Lý thuyết Ký sinh trùng 3 Lớp Cử nhân XN Phân môn Ký sinh ĐHYD TP.HCM Plasmodium spp. MỤC TIÊU HỌC TẬP 1. Nêu các đặc điểm sinh học của ký sinh trùng sốt rét. Mô tả chu kỳ phát triển của ký sinh trùng sốt rét.
Trình bày triệu chứng lâm sàng bệnh sốt rét. Nêu các phương pháp chẩn đoán và phòng bệnh sốt rét. Sốt rét là bệnh truyền nhiễm nhiệt đới do muỗi truyền có tỷ lệ mắc, tỷ lệ chết cao, tốc độ lan truyền nhanh và khả năng gây dịch lớn Bệnh lây theo đường máu do muỗi Anopheles spp. truyền Đây là bệnh của các nước nghèo và là nguyên nhân gây nghèo khó.
Bệnh sốt rét (Malaria) được ghi vào sử sách của nhiều nước từ thời thượng cổ với tên gọi khác nhau: Bệnh sốt đầm lầy (Pháp); sốt khí độc (ý); sốt rừng thiêng (Anh); sốt muỗi (Ðông Phi); nghịch tật (Trung Quốc); sốt ngã nước, sốt rét rừng (Việt Nam).Laveran (Pháp) phát hiện sốt rét là do Plasmodium ký sinh trong máu gây nên Năm 1897, Ronald Ross (Anh) chứng minh bệnh sốt rét được truyền từ người này sang người khác bởi muỗi Anopheles hút máu. Ronald Ross Bản đồ phỏng định Các vùng sốt rét trên thế giới (màu xanh) Phân loại ký sinh trùng Theo phân loại KST học thì cần phân theo thứ bậc như sau: Giới, ngành, lớp, họ, bộ, giống và loài. Phân loại đơn giản theo ký sinh trùng y học KSTSR thuộc: - Giới động vật - Ngành đơn bào (Protozoa) - Lớp trùng bào tử (Sporozoa) - Họ Plasmodidae - Giống Plamodium I. ĐẶC ĐIỂM SINH HỌC KST sốt rét có tính đặc hiệu hẹp về ký chủ.
Có khoảng 120 loài Plasmodium ký sinh ở động vật hữu nhủ, chim và bò sát. Có 4 loại KSTSR ký sinh ở người trong điều kiện tự nhiên: – Plasmodium malariae (Laveran, 1881) – Plasmodium vivax (Grassi và Feletti, 1890) – Plasmodium falciparum (Welch, 1897) – Plasmodium ovale (Stephens, 1922) Ở thú vật cũng có những KSTSR riêng cho loài của nó và không lây truyền cho loài khác : - Khỉ : P. relictum - Gặm nhấm: P. gonderi Plasmodium knowlesi ký sinh ở khỉ đuôi dài và khỉ đuôi lợn (Macaca fascicularis và Macaca menestrina), sống ở khu vực rừng rậm các nước Đông Nam Á và ở khỉ Presbytis melalophos sống taị Sumatra, Indonesia.
Khỉ Macaque đuôi dài (số 2) Loài khỉ có mang kí sinh trùng Plasmodium knowlesi P. knowlesi edesoni and P. knowlesi knowlesi là 2 chủng đã được nhận diện có khả năng gây bệnh cho người Trường hợp nhiễm Plasmodium knowlesi trên người lần đầu tiên được ghi nhận vào năm 1965 ở một nhân viên quân đội Hoa Kỳ trở về nước sau khi công tác tại Đông Nam Á. Những năm sau đó ngày càng có nhiều báo về cáo trường hợp nhiễm Plasmodium knowlesi trên người, mặc dù phần lớn các ca nhiễm được báo cáo từ những nước trong khu vực Châu Á như Singapore, Thái lan, Malaysiaq.
nơi có sự sinh sống của khỉ đuôi dài nhưng với sự phát triển của khoa hoc kỹ thuật, du lịch, di dân và mở rộng lãnh thổ, P. knowlesi đã được tìm thấy ở cả những quốc gia không phải vùng sốt rét lưu hành. ̵ Phát hiện Plasmodium knowlesi gây bệnh cho người ở VN (2005) qua PCR. ̵ Hai trẻ em (trai 2 và gái 3 tuổi) + 1 thanh niên (27 tuổi) sống tại tỉnh Ninh Thuận.
̵ Không có triệu chứng lâm sàng. ̵ Là người dân tộc Ra-glai, sống gần rừng ̵ Vai trò truyền bệnh của Anopheles dirus ? Khi xâm nhập hồng cầu, KST sốt rét cũng có những điểm khác nhau: - P. ovale có khuynh hướng xâm nhập những hồng cầu non - P. malariae xâm nhập hồng cầu già - P.
falciparum không phân biệt tuổi của hồng cầu để xâm nhập. vivax cũng không xâm nhập được hồng cầu của những người có nhóm máu Duffy âm tính (thường là những người Phi Châu da đen ) Thời gian xâm nhập hồng cầu chỉ kéo dài từ 30 giây cho đến 1 phút. Ký sinh trùng (cụ thể là những mảnh trùng của thể phân liệt) có những bào quan ở phần đỉnh gọi là Rhoptrie và Microneme tiếp xúc với màng hồng cầu, làm cho màng hồng cầu uốn cong vào phía trong ngày càng sâu, tạo ra một hốc qua đó mảnh trùng xâm nhập vào trong hồng cầu, KST nằm trong không bào, cô lập với tế bào chất của hồng cầu. Các merozoite từ gan vào máu tiếp cận với bề mặt HC có những thụ thể (receptor) tương ứng và xâm nhập vào hồng cầu ( qua 5 giai đoạn) : A.
Nhận diện và gắn bám B-C. Hình thành điểm tiếp giáp D. Tạo nên màng không bào liên tiếp màng bào tương của HC E. Lọt vào không bào qua điểm tiếp nối F.
HC tự liền lại, mảnh trùng di chuyển về giữa HC, trở thành dạng nhẫn Ký sinh trùng sốt rét xâm nhập hồng cầu Mảnh trùng xâm nhập hồng cầu II. CHU KỲ PHÁT TRIỂN KST Soát Reùt phaùt trieån qua 2 chu trình vaø xaûy ra trong cô theå hai kyù chuû : – ÔÛ ûcô theÅ ngöôøi : Chu trình sinh saûn voâ tính tại gan & hoàng caàu,coøn goïi laø chu trình lieät sinh ( schizogony) – ÔÛ muoãi caùi Anopheles spp.: Chu trình sinh saûn höõu tính ôû daï daøy vaø tuyeán nöôùc boït muoãi,coøn goïi laø chu trình baøo töû sinh ( sporogony) - Ngöôøi laø kyù chuû trung gian - Muoãi Anopheles spp. laø kyù chuû vónh vieãn ñoàng thôøi laø vectô truyeàn beänh. CHU KYØ PHAÙT TRIEÅN 1.
Giai đoạn phát triển vô tính trên cơ thể người 1.1 Giai ñoaïn phaùt trieån ôû gan - Nếu muỗi mang mầm bệnh, KST sốt rét sẽ nằm trong tuyến nước bọt của muỗi dưới dạng thoa trùng là những sợi mảnh hình thoi, dài khoảng 10-15 µm với nhân ở trung tâm. Khi đốt người, thoa trùng sẽ theo nước bọt của muỗi xâm nhập vào hệ tuần hoàn. Sau 30 phút lưu thông trong máu, thoa trùng sẽ đến gan, xâm nhập vào tế bào gan và phát triển trong đó. Trong tế bào gan, KST sốt rét phát triển thành các thể phân liệt trong có chứa hàng ngàn mảnh trùng P.000 Sau cùng các phân liệt gan sẽ vỡ ra,phóng thích các mảnh trùng vào máu.
Thể phân liệt trong gan Thể phân liệt trong gan Thời gian để hoàn tất một chu kỳ phát triển trong gan thay đổi tùy theo loài Plasmodium: P. Số lượng mảnh trùng được tạo ra trong mổi thể phân liệt ở gan thay đổi tùy theo loài Plasmodium: P.000 mảnh trùng – Đối với Plasmodium vivax và Plasmodium ovale, ngoài sự phát triển tức thời của thoa trùng trong gan còn có sự tồn tại của các thể ngủ (hypnozoite) : Thoa trùng xâm nhập tế bào gan nhưng không tiếp tục phát triển ngay để cho ra phân liệt, mà nằm yên trong tế bào gan. Vài tháng sau đó, vì một lý do nào đó chưa rõ, các thể ngủ mới phát triển tiếp cho ra phân liệt, và rồi phân liệt vỡ ra, tung các mảnh trùng vào máu gây ra các cơn tái phát sốt rét. – Plasmodium falciparum và Plasmodium malariae không có thể ngủ trong gan.2 Giai ñoaïn phaùt trieån trong hoàng caàu Các mảnh trùng được phóng thích từ gan ra sẽ xâm nhập hồng cầu để phát triển thành tư dưỡng.
Từ tư dưỡng sẽ phát triển thành thể phân liệt trong máu có chứa nhiều mảnh trùng. Số lượng mảnh trùng trong một phân liệt thay đổi tùy theo chủng loại ký sinh trùng sốt rét.falciparum : 16 – 32 mảnh trùng P. ovale : 16 – 24 mảnh trùng P. malariae : 6 – 12 trùng – Phân liệt trong máu sẽ vỡ ra để các mảnh trùng xâm nhập các hồng cầu khác và tiếp tục chu kỳ trong hồng cầu (cho ra tư dưỡng rồi phân liệtq).
– Chu kỳ trong hồng cầu kéo dài đối với : P. ovale : 50 h Sau nhiều chu kỳ như trên, một số mảnh trùng phát triển thành các thể hữu tính là giao bào đực và giao bào cái. Các thể này không phát triển thêm mà chỉ nằm trong hồng cầu chờ được muỗi cái Anopheles spp. hút vào dạ dày để phát triển tiếp.
Giai đoạn phát triển hữu tính trên cơ thể muỗi – Khi muỗi cái Anopheles spp. đốt người có bệnh sốt rét, các thể KSTSR trong máu sẽ được hút vào dạ dày của muỗi, nhưng chỉ có các thể giao bào là tiếp tục phát triển được. – Vài phút sau khi vào dạ dày muỗi, có hiện tượng thoát roi ở giao bào đực để cho ra 4 đến 8 tiểu giao tử, trong khi giao bào cái trở thành đại giao tử. – Một tiểu giao tử sẽ xâm nhập vào đại giao tử và một hợp tử được hình thành (trứng thụ tinh).
Sự thoát roi ở giao bào đực cho ra 4 đến 8 tiểu giao tử – Trong vòng 18-24 h trứng này sẽ trở thành một trứng di động, đi xuyên qua vách dạ dày muỗi và phát triển thành một trứng nang nằm ở mặt ngoài dưới lớp màng bao dạ dày, có kích thước từ 40 đến 55 µm. – Trứng nang phát triển thành nang thoa trùng, chứa hàng ngàn thoa trùng trong đó. – Nang thoa trùng sẽ vỡ ra, các thoa trùng sẽ hướng về tuyến nước bọt của muỗi và nằm trong tuyến nước bọt. – Khi muỗi đốt người, thoa trùng sẽ theo nước bọt mà xâm nhập vào cơ thể người để tiếp tục chu kỳ phát triển trong người.
Thoa trùng trong tuyến nước bọt muỗi Thoa trùng ( sporozoites) – Thời gian ký sinh trùng phát triển trong muỗi khoảng 10 – 40 ngày, tùy thuộc vào loài Plasmodium nhiệt độ của môi trường bên ngoài. – Nhiệt độ môi trường bên ngoài càng cao thì thời gian ký sinh trùng phát triển trong muỗi càng ngắn. – Nếu nhiệt độ bên ngoài thấp hơn 160 C P. vivax sẽ không phát triển được trong muỗi (180C đối với P.
falciparum) Nếu nhiệt độ cao trên 450C ký sinh trùng cũng sẽ ngưng phát triển. Đặc điểm của từng loài Plasmodium Đặc điểm Loại ký sinh trùng Ở người P. Giai đoạn ở gan 6 8 9 15 (ngày) Thời gian ủ 12 – 17 hay 9 - 14 16 - 18 14 – 40 bệnh (ngày) lâu hơn Số lượng KST trong 1 phân 30.000 liệt gan Giai đoạn hồng 48 48 50 72 cầu (giờ) Đặc điểm Loại ký sinh trùng Ở người P.000 Sốt sơ phát Nặng, ác tính Nhẹ-nặng Nheï Nheï Sốt tái phát (do thể ngủ trong gan) - + + - KST tồn tại ở người nếu ∅ điều 1–2 1,5 – 5 1–5 3 – 50 trị (năm) Thời gian KST phát triển trong muỗi ở 9 – 10 8 – 10 14 – 16 12 – 14 28 0C (ngày) III. HÌNH THỂ TRONG MÁU CỦA KSTSR Hình thể KSTSR trong máu được mô tả dựa vào quan sát một lam máu nhuộm qua kính hiển vi quang học với độ phóng đại 700 – 1000 lần.