Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ PHÁP LUẬT VỀ MIỄN TRÁCH NHIỆM HÌNH SỰ THEO LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM 1. Khái niệm, đặc điểm miễn trách nhiệm hình sự 1. Khái niệm miễn trách nhiệm hình sự Trách nhiệm hình sự là một dạng trách nhiệm pháp lý, được áp dụng đối với người có hành vi vi phạm pháp luật hình sự, được thể hiện bằng việc người phạm tội bị áp dụng một hoặc nhiều các biện pháp cưỡng chế hình sự khác nhau của Nhà nước do Luật Hình sự quy định. Trong khoa học luật hình sự Việt Nam, tuy có nhiều cách thể hiện khác nhau, song tựu trung lại các nhà khoa học luật hình sự nước ta về cơ bản đều thống nhất về nội hàm của khái niệm TNHS- là hậu quả pháp lý bất lợi được áp dụng đối với người thực hiện hành vi phạm tội và được thể hiện bằng việc áp dụng một hoặc nhiều biện pháp cưỡng chế của Nhà nước do luật hình sự quy định [7, tr.
Trong Luận án tiến sỹ luật học của Trịnh Tiến Việt cho rằng “trách nhiệm hình sự được hiểu là một dạng của trách nhiệm pháp lý và là hậu quả pháp lý bất lợi của việc thực hiện tội phạm và được thể hiện bằng việc áp dụng một hoặc nhiều biện pháp cưỡng chế của Nhà nước do luật hình sự quy định đối với người phạm tội.tr 26] Trên thực tế, các tội phạm và trường hợp phạm tội đều không giống nhau. Do đó, để công tác đấu tranh phòng, chống tội phạm đạt hiệu quả cũng như phân hóa các trường hợp phạm tội để có đường lối xử lý phù hợp, công bằng, chính xác và đúng pháp luật. Đặc biệt sự phân hóa các trường hợp tội phạm và người phạm tội còn thể hiện ở chỗ không phải tất cả trường hợp đều 12 bị truy cứu TNHS khi có đầy đủ những điều kiện nhất định thì một người đã phạm tội họ có thể được miễn TNHS. Về mặt lý luận pháp luật hình sự cho thấy khi việc truy cứu TNHS đối với một người là không cần thiết do tính chất nguy hiểm cho xã hội của hành vi thì sẽ có trường hợp trên thực tế Nhà nước không buộc người đó phải chịu TNHS mà cho họ được miễn TNHS.
Vì vậy, việc đặt ra chế định miễn TNHS đối với người thực hiện hành vi phạm tội ở chừng mực nhất định thể hiện chính sách phân hoá tội phạm; đồng thời, thể hiện sự khoan hồng, nhân đạo của Nhà nước đối với người phạm tội. Qua đó, nhằm động viên, khuyến khích họ lập công chuộc tội, nhanh chóng hòa nhập với cộng đồng và xã hội. Trên cơ sở khái niệm TNHS được đề cập như trên, khái niệm miễn TNHS được hiểu là việc cơ quan có thẩm quyền căn cứ vào từng giai đoạn tố tụng hình sự tương ứng cụ thể hủy bỏ việc áp dụng các hậu quả pháp lý được áp dụng đối với người thực hiện hành vi phạm tội khi có các căn cứ do pháp luật hình sự quy định. Miễn TNHS là một chế định quan trọng thể hiện chính sách nhân đạo của pháp luật hình sự.
Tuy nhiên, về mặt khoa học pháp lý thì mãi đến BLHS năm 1985, chế định miễn TNHS mới được nhà làm luật nước ta ghi nhận chính thức. Xét về phương diện pháp lý thì bản chất pháp lý của chế định miễn TNHS là tư tưởng nhân đạo được thực hiện bởi các cơ quan tiến hành tố tụng trong quá trình áp dụng mà căn cứ vào các điều kiện cụ thể theo chế định miễn TNHS đối với người mà hành vi của người đó đã thỏa mãn các dấu hiệu của một cấu thành tội phạm cụ thể trong BLHS để xem xét miễn TNHS cho họ. Các điều kiện được miễn TNHS được quy định cụ thể trong Phần Chung và Phần Các Tội phạm của BLHS năm 2015. Mặc dù người được miễn TNHS không phải chịu các hậu quả pháp lý hình sự bất lợi của việc phạm tội nhưng có thể phải chịu một hoặc nhiều biện pháp cưỡng chế phi hình sự được quy 13 định trong các ngành luật khác như: Luật Xử lý vi phạm hành chính, Luật Công chức, Luật Viên chức; Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước.
Cùng với khái niệm TNHS, miễn TNHS cũng được các nhà lý luận định nghĩa dưới nhiều góc độ khác nhau, cụ thể: Theo quan điểm của tác giả người Nga B. Xavelôva: “Miễn trách nhiệm hình sự được hiểu theo hai nghĩa: nghĩa hẹp - không kèm theo việc quyết định hình phạt, tức là miễn trách nhiệm hình sự do Cơ quan điều tra hoặc Viện kiểm sát thực hiện, cũng như do Tòa án thực hiện (khi không đưa ra bản án kết tội đối với người phạm tội được miễn trách nhiệm hình sự) và theo nghĩa rộng - suy cho cùng đó cũng đồng thời chính là miễn hình phạt [55, tr. Hay tác giả Kêlina X.G (Liên bang Nga) cho rằng: "Miễn trách nhiệm hình sự là việc hủy bỏ sự đánh giá tiêu cực đối với người đó dưới hình thức bản án" [56, tr. Quan điểm này cũng có những hạt nhân hợp lý của nó như việc thừa nhận một người phải có TNHS thì mới có thể được miễn TNHS mà việc xác định một người có hay không là thuộc thẩm quyền của Tòa án.
Điều này cũng được Hiến pháp 2013 quy định: “Người bị buộc tội được coi là không có tội cho đến khi được chứng minh theo trình tự luật định và có bản án kết tội của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật” (khoản 1 Điều 31) [19/tr5]. Cụ thể hóa trong Bộ luật Tố tụng hình sự (BLTTHS) Việt Nam 2015 được xây dựng và thực hiện theo 27 nguyên tắc cơ bản (từ Điều 7 đến Điều 33). Các nhà lý luận hình sự Việt Nam đề cập đến khái niệm miễn TNHS ở những khía cạnh sau: - Quan điểm thừa nhận nội dung và chỉ rõ bản chất pháp lý của Miễn TNHS “là một chế định nhân đạo của luật hình sự Việt Nam và được thể hiện bằng việc xóa bỏ hậu quả pháp lý của việc thực hiện hành vi nguy hiểm cho 14 xã hội bị luật hình sự cấm đối với người bị coi là có lỗi trong việc thực hiện hành vi đó" [8, tr. 7]; - Quan điểm ghi nhận nội dung và hậu quả pháp lý của miễn TNHS nhưng không đề cập thẩm quyền áp dụng và giai đoạn áp dụng: Miễn trách nhiệm hình sự là "miễn những hậu quả pháp lý đối với một tội phạm do pháp luật quy định" [45, tr.
269] hay là "không buộc tội một người chịu trách nhiệm hình sự về tội mà họ đã thực hiện" [43, tr. 321]; - Nhóm quan điểm ghi nhận tương đối đầy đủ về nội dung, phân định các giai đoạn áp dụng, thẩm quyền áp dụng và hậu quả pháp lý: Miễn trách nhiệm hình sự là "miễn truy cứu trách nhiệm hình sự và đương nhiên kéo theo phải miễn chịu các hậu quả tiếp theo do việc thực hiện trách nhiệm hình sự từ phía Nhà nước đem lại như: miễn bị kết tội, miễn phải chịu biện pháp cưỡng chế của trách nhiệm hình sự và miễn bị mang án tích. Trên thực tiễn ở giai đoạn xét xử có thể có trường hợp người phạm tội được Tòa án miễn trách nhiệm hình sự. Và theo đó, miễn trách nhiệm hình sự chỉ bao gồm miễn chịu biện pháp cưỡng chế của trách nhiệm hình sự và mang án tích" [41, tr.
19]; Mặc dù có nhiều quan điểm khác nhau nhưng các nhà lý luận hình sự đều thống nhất một số nội dung quan trọng của chế định miễn TNHS: Nội dung, điều kiện, thủ tục các hình thức miễn TNHS. Trên cơ sở tổng kết các quan điểm khoa học đã nêu, kết hợp với việc phân tích các quy định của pháp luật hình sự có liên quan, dưới góc độ khoa học luật hình sự, theo chúng tôi khái niệm miễn TNHS có thể được định nghĩa như sau: Miễn trách nhiệm hình sự là một chế định nhân đạo của pháp luật hình sự Việt Nam, là sự hủy bỏ việc áp dụng các hậu quả pháp lý đối với người thực hiện hành vi vi phạm pháp luật hình sự khi họ thực hiện những hành vi phạm tội được quy định trong BLHS nếu đáp ứng các điều kiện được miễn TNHS mà pháp luật quy định. Đặc điểm miễn trách nhiệm hình sự Căn cứ các khái niệm đã đề cập như trên và trên cơ sở nghiên cứu các quy định của pháp luật hình sự hiện hành về chế định miễn TNHS, có thể chỉ ra một số đặc điểm cơ bản của chế định này như sau: Thứ nhất, miễn TNHS là người thực hiện tội phạm được miễn những hậu quả pháp lý về các tội phạm khi họ đáp ứng những điều kiện theo quy định pháp luật. Theo đó, người được miễn TNHS, họ thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội mà luật hình sự quy định là tội phạm.
Tuy nhiên, tùy thuộc vào giai đoạn tố tụng hình sự tương ứng, các cơ quan điều tra, truy tố, xét xử xem xét, xác định tính cần thiết của việc truy cứu TNHS đối với người đó hay không mà vẫn đáp ứng được yêu cầu đấu tranh phòng và chống tội phạm cũng như đảm bảo tính giáo dục, cải tạo cao. Thứ hai, miễn TNHS thể hiện chính sách phân hóa tội phạm và người phạm tội, cũng như thể hiện nguyên tắc "nghiêm trị kết hợp với khoan hồng", "trừng trị kết hợp với giáo dục, thuyết phục, cải tạo" trong pháp luật hình sự Việt Nam. Thứ ba, miễn TNHS do cơ quan tiến hành tố tụng quyết định phải được thể hiện dưới hình thức văn bản. Cụ thể: “theo quy định của BLTTHS Việt Nam năm 2003, cơ quan Điều tra ra quyết định đình chỉ điều tra khi có căn cứ miễn TNHS quy định tại Điều 19, Điều 25 và khoản 2 Điều 69 BLHS (Điều 164); VKS ra quyết định đình chỉ vụ án khi có một trong các căn cứ miễn TNHS quy định tại Điều 19, Điều 25 và khoản 2 Điều 69 BLHS (Điều 169) hoặc rút quyết định truy tố và đề nghị Tòa án đình chỉ vụ án (Điều 181), Tòa án cấp phúc thẩm có quyền sửa bản án sơ thẩm trong trường hợp miễn TNHS hoặc miễn hình phạt cho bị cáo (điểm a khoản 1 Điều 249)”.
16 Thứ tư, miễn TNHS chỉ áp dụng đối với người mà trong hành vi của họ đã thỏa mãn các dấu hiệu của một cấu thành tội phạm cụ thể trong Phần các tội phạm Bộ luật hình sự nhưng họ lại có những điều kiện nhất định để được miễn TNHS.