhũng của Việt Nam hiện nay. Tuy nhiên, nó lại quá hẹp về mặt thực tiễn. Với cách hiểu này, chỉ những ai mang nhiệm vụ, quyền hạn do Nhà nước giao phó thì mới là chủ thể của hành vi tham nhũng. Nói cách khác, cách định nghĩa thể hiện tham nhũng chỉ là hiện tượng xảy ra trong khu vực công – khu vực mang quyền lực nhà nước, cơ quan công quyền.
Các cách định nghĩa trên đều chỉ giới hạn ở một khía cạnh của tham nhũng, tập trung vào khu vực công mà chưa đề cập gì đến tham nhũng ở khu vực tư. Tuy nhiên, 3 Viện Ngôn ngữ học (2002), Từ điển Tiếng Việt phổ thông, Nxb Thành phố Hồ Chí Minh, tr. 4 Nguyễn Ngọc Long (2018), “Hậu quả của tham nhũng nhìn từ góc độ nhân quyền”, Luật sư Việt Nam, Số 5 (50), tr. 6 thực tế cho thấy tham nhũng còn xảy ra ở những chủ thể tư, không mang quyền lực Nhà nước, xảy ra ở những doanh nghiệp, tổ chức kinh tế khác, với các dạng hành vi như nhận hối lộ, tham ô tài sản, đưa hối lộ, môi giới hối lộ.
Với việc ghi nhận sự mở rộng phạm vi ảnh hưởng của tham nhũng, định nghĩa về tham nhũng cũng được đánh giá lại. Hội đồng Châu Âu cùng Tổ chức Hợp tác và Phát triển kinh tế của Liên hợp quốc đã đưa ra một định nghĩa rộng hơn về tham nhũng. Theo đó, “tham nhũng gồm các yếu tố cấu thành sau: Hành vi của những người được tin cậy giao phó nhiệm vụ công hoặc tư; Không tôn trọng trách nhiệm và nghĩa vụ của mình; Nhằm đạt được các lợi ích không chính đáng”5. Cách định nghĩa về tham nhũng ở đây đang thể hiện phạm vi tác động rộng lớn của các hành vi bị xem là tham nhũng.
Tham nhũng không chỉ diễn ra khi những chủ thể của nó được giao phó nhiệm vụ, quyền hạn công mà ngay cả đây là những nhiệm vụ mang tính chất tư thì vẫn là hành vi tham nhũng. Với các hành vi tham nhũng xảy ra khi các chủ thể tham nhũng mang trên mình công vụ: vẫn giống với quan niệm truyền thống về tham nhũng, các chủ thể tham nhũng đều được trao trọng trách, nhiệm vụ bằng những chức danh, vị trí trong cơ quan công quyền rõ ràng bằng những công cụ quản lý nhà nước. Với các hành vi tham nhũng ở những chủ thể không mang quyền lực nhà nước, việc đảm đương nhiệm vụ, quyền hạn là dựa trên “lòng tin”, sự tin cậy giao phó. Do cách hiểu như vậy, phạm vi của những thuật ngữ mang ý nghĩa là “người được giao nhiệm vụ, quyền hạn”, sẽ được mở rộng hơn rất nhiều, chỉ cần là được tin tưởng giao phó, không nhất thiết phải được giao dựa trên sự quy định của pháp luật, từ các hoạt động công vụ chỉ có ở cơ quan công quyền như bổ nhiệm, bầu cử… đều được xem là chủ thể của hành vi tham nhũng.
Từ lẽ đó, tham nhũng sẽ không còn bị hiểu bó hẹp chỉ xảy ra trong những khu vực mang quyền lực công như: cơ quan quản lý nhà nước, Toà án… Từ những phân tích về thuật ngữ “tham nhũng” qua nhiều cách hiểu, tác giả đồng tình với cách xác định phạm vi tham nhũng không nên bị bó hẹp chỉ khi nhiệm vụ, quyền hạn chỉ xuất phát từ bản chất công vụ; chỉ xảy ra ở những khu vực mang có sự can thiệp của quyền lực nhà nước mà nên mở rộng phạm vi ảnh hưởng của hành vi tham nhũng bao trùm cả các lĩnh vực công, tư, bán công, thực tiễn lợi dụng nhiệm vụ được tin tưởng giao phó trong các quan hệ mang bản chất dân sự cũng như tham nhũng chính trị. Bởi lẽ, không phải chỉ các chủ thể mang quyền lực nhà nước, được trao quyền hạn quản lý nhà nước (như cán bộ, công chức, viên chức, công an…) mới có nguy cơ tham nhũng. Các chủ thể khác ngoài xã hội, trong những quan hệ, giao dịch chỉ mang tính dân sự, trao đổi lợi ích dựa trên thoả thuận, công bằng, trao quyền 5 Nguyễn Quốc Sửu (2013), Phòng, chống tham nhũng trong hoạt động công vụ ở Việt Nam – Lý luận và thực tiễn, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, tr.
7 quyết định cho nhau dựa trên sự tin cậy vẫn có thừa khả năng thực hiện hành vi tham nhũng. Xã hội ngày càng phát triển, thủ đoạn của những hành vi vi phạm pháp luật, làm sai lệch đi chuẩn mực xã hội ngày càng phát triển tinh vi, xảo huyệt hơn và hành vi tham nhũng cũng không nằm ngoài quy luật ấy. Thực tế chứng minh: tham nhũng không còn là hành vi chỉ mang nguồn gốc từ cơ quan công quyền, từ hoạt động công vụ mà phạm vi tác động, ảnh hưởng và mục đích xâm hại của nó đã rộng ra xã hội của những hoạt động mang tính chất tư. *Khái niệm phòng, chống tham nhũng Xét về mặt ngữ nghĩa, bản thân thuật ngữ “phòng, chống tham nhũng” đã bao hàm hai thuật ngữ riêng biệt bên trong, gồm “phòng tham nhũng” và “chống tham nhũng”.
“Phòng tham nhũng” tức đang đề cập đến những hoạt động mang tính phòng ngừa, ngăn chặn những tiền đề, động lực để tham nhũng có thể xảy ra. Còn “chống tham nhũng” là đang nói đến những biện pháp nhằm phát hiện, xử lý những hành vi tham nhũng đã xảy ra. Về mặt lý luận cũng như thực tiễn, ý nghĩa của “phòng tham nhũng” và “chống tham nhũng” không thể tách rời nhau mà luôn gắn bó, tác động biện chứng với nhau. Cụ thể, “phòng tham nhũng” thành công sẽ triệt tiêu tham nhũng ngay từ những mầm mống sơ khai, cơ bản nhất.
Khi tham nhũng đã không xảy ra thì sẽ đương nhiên không cần phải “chống tham nhũng”. Ngược lại, các hoạt động “chống tham nhũng” bằng các công cụ chế tài đủ hiệu quả, đủ hiệu ứng răn đe thì các chủ thể có nguy cơ vi phạm sẽ không sa lầy vào, từ đó thúc đẩy hoạt động “phòng tham nhũng”. Chính vì lẽ đó, thuật ngữ “phòng, chống tham nhũng” xuất hiện và được sử dụng để khẳng định hoạt động “phòng” và “chống” đối với hành vi tham nhũng không bao giờ được tách rời nhau. Tham nhũng là hành vi vi phạm pháp luật và cũng sẽ trở thành tội phạm nếu hội tụ đủ các yếu tố cấu thành tội phạm theo pháp luật hình sự.
Bản chất của công tác phòng, chống vi phạm pháp luật là hướng tới việc xoá bỏ, loại trừ các tiền đề, điều kiện cơ bản, nguyên nhân khách quan và chủ quan để ngăn chặn hành vi vi phạm xảy ra; đồng thời đẩy mạnh việc xử lý, chế tài để vừa nghiêm trị các chủ thể đã vi phạm, vừa tạo hiệu ứng răn đe các chủ thể có nguy cơ vi phạm. Chính vì lẽ đó, công tác “phòng, chống tham nhũng” có thể được hiểu là tổng thể các biện pháp tác động vào những nguyên nhân, điều kiện, tiền đề, mầm mống phát sinh tham nhũng cả ở phương diện kinh tế, chính trị, văn hoá, giáo dục, tư tưởng… để phòng ngừa hành vi tham nhũng xảy ra; đồng thời đề ra những công cụ chế tài, những biện pháp răn đe đủ mạnh, có hiệu quả trên thực tế với những chủ thể đã vi phạm để khắc phục hậu quả của hành vi tham nhũng đã gây ra. *Khái niệm công khai, minh bạch 8 Dưới góc độ từ ngữ, ta có thể tách “công khai, minh bạch” làm hai nội dung, đó là “công khai” và “minh bạch”. Hiện nay, hai khái niệm “công khai” và “minh bạch” vẫn còn sự nhầm lẫn, lẫn lộn nhau do nhiều người vẫn chưa hiểu đúng về hai khái niệm này.
Nếu nghiên cứu kỹ hơn, ta nhận ra hai khái niệm này có sự khác nhau khá rõ ràng. Cụ thể: Theo Từ điển Tiếng Việt phổ thông, “công khai” nghĩa là “không giữ kín, mà để cho mọi người đều có thể biết”6. Nói đơn giản, công khai là tính chất sẵn sàng chia sẻ thông tin. Còn “minh bạch” lại được định nghĩa đơn giản hơn.
“Minh bạch là rõ ràng, rành mạch.”7 Ta có thể thấy, “minh bạch” là một khái niệm khá trừu tượng và rộng.