Mở đầu Trong thời đại ngày nay, hoạt động Marketing không chỉ dừng lại ở phạm vi doanh nghiệp, một ngành nghề hay một lĩnh vực hoặc sản phẩm nào đó mà nó đang phát triển mạnh mẽ trong phạm vi vùng, khu vực, địa phương và quốc gia. “Một cách nhìn về địa phương mà nhiều nhà hoạch định chính sách đều đồng ý đó việc xem một địa phương như là một thương hiệu để marketing nó” (Kotler & ctg. Như vậy, về mặt marketing, một địa phương được xem như là một thương hiệu, gọi là “thương hiệu địa phương” để phân biệt với thương hiệu sản phẩm và dịch vụ của các đơn vị kinh doanh. Trên quan điểm marketing địa phương, các địa phương cần phải xác định thị trường mục tiêu của mình.
Theo Nguyễn Đình Thọ và cộng sự (2005) thì thị trường bao gồm các nhà đầu tư, kinh doanh trong và ngoài nước có lẽ là thị trường được nhiều địa phương chú ý đến nhiều nhất. Đây cũng là thị trường ưu tiên hàng đầu của các nước đang phát triển, đặc biệt là ở Châu Á sau cuộc khủng hoảng tài chính. Các địa phương tìm cách kêu gọi đầu tư, mà trọng tâm là đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI). Lý do là đầu tư nước ngoài tạo ra nhiều ngành nghề mới, tạo công việc làm, giúp phát triển công nghệ và tăng trưởng kinh tế, điều chính cán cân thanh toán quốc tế, tăng thu nhập cho người lao động và thu nhập cho ngân sách (Root, 1990).
Thời gian gần đây, lãnh đạo một số địa phương đã nhận ra vai trò của hoạt động marketing địa phương thu hút FDI trong điều kiện cạnh tranh thu hút nguồn vốn này ngày càng “gay gắt” giữa các nước cũng như giữa các địa phương trong nước. Do đó, họ nhận thấy được rằng cần xây dựng địa phương mình thành một sản phẩm hấp dẫn, đồng thời cần quảng bá các nét đặc thù của sản phẩm này một cách hiệu quả cho khách hàng đầu tư hiện tại và tiềm năng. Tỉnh Long An là một tỉnh nằm trong Vùng kinh tế trọng điểm phía Nam cả nước có vị trị cửa ngõ tiếp giáp với Vùng Đồng bằng sông Cửu Long. Xuất phát điểm nền kinh tế so với các tỉnh trong Vùng và cả nước còn khá thấp, nội lực còn hạn chế nên trong định hướng phát triển kinh tế - xã hội trong thời gian qua cũng như trong thời gian tới tỉnh đã xác định FDI là nguồn lực quan trọng trong tổng vốn đầu tư toàn xã hội của tỉnh.
Do đó, tỉnh đang tích cực tìm mọi cách thu hút FDI 1 123doc trong điều kiện vừa phải cạnh tranh với các tỉnh lân cận trong Vùng vừa phải hợp tác để phát huy lợi thế của Vùng. Tuy nhiên, hiệu quả thu FDI của tỉnh trong thời gian qua chưa đáp ứng yêu cầu. Một trong những nguyên nhân là cho hiệu quả thu FDI của tỉnh chưa đáp ứng yêu cầu là do công tác marketing địa phương trong thu hút FDI của tỉnh thời gian qua vẫn còn một số hạn chế, môi trường đầu tư còn nhiều điểm chưa thể cạnh tranh với các tỉnh lân cận trong vùng. Do đó, việc xây dựng chiến lược marketing địa phương của tỉnh trong thu hút FDI cũng như tiếp tục tìm ra một số giải pháp tăng cường công tác marketing địa phương nhằm nâng cao hiệu quả thu hút FDI của tỉnh Long An có ý nghĩa cấp bách và thiết thực góp phần làm cho nền kinh tế xã hội tỉnh Long An ngày càng phát triển nhanh, bền vững.
Mục tiêu và câu hỏi nghiên cứu 1. Mục tiêu nghiên cứu Xuất phát từ tình hình thu hút FDI để đánh giá hiệu quả thu hút FDI trên địa bàn tỉnh Long An thời gian qua, một trong những yếu tố ảnh hưởng chính đến thu hút FDI là công tác marketing địa phương trong thu hút FDI. Để tập trung giải quyết vấn đề này bài viết đề ra mục tiêu chính là: (1) Đánh giá vai trò marketing địa phương đối với thu hút FDI của tỉnh Long An. (2) Đề xuất một số giải pháp tăng cường công tác marketing địa phương nhằm nâng cao hơn hiệu quả thu hút FDI của tỉnh Long An.
Câu hỏi nghiên cứu Để tập trung giải quyết mục tiêu của bài viết đề ra, các câu hỏi sau đây cần được trả lời là: 1) Marketing địa phương có vai trò như thế nào đối với thu hút FDI của tỉnh Long An? 2) Làm thế nào để tăng cường công tác marketing địa phương nhằm nâng cao hiệu quả thu hút FDI của tỉnh Long An? 2 123doc 1. Phương pháp nghiên cứu Để đạt được mục tiêu đã đề ra cũng như để trả lời các câu hỏi tác giả sử dụng số liệu, dữ liệu, phương pháp nghiên cứu và công cụ phân tích như sau: 1. Số liệu, dữ liệu 1. Bộ Kế hoạch và Đầu tư từ năm 1988-2008.
Tổng Cục Thống kê Việt Nam và Cục Thống kê tỉnh Long An từ năm 1992-2008. Sở Kế hoạch và Đầu tư tỉnh Long An từ năm 1992-2008. Ban Quản lý các KCN tỉnh Long An từ năm 2005-2008. Phòng Thương mại Công nghiệp Việt Nam từ năm 2006-2008.
Phương pháp chuyên gia Tác giả sử dụng phương pháp chuyên gia thông qua việc tham vấn các chuyên gia (danh sách chuyên gia, bảng câu hỏi, phương pháp tổng hợp theo Phụ lục 1). Công cụ phân tích chính Trên cơ sở sử dụng số liệu, dữ liệu thứ cấp và sử dụng phương pháp chuyên gia là chủ yếu nên tác giả sử dụng 02 công cụ phân tích chính: 1) Các chỉ tiêu thống kê miêu tả. 2) Phân tích SWTO (phân tích những điểm mạnh, điểm yếu, cơ hội và thách thức). Phạm vi nghiên cứu Nhằm giới hạn phạm vi nghiên cứu như mục tiêu đã đề ra, bài viết tập trung xem xét, phân tích đánh giá các yếu tố nằm trong phạm vi sau: - Về không gian: nghiên cứu thu hút FDI tỉnh Long An trong điều kiện so sanh với các tỉnh lân cận trong vùng kinh tế trọng điểm phía Nam của cả nước.
- Thời gian: từ năm 1992 đến năm 2008. Những điểm mới của đề tài 1) Hiện nay chưa có công trình nghiên cứu độc lập nào về chủ đề Marketing địa phương trong thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài của tỉnh Long An. 2) Góp phần xây dựng “hình ảnh tỉnh Long An” trong xu hướng hội nhập ngày càng sâu, rộng. 3) Đề xuất một số giải pháp tăng cường công tác marketing địa phương nhằm nâng cao hiệu quả thu hút FDI của tỉnh Long An.
Kết cấu của đề tài Sau chương giới thiệu thì kết cấu còn lại của đề tài được viết theo trình tự sau: Chương hai trình bày tổng quát lý thuyết về đầu tư trực tiếp nước ngoài, tầm quan trọng của thu hút FDI và lý luận về marketing địa phương - marketing địa phương và vai trò của nó trong thu hút FDI. Chương ba phân tích, đánh giá thực trạng thu hút FDI và thực trạng marketing địa phương trong thu hút FDI trên địa bàn tỉnh Long An. Chương bốn gợi ý chiến lược, giải pháp đối với công tác marketing địa phương nhằm nâng cao hiệu quả thu hút FDI của tỉnh Long An. 4 123doc Chương 2.
Lý luận về đầu tư trực tiếp nước ngoài, marketing địa phương và marketing địa phương trong thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài 2. Lý thuyết về đầu tư trực tiếp nước ngoài 2. Khái niệm về đầu tư trực tiếp nước ngoài Khái niệm đầu tư trực tiếp nước ngoài đã được nhiều tổ chức kinh tế quốc tế đưa ra nhằm mục đích giúp các quốc gia hoạch định chính sách vĩ mô về FDI, tạo điều kiện thúc đẩy hoạt động tự do hóa thương mại và đầu tư quốc tế và phân loại, sử dụng trong công tác thống kê quốc tế. Trong báo cáo cán cân thanh toán hàng năm Quỹ tiền tệ thế giới (International Moneytary Fund – IMF) đã đưa ra định nghĩa về đầu tư trực tiếp nước ngoài như sau1: “Đầu tư trực tiếp nước ngoài là đầu tư có lợi ích lâu dài của một doanh nghiệp tại một nước khác (nước nhận đầu tư – hosting country), không phải tại nước mà doanh nghiệp đang hoạt động (nước đi đầu tư – source country) với mục đích quản lý một cách hiệu quả doanh nghiệp” (IMF 1993: 235).
Tổ chức hợp tác và phát triển kinh tế (Organisation for Economic Cooperation and development – OECD) cũng đưa ra định nghĩa về FDI tương tự như IMF. Tuy nhiên, OECD có quan niệm rất rộng về nhà đầu tư nước ngoài. Theo quan điểm của OECD, nhà đầu tư nước ngoài là cá nhân hoặc tổ chức có thể thuộc cơ quan Chính phủ hoặc không thuộc cơ quan Chính phủ đầu tư tại nước ngoài2. Ủy ban thương mại và phát triển của Liên hợp quốc (UNCTAD), trong Báo cáo đầu tư thế giới năm 19963 đã đưa ra định nghĩa về FDI như sau: “Đầu tư trực tiếp nước ngoài là đầu tư có mối liên hệ, lợi ích và sự kiểm soát lâu dài của một pháp nhân hoặc thể nhân (nhà đầu tư trực tiếp nước ngoài hoặc công ty mẹ) đối với một doanh nghiệp ở một nền kinh tế khác (doanh nghiệp FDI hoặc chi nhánh nước ngoài hoặc chi nhánh doanh nghiệp)”.
Theo Luật Đầu tư nước ngoài tại Việt Nam năm 1996 và trong lần sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Đầu tư nước ngoài ngày 09/6/2000 quy định tại khoản 1 Điều 2: “Đầu tư trực tiếp nước ngoài là việc nhà đầu tư nước ngoài đưa vào Việt 1 Banlance of payments, fifth edition, Washington, DC, IMF 1993, page 235. 2 OECD Benchmark Deffinition of FDI, page 56. 3 World Investment Report 1996 – United Nations – 1996, page 219. 5 123doc Nam vốn bằng tiền hoặc bất kỳ tài sản nào để tiến hành hoạt động đầu tư theo quy định của Luật này”, trong đó nhà đầu tư nước ngoài được hiểu là tổ chức kinh tế, cá nhân nước ngoài đầu tư vào Việt Nam.
Qua các định nghĩa về FDI, có thể hiểu một cách khái quát về FDI như sau: “đầu tư trực tiếp nước ngoài tại một quốc gia là việc nhà đầu tư ở một nước khác đưa vốn bằng tiền hoặc bất kì tài sản nào vào quốc gia đó để có được quyền sở hữu và quản lý hoặc quyền kiểm soát một thực thể kinh tế tại quốc gia đó, với mục tiêu tối đa hoá lợi ích của mình”. Tài sản trong khái niệm này, theo thông lệ quốc tế, có thể là tài sản hữu hình (máy móc, thiết bị, quy trình công nghệ, bất động sản, các loại hợp đồng và giấy phép có giá trị…), tài sản vô hình (quyền sở hữu tí tuệ, bí quyết và kinh nghiệm quản lý…) hoặc tài sản tài chính (cổ phần, cổ phiếu, trái phiếu, giấy ghi nợ…).