đặt vấn đề về những lý thuyết về xã hội hóa, mạng lưới xã hội, đưa ra quan điểm về bản chất của mạng lưới quan hệ xã hội. Ở đây, thay vì quan tâm đến những yếu tố cấu thành mạng lưới xã hội, thì các tác giả lại tập trung đo lường qui mô của mạng lưới xã hội, đưa ra 3 phương pháp đo lường qui mô mạng lưới xã hội chính. Và vận dụng những phương pháp đó vào trả lời các câu hỏi: Qui mô lõi mạng lưới quan hệ xã hội của người Việt Nam hiện nay như thế nào, hay nói cách khác, người Việt Nam có bao nhiều người bạn thân? Qui mô lõi mạng lưới quan hệ xã hội có sự khác biệt như thế nào trong các phân nhóm dân cư chính và những yếu tố nào ảnh hưởng đến qui mô lõi mạng lưới quan hệ xã hội của người Việt Nam? [14,tr. Cũng của 2 tác giả trên, trên tạp chí Xã hội học số 1 (129), 2015, bài viết “Nguyên lý đồng dạng: nghiên cứu khám phá cơ chế định hình mạng lưới xã hội của người Việt Nam” đã đưa ra những bằng chứng cho thấy quy mô lõi mạng lưới quan hệ xã hội của người Việt Nam (thể hiện qua số lượng bạn thân) khá lớn khi so sánh với một số quốc gia khác như Hàn Quốc hay Hoa Kỳ, và chỉ ra cơ chế chọn bạn của các chủ thể rất đa dạng.
Họ có thể chọn bạn có những đă ̣c tính gi ống mình , hoă ̣c ch ọn bạn có những đă ̣c tính b ổ khuyết cho mình , 7 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com hoă ̣c họ có thể kết hợp cả hai cơ chế này trong việc xây dựng mạng lưới bạn bè nói riêng, quan hệ xã hội nói chung [42]. Bài viết “Mạng lưới xã hội trong phát triển kinh tế hộ gia đình nông thôn hiện nay: phác thảo từ kết quả nghiên cứu định tính tại hai xã đồng bằng sông Hồng” của Nguyễn Đức Chiện, đăng trên tạp chí Xã hội học số 4 (132), 2015 tập trung vào tìm hiểu sự tồn tại các loại hình tổ chức và mạng lưới xã hội ở nông thôn như gia đình, dòng họ, phường hội … Đồng thời chỉ ra nghiên cứu xã hội học thực nghiệm gần đây có nhiều nỗ lực trong việc đề cập trực tiếp đến vấn đề mạng lưới xã hội ở nông thôn. Tác giả chỉ ra các nghiên cứu này quan tâm đến quan hệ mang tính tình cảm và tương trợ sản xuất trong cộng đồng. Tuy nhiên, các nghiên cứu chưa khai thác sâu liên kết mạng lưới xã hội trong phát triển kinh tế của hộ gia đình ở cộng đồng nông thôn.
Vì vậy, trong bài viết, tác giả tập trung tìm hiểu về những loại hình mạng lưới xã hội đang tồn tại ở nông thôn đồng bằng sông Hồng, và chỉ ra các liên kết mạng lưới xã hội ảnh hưởng thế nào đối với phát triển kinh tế của các nhóm hộ gia đình trong bối cảnh Việt Nam đang chuyển đổi và ngày càng hội nhập sâu rộng ra thế giới bên ngoài [10]. Trong luận án tiến sĩ của mình: “ Vốn xã hội với tìm kiếm việc làm của sinh viên sau khi tốt nghiệp (Nghiên cứu trường hợp cựu sinh viên trường Đại học KHXH & NV), tác giả Phạm Huy Cường đã mô tả thực trạng việc làm và nhận diện thực tế vốn xã hội của sinh viên sau khi tốt nghiệp. Bên cạnh đó, tác giả tìm hiểu sự vận dụng vốn xã hội trong tìm kiếm tìm kiếm việc làm của sinh viên sau khi tốt nghiệp, trong đó có sự xuất hiện của mạng lưới xã hội cũng có ảnh hưởng tới quá trình tìm kiếm việc làm của sinh viên sau khi tốt nghiệp. Và cuối cùng, tác giả xem xét liệu rằng có tồn tại mối liên hệ giữa mạng lưới xã hội và các dạng vốn khác trong quá trình các cựu sinh viên tốt nghiệp trường Đại học Khoa học xã hội và nhân văn tìm kiếm việc làm hay không [12].
8 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Ở một nghiên cứu sâu hơn về mạng lưới xã hội của tác giả Phạm Huy Cường đăng trên tạp chí Khoa học Xã hội và Nhân văn, tập 30, số 4 năm 2014 với tên gọi “Mạng lưới quan hệ xã hội với việc làm của sinh viên tốt nghiệp” đã chỉ ra mạng lưới quan hệ xã hội có vai trò quan trọng trong quá trình tìm kiếm việc làm của mỗi cá nhân. Mạng lưới quan hệ xã hội trước tiên có vai trò lan truyền các luồng thông tin về việc làm. Các kết quả nghiên cứu xác nhận mối liên hệ giữa mạng lưới quan hệ xã hội với các khía cạnh kinh tế và phi kinh tế của công việc. Về thu nhập, các công việc có được thông qua các mối quan hệ xã hội có thu nhập thấp hơn so với các công việc có được thông qua các kênh chính thức.
Tuy nhiên bất lợi này có liên hệ với các mối quan hệ trong gia đình nhiều hơn. Ở khía cạnh phi kinh tế, tìm kiếm việc làm thông qua các mối quan hệ xã hội hướng sinh viên tốt nghiệp tới các công việc thuộc khu vực công, có sự phù hợp với chuyên môn cao hơn. Tuy nhiên những người tìm kiếm công việc nhờ vào các mối quan hệ lại gặp bất lợi về chi phí thời gian. Các kết quả thu được cũng khẳng định và gợi mở rằng khi nghiên cứu về mạng lưới quan hệ xã hội trong thị trường lao động, cần có những phân tích rất cụ thể đặc điểm của các mối quan hệ xã hội và đặc điểm cũng như quy mô các nguồn lực mà mạng lưới quan hệ xã hội tạo cơ hội cho mỗi cá nhân có thể huy động để đạt được mục đích cá nhân của mình.
Chỉ có như vậy các phân tích kết quả nghiên cứu mới nhận thức được đầy đủ mỗi liên hệ giữa mạng lưới quan hệ xã hội với quá trình tìm kiếm và các kết quả tìm kiếm việc làm [11]. Nhìn chung, vấn đề về mạng lưới xã hội đã có nhiều các công trình nghiên cứu. Trên đây là một số công trình nghiên cứu về mạng lưới xã hội nói chung. Những nghiên cứu được tác giả tập trung bàn rất nhiều về những yếu tố liên quan hay những quan điểm về mạng lưới xã hội của các tác giả khác nhau.
Bên cạnh đó, định hướng giá trị văn hóa của thanh niên, trong các mối quan hệ giao tiếp trong gia đình, trong xã hội cũng được nói đến. Đây là nguồn tài liệu giúp tác giả 9 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com có thể tiếp thu, kế thừa khi xây dựng cơ sở lý luận và quá trình thực tiễn nghiên cứu để hoàn thiện luận văn của mình. Những nghiên cứu về tìm kiếm việc làm của sinh viên sau khi ra trường. Nghiên cứu về việc làm của sinh viên sau khi ra trường là vấn đề quan tâm của nhiều cơ sở đào tạo, do đó, một số cơ sở đào tạo cũng tiến hành nhiều nghiên cứu khảo sát về vấn đề này.
Từ năm 2002 được sự trợ giúp của Quỹ tài trợ đổi mới giáo dục đại học, Bộ Giáo dục và Đào tạo đã triển khai dự án điều tra sinh viên tốt nghiệp cho 10 trường đại học tham gia kiểm định đợt 1 và 20 trường tham gia kiểm định đợt 2… Lần đầu tiên tại Việt Nam xuất hiện một khái niệm mới “Khảo sát việc làm sinh viên sau tốt nghiệp”, và được đông đảo các trường đại học hưởng ứng tham gia, tích cực…Nhiều phát hiện quan trọng về vấn đề việc làm của sinh viên sau khi tốt nghiệp đã được nhiều nghiên cứu của các trường chỉ ra, trong đó có ba nội dung quan trọng: thứ nhất, tỷ lệ sinh viên sau khi tốt nghiệp ra trường có việc làm có tỷ lệ tương đối cao, tuy nhiên nhiều sinh viên chấp nhận làm không đúng với ngành nghề đào tạo, thậm chí là những công việc giản đơn, thu nhập thấp; thứ hai, có nhiều khó khăn, rào cản trong quá trình tìm việc làm của sinh viên như việc thiếu các kỹ năng mềm, tiếng anh, vi tính, sự thiếu chủ động trong quá trình tìm việc làm của sinh viên, việc thiếu hụt các thông tin tuyển dụng… Thứ ba, mạng lưới xã hội, vốn xã hội của sinh viên có vai trò quan trọng trọng quá trình tìm kiếm việc làm của sinh viên sau khi tốt nghiệp. Nghiên cứu “Đánh giá khả năng thích ứng với công việc của sinh viên ngành du lịch trường Đại học Cửu Long” do Nguyễn Quốc Nghi, Huỳnh Thị Tuyết Anh…đăng trên tạp chí Khoa học và xã hội số 8 tháng 3/ 2013, với mục tiêu của nghiên cứu nhằm đánh giá khả năng thích ứng với công việc của sinh viên ngành Kinh doanh Du lịch Trường Đại học Cửu Long. Số liệu nghiên cứu được thu thập từ 100 sinh viên tốt nghiệp ngành Kinh doanh Du lịch đang làm 10 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com việc tại các doanh nghiệp, đơn vị đào tạo, cơ quan hành chính nhà nước và 18 đơn vị tuyển dụng các sinh viên này. Các phương pháp thống kê mô tả, kiểm định độ tin cậy Cronbach‟s Alpha và phân tích nhân tố khám phá (EFA) được sử dụng trong nghiên cứu.
Kết quả nghiên cứu cho thấy, số sinh viên sau khi tốt nghiệp ra trường có việc làm tương đối cao, trên 80%; khả năng thích ứng với công việc của sinh viên ngành Kinh doanh Du lịch Trường Đại học Cửu Long được đánh giá là tốt. Mức độ hoàn thành công việc của sinh viên được người sử dụng lao động đánh giá ở mức tốt cho đến rất tốt. Kết quả nghiên cứu còn cho thấy, các nhân tố ảnh hưởng đến khả năng thích ứng với công việc của sinh viên ngành Kinh doanh Du lịch là ý chí cầu tiến, kiến thức chuyên môn và kỹ năng giải quyết vấn đề. Trong đó, kỹ năng giải quyết vấn đề là nhân tố có ảnh hường lớn nhất đến khả năng thích ứng với công việc của sinh viên ngành kinh doanh du lịch [33].
Nghiên cứu của Phạm Thị Lan Phượng với đề tài “Khảo sát kết quả việc làm của sinh viên tốt nghiệp trường Đại học Sư phạm Thành phố Hồ Chí Minh” năm 2014 đã cho thấy thực trạng vấn đề việc làm của sinh viên sau khi ra trường, gần 90% sinh viên tốt nghiệp Đại học sư phạm thành phố Hồ Chí Minh đang làm việc trong ngành giáo dục, sinh viên tốt đa số là yêu nghề giáo viên.