Đảng bộ Quận 11 TP.HCM lãnh đạo phát triển CN-TTCN giai đoạn 1986-1995

Luận văn thạc sĩ lịch sử Đảng về sự lãnh đạo của Đảng bộ Quận 11 trong phát triển sản xuất công nghiệp và tiểu thủ công nghiệp giai đoạn 1986 đến 1995.

Chuyên ngành

Lịch sử Đảng

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận văn thạc sĩ
73
0
0

Phí lưu trữ

30 Point

Tóm tắt

I. Tổng quan Đảng bộ Quận 11 lãnh đạo sản xuất công nghiệp 1986 1995

Quận 11 giữ vị trí chiến lược tại Thành phố Hồ Chí Minh. Địa bàn sở hữu nguồn nhân lực dồi dào, cần cù và giàu truyền thống sản xuất. Sau năm 1975, quận từng bước chuyển dịch từ khu vực tiêu thụ sang trung tâm sản xuất hàng hóa. Giai đoạn 1986 - 1995 đánh dấu bước ngoặt lớn với đường lối đổi mới toàn diện của Đảng Cộng sản Việt Nam. Đảng bộ Quận 11 đã quán triệt sâu sắc các nghị quyết của Trung ương và Thành ủy. Địa phương chủ động vận dụng sáng tạo chủ trương vào điều kiện cụ thể. Mục tiêu trọng tâm là phát triển mạnh mẽ sản xuất công nghiệp và tiểu thủ công nghiệp. Lĩnh vực này tạo ra nguồn của cải vật chất lớn, giải quyết việc làm cho hàng vạn lao động. Các ngành nghề truyền thống như cơ khí, chế biến thực phẩm, may mặc và đồ gia dụng phát triển nhanh chóng. Quận 11 trở thành điểm sáng kinh tế của thành phố trong thời kỳ đầu mở cửa. Luận văn thạc sĩ lịch sử Đảng phân tích toàn diện quá trình lãnh đạo mang tính lịch sử này. Công trình làm rõ vai trò quyết định của Đảng bộ trong việc định hướng cơ chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa.

1.1. Bối cảnh lịch sử và vị thế kinh tế của Quận 11

Năm 1986, nền kinh tế Việt Nam bước vào giai đoạn khủng hoảng với lạm phát cao và tình trạng thiếu hụt hàng hóa. Thành phố Hồ Chí Minh đứng trước yêu cầu cấp bách phải đổi mới cơ chế quản lý kinh tế. Quận 11 sở hữu mạng lưới tiểu thủ công nghiệp lâu đời với nhiều cụm nghề người Hoa năng động. Người dân địa phương có kỹ năng tay nghề tinh xảo cùng tinh thần buôn bán nhạy bén. Hệ thống hạ tầng giao thông kết nối thuận tiện với các trung tâm giao thương lớn. Đảng bộ Quận 11 nhận thức rõ tiềm năng to lớn này. Việc giải phóng sức sản xuất tại chỗ trở thành nhiệm vụ hàng đầu. Địa phương nhanh chóng xác lập mô hình kinh tế hàng hóa nhiều thành phần để khơi thông nguồn lực phát triển.

1.2. Mục tiêu nghiên cứu và ý nghĩa khoa học của đề tài

Đề tài luận văn thạc sĩ lịch sử Đảng tập trung làm rõ chủ trương chỉ đạo của Đảng bộ Quận 11 từ Đại hội IV đến Đại hội VI. Nghiên cứu hệ thống hóa các tư liệu lưu trữ, nghị quyết và báo cáo thực tiễn trong mười năm đổi mới. Công trình đánh giá khách quan thành tựu kinh tế công nghiệp và tiểu thủ công nghiệp đạt được. Đồng thời, đề tài chỉ ra những hạn chế trong công tác quản lý thời kỳ chuyển đổi cơ chế. Kết quả nghiên cứu khẳng định đường lối kinh tế đúng đắn của Đảng. Luận văn cung cấp luận cứ khoa học tin cậy giúp các cấp ủy địa phương rút ra bài học kinh nghiệm thiết thực cho công cuộc công nghiệp hóa hiện nay.

II. Phân tích thực trạng sản xuất CN TTCN Quận 11 thời kỳ 1986 1995

Trước năm 1986, cơ chế quản lý tập trung quan liêu bao cấp kìm hãm nghiêm trọng năng lực sản xuất của Quận 11. Các xí nghiệp quốc doanh và hợp tác xã gặp nhiều khó khăn về nguồn vốn, nguyên liệu và thị trường tiêu thụ. Sản phẩm làm ra thiếu tính cạnh tranh, mẫu mã đơn điệu và năng suất lao động thấp. Khi bước vào thời kỳ đổi mới, thị trường nội địa xuất hiện làn sóng hàng ngoại nhập lậu ồ ạt. Áp lực cạnh tranh gay gắt đe dọa trực tiếp sự tồn tại của các cơ sở sản xuất trong quận. Ngoài ra, cơ sở hạ tầng kỹ thuật đô thị còn lạc hậu, mặt bằng nhà xưởng chật hẹp xen lẫn trong khu dân cư. Tình trạng thiếu vốn đầu tư đổi mới công nghệ diễn ra phổ biến. Đội ngũ cán bộ quản lý ban đầu còn lúng túng trước các quy luật của kinh tế thị trường. Đảng bộ Quận 11 đã nhìn thẳng vào sự thật, đánh giá đúng thách thức và nhận diện rõ các điểm nghẽn kìm hãm phát triển sản xuất. Việc tháo gỡ rào cản hành chính trở thành mệnh lệnh sống còn của địa phương.

2.1. Khó khăn từ cơ chế cũ và thách thức hàng ngoại nhập

Cơ chế kế hoạch hóa tập trung trước đổi mới triệt tiêu tính chủ động của các đơn vị cơ sở. Nguồn nguyên vật liệu sản xuất bị cắt giảm nghiêm trọng khi thị trường Đông Âu biến động. Khi đất nước mở cửa, hàng ngoại nhập lậu tràn ngập thị trường với mẫu mã bắt mắt. Nhiều cơ sở tiểu thủ công nghiệp tại Quận 11 đứng trước nguy cơ phá sản. Năng lực tài chính hạn chế khiến các đơn vị khó tiếp cận máy móc hiện đại. Doanh nghiệp quốc doanh thua lỗ, trong khi các tổ hợp tác tư nhân chưa được pháp luật bảo hộ đầy đủ. Những áp lực này buộc Đảng bộ quận phải tìm kiếm hướng đi đột phá.

2.2. Sự trỗi dậy mạnh mẽ của khu vực kinh tế ngoài quốc doanh

Bất chấp nhiều rào cản, khu vực kinh tế ngoài quốc doanh tại Quận 11 đã chứng minh sức sống mãnh liệt. Hàng ngàn hộ sản xuất cá thể và doanh nghiệp tư nhân nhanh chóng thích nghi với cơ chế thị trường. Họ linh hoạt thay đổi mẫu mã, đa dạng hóa chủng loại sản phẩm và hạ giá thành cạnh tranh. Các ngành cơ khí gia dụng, sản xuất nhựa, chế biến thực phẩm tạo ra giá trị sản lượng vượt bậc. Kinh tế tư nhân nhanh chóng chiếm tỷ trọng lớn trong tổng cơ cấu sản xuất công nghiệp toàn quận. Sự năng động này phản ánh sức mạnh nội sinh to lớn của tầng lớp nhân dân lao động.

III. Giải pháp lãnh đạo phát triển CN TTCN của Đảng bộ Quận 11

Đảng bộ Quận 11 đã ban hành nhiều chủ trương đột phá nhằm khơi thông mọi nguồn lực sản xuất. Quận thực hiện phân cấp quản lý mạnh mẽ cho các phường và đơn vị cơ sở. Chính quyền địa phương khuyến khích mạnh mẽ phát triển kinh tế tư nhân và tổ chức lại các hợp tác xã tiểu thủ công nghiệp. Các chính sách khuyến khích đầu tư máy móc, cải tiến kỹ thuật được áp dụng đồng bộ. Quận hỗ trợ vay vốn ưu đãi, miễn giảm thuế giai đoạn đầu cho cơ sở mở rộng sản xuất. Đồng thời, Đảng bộ chỉ đạo quy hoạch các cụm sản xuất tập trung theo từng ngành nghề truyền thống. Mô hình phố chuyên doanh và cụm công nghiệp phụ trợ từng bước hình thành rõ nét. Công tác kết nối giao thương giữa người sản xuất và thị trường tiêu thụ được đẩy mạnh. Các hội chợ triển lãm hàng hóa được tổ chức thường xuyên nhằm quảng bá sản phẩm địa phương. Nhờ định hướng đúng đắn, môi trường kinh doanh tại Quận 11 ngày càng thông thoáng và an toàn.

3.1. Đổi mới cơ chế quản lý và giải phóng năng lực sản xuất

Đảng bộ Quận 11 xóa bỏ cơ chế quản lý hành chính bao cấp, trao quyền tự chủ hoàn toàn cho các đơn vị kinh tế. Chính quyền địa phương tích cực đơn giản hóa thủ tục cấp phép kinh doanh và đăng ký kinh doanh cá thể. Các chính sách khuyến khích tư nhân bỏ vốn đầu tư nhà xưởng, mua sắm máy móc hiện đại được thực thi triệt để. Quận chủ động bảo vệ quyền sở hữu tài sản hợp pháp của doanh nghiệp tư nhân. Sự đổi mới cơ chế tạo động lực mạnh mẽ, giúp giải phóng toàn bộ năng lực sản xuất đang bị kìm nén trong nhân dân.

3.2. Quy hoạch cụm ngành nghề truyền thống và mở rộng thị trường

Quận 11 tập trung xây dựng các cụm sản xuất liên hoàn theo tập quán và thói quen sinh hoạt của từng phường. Mô hình chuyên môn hóa ngành nghề như dệt kim, nhựa gia dụng, bao bì giấy và cơ khí chính xác được củng cố. Quận hỗ trợ doanh nghiệp tìm kiếm nguồn nguyên liệu ổn định và mở rộng thị trường phân phối toàn quốc. Mối liên kết giữa nhà sản xuất và thương nhân được thiết lập bền chặt. Các sản phẩm của Quận 11 dần chiếm lĩnh thị phần, đẩy lùi hàng nhập lậu và vươn ra thị trường quốc tế.

IV. Kết luận và bài học lịch sử Đảng từ thực tiễn Quận 11 1986 1995

Giai đoạn 1986 - 1995 chứng minh sự trưởng thành vượt bậc trong năng lực lãnh đạo kinh tế của Đảng bộ Quận 11. Sản xuất công nghiệp và tiểu thủ công nghiệp tăng trưởng vượt bậc về cả quy mô lẫn chất lượng. Tỷ trọng giá trị sản lượng ngoài quốc doanh tăng nhanh, tạo nền tảng tài chính vững chắc cho địa phương. Quận giải quyết việc làm cho hàng chục ngàn người lao động, nâng cao đời sống vật chất và tinh thần nhân dân. Thành công của Quận 11 đóng góp quan trọng vào sự phục hồi kinh tế chung của Thành phố Hồ Chí Minh. Nghiên cứu thực tiễn này cung cấp hệ thống luận cứ sâu sắc cho chuyên ngành Lịch sử Đảng. Bài học lớn nhất là kiên định đường lối đổi mới, xuất phát từ thực tiễn nhân dân và không ngừng sáng tạo trong điều hành. Những kinh nghiệm quý báu này vẫn giữ nguyên giá trị lý luận và thực tiễn cho công cuộc công nghiệp hóa, hiện đại hóa hiện nay.

4.1. Đánh giá thành tựu phát triển công nghiệp của địa phương

Trong mười năm 1986 - 1995, giá trị tổng sản lượng công nghiệp - tiểu thủ công nghiệp Quận 11 liên tục tăng trưởng bình quân trên hai con số. Cơ cấu kinh tế chuyển dịch đúng hướng theo mô hình mở rộng sản xuất hàng hóa nhiều thành phần. Hàng hóa Quận 11 khẳng định uy tín vững chắc về độ bền, mẫu mã và giá cả hợp lý. Nhiều doanh nghiệp tư nhân lớn mạnh từ các tổ hợp tác nhỏ lẻ ban đầu. Thu ngân sách địa phương gia tăng rõ rệt, bảo đảm nguồn lực an sinh xã hội. Thành tựu này khẳng định tính đúng đắn của đường lối đổi mới.

4.2. Bài học kinh nghiệm cho sự nghiệp công nghiệp hóa hiện đại hóa

Thực tiễn lãnh đạo của Đảng bộ Quận 11 để lại nhiều bài học giá trị. Cấp ủy Đảng phải nắm vững thực tế đời sống, tôn trọng quy luật khách quan và lắng nghe tiếng nói của nhân dân. Sự nhạy bén trong việc tháo gỡ khó khăn về cơ chế pháp lý là yếu tố quyết định tạo sức bật kinh tế. Đảng bộ cần phát huy tối đa vai trò của kinh tế tư nhân và làng nghề truyền thống. Bài học kết hợp nội lực địa phương với mở rộng liên kết vùng vẫn là định hướng then chốt cho giai đoạn phát triển hiện nay.

Tóm tắt và mô tả trên trang này được tạo với sự hỗ trợ của AI. Nếu bạn thấy nội dung không chính xác hoặc có vấn đề, vui lòng Báo lỗi nội dung.

15/06/2026
Lv ths khlsđ đảng bộ quận 11 thành phố hồ chí minh lãnh đạo phát triển sản xuất công nghiệp tiểu thủ công nghiệp thời kỳ 1986 1995

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1 TìNH HìNH, ĐặC ĐIểM QUậN 11 DƯớI Sự LãNH ĐạO CủA ĐảNG SAU 10 NĂM thành phố GIảI PHóNG 4 Tìm hiểu, nghiên cứu sự lãnh đạo của Đảng bộ Quận 11 về phát triển CN - TTCN thời kỳ 1986 - 1995, cần thiết phải đề cập một số tình hình, đặc điểm của Quận sau 10 năm kể từ ngày Thành phố Hồ Chí Minh được giải phóng trên các mặt vị trí địa lý, tổ chức hành chính, trình độ kinh tế, cộng đồng dân cư để thấy rõ những khó khăn, thuận lợi cơ bản của Quận. Vị TRí ĐịA Lý - Tổ CHứC HàNH CHíNH - DÂN Số * Vị trí địa lý: Quận 11 nằm về phía Tây - Tây Nam thành phố Hồ Chí Minh, cách trung tâm thành phố 6 km; là cửa ngõ thông thương giữa nội thành và vùng đồng bằng sông Cửu Long. Quận nằm giữa 10038’ đến 10010’ vĩ bắc, 106022’ - 106054’ kinh đông: Phía Tây Bắc giáp quận Tân Bình được giới hạn bởi kênh Tân Hóa, đường Âu Cơ, đường Nguyễn Thị Nhỏ và đường Thiên Phước. Phía Đông giáp Quận 10, được phân cách bằng đường Lý Thường Kiệt.

Phía Nam giáp Quận 5 và 6, được giới hạn bởi đường Nguyễn Chí Thanh và đường Hùng Vương. Như vậy, Quận 11 có vị trí quan trọng nằm giữa các Quận 5, 6, Tân Bình và Quận 10, là những quận có tiềm năng kinh tế, văn hóa và nhiều mặt khác. Quận 11 có diện tích tự nhiên là 5 km2 chiếm 0,25% diện tích đất đai thành phố và 3,5% đất đai của nội thành, là một quận có đất đai thuộc loại nhỏ so với các quận khác trong nội thành Thành phố Hồ Chí Minh. Phù hợp với tình hình địa lý và mối quan hệ kinh tế của từng khu vực hành chính, Quận 11được phân chia thành 16 phường.

Khu trung tâm quận nằm ở đường Bình Thới nơi tập trung các cơ quan Đảng, chính quyền, đoàn thể của Quận. Ngoài ra trong địa bàn Quận còn các khu trung tâm khác như trung tâm công nghiệp Phú Thọ; khu du lịch văn hóa Đầm Sen, khu liên hiệp thể thao Phú Thọ, khu thương mại dịch vụ đường 3/2. Theo báo cáo của Quận ủy và UBND Quận, tới năm 1995, dân số Quận 11 có: 252.699 người, trong đó người Hoa 110.083 người chiếm 43,56% số dân toàn Quận. 5 Mật độ dân số Quận 11 khá đông đúc: 51.044/km2; số dân trong độ tuổi lao động đạt tới 150.858 người chiếm 59,7% số dân toàn Quận, có khả năng góp phần đáp ứng nhu cầu về nguồn lực lao động cho quận và thành phố.

Xét về các yếu tố nguồn gốc cư dân, nghề nghiệp, địa hình và trình độ phát triển kinh tế, Quận 11 được chia thành 4 khu dân cư cư trú tập trung có những đặc điểm khác nhau. Khu vực 1: Khu vực được đô thị hóa nhanh nhất tập trung dân cư bao quanh chợ Phó Cơ Điều (gồm các phường 4, 6, 7 ngày nay). Đây là khu cư trú sớm nhất của đồng bào từ các nơi tập trung về thành phố. Dần dần về sau khi đô thị mở rộng, các ngành nghề phát triển, nhiều xưởng thủ công ra đời ở đây thì số lượng dân cư khu này tăng lên nhanh chóng.

Đặc biệt nơi đây đã hình thành cơ sở Đảng, các tổ chức cách mạng của quần chúng và các phong trào đấu tranh cách mạng của quần chúng sớm phát triển sôi nổi và mạnh mẽ nhất. Khu vực 2: Khu vực tập trung dân cư ở phường Phú Thọ cũ và quanh nghĩa địa Quảng Đông (gồm có các phường 8, 11, 12, 13 ngày nay) với mật độ dân cư rải rộng tương đối đều trên toàn địa bàn. Khu vực này về địa giới so với qui định trên bàn đồ thời Pháp thuộc tới nay thì tương đối ít thay đổi nhất. Đến ngày nay, dấu vết cổ xưa vẫn còn tồn tại trên sự phân bổ đường sá, kiến trúc nhà cửa, nghĩa địa và các chùa chiền.

Khu vực 3: Là khu vực đồn cây Mai, thuộc xóm Phú Giáo cũ (gồm các phường 2, 16 ngày nay). Đây là vùng cửa ngõ vào Thành phố tập trung bến xe, người qua lại nên việc quản lý phức tạp hơn. Khu vực 4: Là khu vực ven hoang hóa với các phường Phú Hòa, Cầu Tre cũ. (gồm các phường 1, 3, 5, 9, 10, 14 ngày nay) có nhiều ruộng đất, giáo xứ, nghĩa địa, chùa chiền.

Nhìn bao quát về địa lý, dân cư hiện nay, Quận 11 là quận nhỏ, nhưng dân số đông, phân bổ cư dân và trình độ phát triển kinh tế không đồng đều. Đặc điểm đó có nguồn gốc từ quá trình hình thành và phát triển của Quận. 6 * Vài nét lịch sử hình thành Quận 11: Quận 11 vốn là vùng đất sình lầy, được khai phá từ thế kỷ XVIII. Theo tư liệu lịch sử cho thấy Quận 11 nằm trong các chiến lũy Hòa Phong, Báu Tích, sau này là một phần của đại đồn Kỳ Hòa do Nguyễn Tri Phương, Tôn Thất Hiệp xây dựng trong những ngày đánh Pháp xâm luợc đầu tiên của nhân dân Nam Bộ.

Trước khi thực dân Pháp đánh chiếm vùng Sài Gòn - Gia Định (1859) một bộ phận nhân dân ta, phần đông là người Kinh và một số lớn người Hoa di cư vào nước ta làm ăn buôn bán đã đến sinh sống lập nghiệp tại đây với làng mạc dân ấp, dân lân. Trải ngót một thế kỷ dưới chế độ cai trị thuộc địa của Pháp, cùng với Sài Gòn, Gia Định và toàn xứ Nam Kỳ, vùng này có những biến đổi. Quá trình hình thành các khu dân cư của Quận 11 gắn liền với quá trình biến đổi, khai thác thiên nhiên để phát triển sản xuất, đồng thời gắn liền với quá trình hòa nhập của đồng bào người Hoa vào cộng đồng các dân tộc Việt Nam. Đó là quá trình hòa nhập cùng lao động sản xuất, tham gia tổ chức các phong trào cách mạng đánh đổ bọn thực dân đế quốc dưới sự lãnh đạo của Đảng ta.

Đại bộ phận đồng bào người Hoa là những người lao động từng gắn bó mật thiết với nhân dân lao động Quận 11. Đồng bào người Hoa đã từng đứng lên chiến đấu dưới ngọn cờ yêu nước chống Pháp của nhân dân ta; tích cực chống đế quốc, phong kiến, đoàn kết chặt chẽ và hòa hợp mối quan hệ tình cảm thân thiết với người Việt từ lâu đời và đùm bọc lẫn nhau với đồng bào lao động người Việt suốt từ năm 1930 đến Cách mạng tháng Tám năm 1945 và trong thời kỳ kháng chiến chống Pháp, dưới sự lãnh đạo của Đảng cộng sản Việt Nam. Sau năm 1954 dưới chế độ Mỹ - Diệm, tại Quận 11 bố trí thêm các khu dân cư như: Phú Bình cho đồng bào miền Bắc di cư vào ở. Khu cư xá Lữ Gia, Lê Đại Hành cho sĩ quan, công chức chế độ cũ về sống.

Trước năm 1958, Quận 11 thuộc địa phận của Quận 4 và Quận 7. Những năm này tại các khu vực thuộc phường 12, 13 ngày nay đã xây dựng một số nhà gạch. Đường Lục Tỉnh được nâng cấp trải nhựa, các khu vực khác như 7 đường Lò Siêu, đường A6 Xóm Đất vẫn còn là nhà lá đơn sơ. Các khu vực thuộc phường 1, 3, 5, 14 ngày nay, trước kia là vùng đất đầm lầy.

Sau đó nhân dân khai phá làm thành những khu vực trồng rau cải với những con rạch chạy dọc theo đường Dương Công Trừng. Khu vực thuộc phường 5 và phường 14 ngày nay, trước kia là vùng trồng hoa lài, sở rác và sân vận động. Năm 1964, linh mục Phạm Ngọc Biểu lập giáo xứ Phú Bình, sửa sang các trại gia binh thành phố sá để bán lại cho những người lao động làm nghề dệt vải, thuộc da, thủy tinh. Năm 1959 Quận 11 thuộc về một phần đất của Quận 5 và Quận 6, lúc đó các con đường lớn và nhà cửa của đồng bào được xây dựng lại, dân cư tập trung đông đảo dọc các con đường lớn như đường Phú Thọ, đường Lò Siêu, đường A6, đường Trần Quốc Toản, đường Quân Sự, đường Dương Công Trừng, đường Trần Hoàng Quân, đường Lê Đại Hành, đường Lữ Gia, đường Nguyễn Văn Thoại, đường Phó Cơ Điều, đường Tôn Thọ Tường, đường Thuận Kiều, đường Hương Lộ 14.

Đến ngày 1-7-1969, chính quyền Sài Gòn đã ký nghị định thành lập Quận 11 trên cơ sở tách 6 phường thuộc Quận 5 và Quận 6 gồm các phường: phường Cầu Tre, Phú Thọ, Bình Thới, Phú Thạnh, Bình Thạnh, Phú Hòa, sáp nhập lại với mục đích chính là tạo một đơn vị hành chính, quân sự dùng làm "lá chắn" để bảo vệ cửa ngõ phía Tây Nam Sài Gòn. Quận 11 là quận có thế mạnh về sản xuất CN - TTCN so với các quận huyện khác của Thành phố. Đội ngũ lao động có tay nghề kỹ thuật khá (chiếm 34%), riêng khu vực tiểu thủ công nghiệp có trên 4000 lao động có tay nghề từ 10 năm trở lên, 3.600 cơ sở sản xuất lớn nhỏ tập trung vào các ngành chế tạo và sửa chữa thiết bị máy móc, hóa chất, vật liệu xây dựng, chế biến lương thực, thực phẩm, dệt, da, may mặc, in ấn. và trên 42 nhà máy Trung ương đóng trên địa bàn Quận 11 (theo số liệu chi cục Thành phố Hồ Chí Minh, tính đến năm 1986).

MộT Số KINH NGHIệM LãNH ĐạO XÂY DựNG Và PHáT TRIểN KINH Tế - Xã HộI của Đảng bộ Quận 11 (1975 - 1985) 1. Thời kỳ 1975 - 1980 Đại hội IV của Đảng cộng sản Việt Nam (12-1976) xác định đường lối chung về xây dựng chủ nghĩa xã hội và đường lối xây dựng kinh tế thời kỳ 1976 - 1980. Nội dung cơ bản về công nghiệp hóa xã hội chủ nghĩa ở nước ta được Đảng xác định "Đẩy mạnh công nghiệp hóa xã hội chủ nghĩa là nhiệm vụ trung tâm của cả thời kỳ quá độ". "Đẩy mạnh công nghiệp hóa xã hội chủ nghĩa, xây dựng cơ sở vật chất - kỹ thuật của chủ nghĩa xã hội, đưa nền kinh tế nước ta từ sản xuất nhỏ lên sản xuất lớn xã hội chủ nghĩa, ưu tiên phát triển công nghiệp nặng một cách hợp lý trên cơ sở phát triển nông nghiệp và công nghiệp nhẹ" [14, 29-30].

Về nhiệm vụ cải tạo quan hệ sản xuất cũ ở miền Nam, Nghị quyết Đại hội IV chỉ rõ: "Xóa bỏ triệt để quyền chiếm hữu phong kiến về ruộng đất và những tàn tích bóc lột phong kiến, quốc hữu hóa những cơ sở công thương nghiệp của tư sản mại bản. tiến hành cải tạo xã hội chủ nghĩa đối với tư bản tư doanh, đối với nông nghiệp, thủ CN - TTCN. Chính sách cải tạo xã hội chủ nghĩa đối với những thành phần này là: "Sử dụng, hạn chế và cải tạo công nghiệp tư bản tư doanh chủ yếu bằng hình thức công tư hợp doanh.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ