phần mở đầu, phần kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục, phần nội dung của luận văn được kết cấu thành 2 chương, 5 tiết. 9 PHẦN NỘI DUNG Chƣơng 1 ĐIỀU KIỆN VÀ TIỀN ĐỀ HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN LÝ LUẬN NHẬN THỨC CỦA BERTRAND RUSSELL 1. ĐIỀU KIỆN HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN LÝ LUẬN NHẬN THỨC CỦA BERTRAND RUSSELL 1. Điều kiện kinh tế Tình hình kinh tế nước Anh trong giai đoạn này đang gặp nhiều bất ổn, tình trạng kinh tế phát triển không ổn định và đặc biệt là vị thế dẫn đầu về sản xuất công nghiệp của nước Anh đang bị các nước tư bản trẻ đe dọa.
Tình trạng bất ổn về mặt kinh tế này không chỉ diễn ra ở riêng nước Anh mà đây là tình trạng chung đang diễn ra ở các nước châu Âu “già”. Để có thể thấy được sự bất ổn trong nền kinh tế của nước Anh nói riêng cũng như châu Âu nói chung ta cần phải đánh giá nền kinh tế của châu Âu dựa trên hai điểm chính xuyên suốt giai đoạn từ đầu thế kỉ XX cho đến năm 1945: Thứ nhất, sự khác biệt về quy mô các nền kinh tế ở các nước châu Âu; Thứ hai, trên khắp lục địa, về thu nhập bình quân đầu người và mức năng suất lao động đạt được ở các quốc gia là khác nhau. Chỉ ở hai điểm này cũng đã cho thấy được tính bất ổn của các nước châu Âu già, điều này làm cho nền kinh tế của các nước này trở nên không vững chắc và thị trường bị phân mảnh, làm kìm hãm sự phát triển kinh tế. Một trong những nguyên nhân làm cho quy mô của nền kinh tế ở châu Âu trở nên khác biệt, thị trường bị phân mảnh có thể kể đến là do chiến tranh như một nguyên nhân chính.
Chính các cuộc chiến tranh, các cuộc xung đột giữa các quốc gia với nhau mà hệ quả là sự chia cắt lãnh thổ, cắt đất, sáp nhập các vùng đất mới, sự biến mất của một quốc gia trên bản đồ thế giới,.… đã làm cho nền kinh tế ở châu Âu phát triển không đồng đều, thiếu vững 10 chắc và thị trường bị phân mảnh. Có thể thấy vấn đề này đã được các nước châu Âu khắc phục bằng cách thành lập Thị trường chung châu Âu, hay sau này gọi là Liên minh châu Âu (EU) vào những năm cuối thế kỉ XX. Trong suốt thế kỉ XX, đường biên giới ở châu Âu liên tục được vẽ lại như hệ quả của các cuộc tranh chấp, chiến tranh. Sau cuộc chiến tranh Balkan lần thứ nhất (1912), các quốc gia Bulgaria, Hy Lạp, Romania (Rumani), Serbia đã đánh bại đế chế Ottoman và gần như đẩy đế chế này ra khỏi châu Âu, chỉ còn giữ lại Constantinople và vùng nội địa của nó như những gì còn lại của Ottoman trên lãnh thổ châu Âu.
Năm 1913, chiến tranh Balkan lần thứ hai nổ ra khi các bên thắng cuộc bắt đầu xung đột với nhau về vấn đề lãnh thổ và trên thực tế, quy mô của Hy Lạp, cả về dân số lẫn lãnh thổ, đã tăng gấp đôi trong vòng hai năm. Ở khu vực nước Anh, tình trạng tương tự cũng diễn ra. Sau cuộc xung đột Anglo - Ireland (1919 - 1920), một vùng lãnh thổ mới được thiết lập, nước Cộng hòa Ireland ra đời sau Hiệp định Anh - Ireland được kí kết (12 - 1921). Từ đó, thêm vào một nền kinh tế độc lập khác ở châu Âu.
Ở khu vực Bắc Mỹ, đường biên giới chắc chắn hơn so với châu Âu, “dù cho những nỗ lực của Đức khi cố gắng lôi kéo Mexico vào chiến tranh thế giới thứ nhất dưới danh nghĩa đồng minh cùng những lời hứa về việc điều chỉnh lại lãnh thổ có lợi cho họ” (Gordon Martel, 2006, tr. Như vậy, chính sự không vững chắc của đường biên giới ở châu Âu những năm đầu thế kỉ XX đã làm cho nền kinh tế ở khu vực này trở nên không đồng đều về mặt quy mô và hệ quả là sự phát triển kinh tế thiếu bền vững, thiếu tính đồng nhất trên toàn khu vực. Nguyên nhân của sự phát triển không đồng đều và không đồng nhất về mặt kinh tế một phần là do những tham vọng về lãnh thổ giữa các quốc gia trong khu vực châu Âu, dẫn đến những cuộc chiến tranh, xung đột, những mâu thuẫn không thể điều hòa và cuối cùng là thị trường châu Âu bị phân mảnh. Từ sự khác biệt, không đồng nhất về quy mô kinh tế dẫn đến sự không đồng nhất trong hoạt động khoa 11 học, học thuật.
Như chủ nghĩa Marx đã nói, sự thay đổi trong cơ sở hạ tầng sẽ ảnh hưởng và làm biến đổi hoạt động trên kiến trúc thượng tầng. Einstein (2015) đã nhắc đến sự thay đổi này và bày tỏ sự thất vọng của mình trong bài viết Thiên đường đánh mất: Ở thế kỉ XVII, các nhà khoa học và các nghệ sĩ toàn châu Âu vẫn còn gắn kết chặt chẽ với nhau bởi một sợi dây lý tưởng chung, khiến sự cộng tác trong công việc của họ gần như không bị ảnh hưởng bởi các sự kiện chính trị…. Hôm nay chúng ta nhìn lại thời đó như nhìn lại một thiên đường đã mất. Những tham vọng dân tộc đã phá hỏng cộng đồng học thuật….
Những nhà khoa học, những người đã trở thành đại diện cho những truyền thống dân tộc cực đoan nhất, đã đánh mất ý thức về cộng đồng.43-44) Sự không đồng đều về mặt kinh tế, sự bất đồng về lãnh thổ đã trở thành mâu thuẫn không thể điều hòa được giữa các nước dẫn đến tình trạng khoa học bị phân mảnh thành những cộng đồng riêng biệt ở mỗi quốc gia, không còn liên kết với nhau như giai đoạn trước. Ảnh hưởng bởi tình trạng này, tư tưởng triết học của Russell trong giai đoạn này cũng chủ yếu hướng về truyền thống triết học của Anh, tức chủ nghĩa kinh nghiệm truyền thống gồm các đại biểu Berkeley, Locke, Hume,… với vấn đề quan tâm chính là lý luận về nhận thức. Tuy nhiên, dưới sự tác động của khoa học kỹ thuật thế kỉ XX, lý luận nhận thức của Russell không còn duy nghiệm như các tiền bối nữa mà mang màu sắc của chủ nghĩa thực chứng. Để hiểu rõ hơn sự phát triển kinh tế của châu Âu, Simon Kuznets đã phát triển khái niệm gọi là “Sự tăng trưởng kinh tế hiện đại”.
Khái niệm này trình bày một cách rộng rãi, khái quát hơn về sự phát triển kinh tế hơn là những đề xuất giải thích sự phát triển của nền kinh tế bằng cách tập trung vào một cuộc “cách mạng công nghiệp”. Kuznets đã xây dựng các ghi chép về lịch sử của thu nhập quốc nội để làm rõ sự gia tăng dân số, sự gia tăng các 12 mức độ tiêu dùng cùng với sự chuyển đổi các ngành nghề chủ chốt trong sản xuất, đó là sự mở rộng công nghiệp và dịch vụ so với nông nghiệp. Việc áp dụng khung khái niệm của Kuznets cho phép ta đánh giá định lượng các đặc điểm của sự tăng trưởng kinh tế ở châu Âu và đánh giá tương đối về hiệu quả kinh tế. Một trong những ghi chép tiêu biểu và được cho là nổi bật nhất về sự tăng trưởng kinh tế là ghi chép của Angus Maddison.
Nếu cần một góc nhìn nhất quán về kinh tế châu Âu những năm từ 1900 - 1945, thì đó là những dữ liệu của Maddison. Ta có thể dựa vào đó để đánh giá hiệu suất kinh tế của châu Âu trong nửa đầu thế kỉ XX, đồng thời đưa ra một vài điểm so sánh. Thứ nhất, nền kinh tế Hoa Kỳ lớn hơn nhiều so với bất kỳ quốc gia châu Âu nào, kể cả các nước lớn như Anh, Pháp, Đức, từ năm 1926 - 1929, “sản lượng công nghiệp Mỹ đã vượt quá 9% so với sản lượng của 5 cường quốc Đức, Pháp, Anh, Nhật, Italia cộng lại” (Nguyễn Anh Thái, 2003, tr. Trong suốt quá trình tăng trưởng kinh tế, mặc dù các nước châu Âu kể trên bị hai cuộc chiến tranh thế giới, cuộc Đại suy thoái làm gián đoạn, gây ra sự tạm dừng trong phát triển kinh tế, nhưng sau đó cả Anh và Đức dần khôi phục lại nền kinh tế.
Đối với Pháp, trong những năm chiến tranh, thu nhập quốc nội hầu như không tăng và thậm chí trong chiến tranh thế giới thứ hai, thu nhập của Pháp bị giảm đáng kể khi bị Đức chiếm đóng. Trái ngược hoàn toàn với Anh, Pháp, Đức, nền kinh tế của Mỹ tăng trưởng một cách bền vững và tương đối ổn định mãi cho đến năm 1929, khi có một đợt sụt giảm mạnh đánh dấu cho Đại suy thoái. Tuy nhiên, sau đó nền kinh tế Mỹ nhanh chóng phục hồi. Đến chiến tranh thế giới lần thứ hai, nền kinh tế Mỹ được huy động toàn lực tập trung hết thảy vào chiến tranh, vì vậy mà nó đã đạt được sự phát triển thần tốc.
Thứ hai, về thu nhập bình quân đầu người. Trước chiến tranh thế giới thứ nhất, thu nhập bình quân đầu người ở Anh tăng gấp đôi so với Mỹ, cả hai 13 nền kinh tế đều cho thấy sự phát triển ổn định. Trong thập niên 20 của thế kỉ XX, thu nhập bình quân đầu người ở Mỹ tiếp tục tăng, còn ở Anh lại có dấu hiệu thụt lùi sau chiến tranh và bắt đầu hồi phục chậm cho đến trước năm 1931. Sự suy giảm thu nhập bình quân đầu người cho thấy tình trạng kinh tế ở Anh đang rơi vào thời kỳ không ổn định thậm chí là suy giảm nền kinh tế, điều đó được thể hiện trong sự suy giảm về công nghiệp ở Anh, một trong những ngành trọng điểm của quốc gia này: “Sản lượng công nghiệp của Anh trong năm 1913 chiếm 14,8% tổng sản lượng công nghiệp thế giới, nhưng đến năm 1926 – 1929 nó chỉ còn 9,8%” (Nguyễn Anh Thái, 2003, tr.
Sau đó, thu nhập bình quân đầu người của Anh tiếp tục tăng ổn định cho đến trước chiến tranh thế giới thứ hai, đạt mức tăng trưởng của Mỹ trong suốt những năm 1930. Đối với Pháp và Đức giai đoạn trước chiến tranh thế giới thứ nhất, thu nhập bình quân đầu người ở cả hai nước nay tương đối ngang nhau và thấp hơn so với Anh. Sau khi chiến tranh kết thúc, nền kinh tế Pháp có dấu hiệu phục hồi nhanh hơn so với Đức, thậm chí còn duy trì ưu thế dẫn đầu trong một thời gian ngắn cho đến giai đoạn suy thoái năm 1930. Từ năm 1939, thu nhập bình quân đầu người của Pháp tiếp tục giảm mạnh do sự chiếm đóng của phát xít Đức đã tác động mạnh mẽ đến nền kinh tế của Pháp.