Luận văn: Đảng bộ huyện Trấn Yên (Yên Bái) lãnh đạo thực hiện chính sách xã hội 2015-2020

Đảng bộ Trấn Yên đã lãnh đạo hiệu quả chính sách xã hội giai đoạn 2015-2020, tập trung vào nâng cao đời sống nhân dân và phát triển cộng đồng.

Trường đại học

Trường Chính trị tỉnh Yên Bái

Chuyên ngành

Lịch sử Đảng

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Đề tài nghiên cứu

2021

85
1
0

Phí lưu trữ

30 Point

Tóm tắt

I. Tổng quan về Đảng bộ Trấn Yên lãnh đạo chính sách xã hội

Chính sách xã hội là bộ phận quan trọng trong hệ thống đường lối của Đảng Cộng sản Việt Nam. Đảng xác định chính sách xã hội đúng đắn, công bằng vì con người là động lực mạnh mẽ phát huy mọi năng lực sáng tạo của nhân dân. Huyện Trấn Yên thuộc tỉnh Yên Bái, là địa bàn chiến lược quan trọng về kinh tế - xã hội, quốc phòng - an ninh. Đây là nơi cư trú của nhiều dân tộc với trình độ phát triển không đồng đều. Trong giai đoạn 2015-2020, Đảng bộ huyện Trấn Yên thực hiện Nghị quyết Đại hội Đảng bộ huyện lần thứ XXI. Mục tiêu trọng tâm là phát triển kinh tế gắn với đảm bảo an sinh xã hội. Đảng bộ chỉ đạo phát huy truyền thống tương thân tương ái và đạo lý Uống nước nhớ nguồn. Công tác xóa đói giảm nghèo, chăm sóc gia đình thương binh liệt sĩ được đẩy mạnh. Nhờ đó đời sống vật chất, tinh thần của nhân dân không ngừng cải thiện. Tỷ lệ hộ nghèo giảm mạnh từ 28,01% năm 2015 xuống còn 2,55% vào cuối năm 2020.

1.1. Vị trí địa lý và đặc điểm huyện Trấn Yên

Huyện Trấn Yên là một trong chín đơn vị hành chính của tỉnh Yên Bái. Địa bàn này có vị trí chiến lược quan trọng về kinh tế, quốc phòng và đối ngoại. Trấn Yên là nơi cư trú của nhiều dân tộc thiểu số với trình độ phát triển không đồng đều. Địa hình chủ yếu là đồi núi, điều kiện tự nhiên còn nhiều khó khăn. Chính vì vậy Tỉnh ủy và UBND tỉnh đã có nhiều chính sách hỗ trợ. Huyện được đầu tư nguồn lực để phát triển kinh tế, thoát khỏi tình trạng kém phát triển. Vị trí địa lý既是 thuận lợi vừa là thách thức trong quá trình triển khai chính sách xã hội tại địa phương.

1.2. Cơ sở lý luận về chính sách xã hội của Đảng

II. Phân tích thực trạng chính sách xã hội tại Trấn Yên

Giai đoạn 2015-2020, huyện Trấn Yên đạt được nhiều thành tựu đáng kể trong thực hiện chính sách xã hội. Kinh tế - xã hội phát triển ổn định, cơ cấu kinh tế chuyển dịch đúng hướng. Tái cơ cấu ngành nông nghiệp gắn với xây dựng nông thôn mới đạt kết quả nổi bật. Trấn Yên trở thành điểm sáng trong phong trào xây dựng nông thôn mới của tỉnh và khu vực Tây Bắc. Tuy nhiên nhiều thách thức vẫn tồn tại. Tỷ lệ hộ nghèo năm 2015 còn cao với 6.229 hộ, chiếm 28,01%. Tình trạng thiếu việc làm, thiếu kiến thức sản xuất phổ biến ở vùng nông thôn, miền núi. Các tệ nạn xã hội và hoạt động phản văn hóa gắn với mặt trái cơ chế thị trường gây bất ổn. Chất lượng nguồn nhân lực còn thấp, chưa đáp ứng yêu cầu phát triển. Việc triển khai chính sách đối với người có công còn gặp khó khăn. Công tác đào tạo nghề cho lao động nông thôn cần được đẩy mạnh hơn nữa.

2.1. Thành tựu đạt được trong giai đoạn 2015 2020

Trong nhiệm kỳ Đại hội Đảng bộ huyện lần thứ XXI, kinh tế Trấn Yên luôn giữ nhịp độ tăng trưởng khá. Môi trường đầu tư kinh doanh được cải thiện rõ rệt. Kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội được đầu tư đồng bộ. Toàn huyện đã thực hiện đào tạo nghề cho 28.752 lao động. Trong đó đào tạo nghề theo Quyết định 1956 cho gần 6.000 lao động. Đào tạo xã hội hóa gần 23.000 lao động. Bình quân mỗi năm có hàng nghìn lao động được tạo việc làm mới. Tỷ lệ hộ nghèo giảm mạnh, đời sống nhân dân được cải thiện rõ rệt.

2.2. Những khó khăn và thách thức đặt ra

Địa bàn huyện Trấn Yên có nhiều dân tộc thiểu số sinh sống, trình độ không đồng đều. Điều kiện tự nhiên đồi núi gây khó khăn trong tiếp cận dịch vụ công. Nguồn lực đầu tư cho chính sách xã hội còn hạn chế. Nhận thức của một bộ phận nhân dân về chủ trương chính sách còn chưa đầy đầy đủ. Tình trạng chênh lệch giàu nghèo giữa các vùng vẫn tồn tại. Tệ nạn xã hội và hoạt động phản văn hóa chưa được kiểm soát triệt để. Công tác phối hợp giữa các ban ngành đoàn thể đôi khi chưa đồng bộ. Đây là những rào cản cần được giải quyết trong thời gian tới.

III. Giải pháp lãnh đạo chính sách xã hội của Đảng bộ Trấn Yên

Đảng bộ huyện Trấn Yên triển khai nhiều giải pháp đồng bộ để thực hiện chính sách xã hội hiệu quả. Trước hết là đổi mới phương thức cung ứng dịch vụ công phù hợp với cơ chế thị trường. Đảng bộ Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể nhân dân phối hợp thực hiện tốt công tác an sinh xã hội. Giải pháp then chốt là đào tạo nghề cho lao động nông thôn. Toàn huyện đào tạo nghề cho 28.752 lao động trong giai đoạn 2015-2020. Công tác xóa nhà dột nát được đẩy mạnh với 338 nhà hộ nghèo được hỗ trợ. Hỗ trợ nhà ở tạo điều kiện cho hộ nghèo yên tâm lao động sản xuất. Đảng bộ chỉ đạo kiên trì đấu tranh hạn chế tệ nạn xã hội. Các hoạt động thiện nguyện, chăm sóc gia đình chính sách trở thành nét đẹp văn hóa. Giải pháp giảm nghèo bền vững được coi là ưu tiên hàng đầu. Đảng bộ trang bị kiến thức, kỹ thuật sản xuất để người lao động tự vươn lên thoát nghèo bằng nội lực.

3.1. Đào tạo nghề và giải quyết việc làm

Đào tạo nghề được Đảng bộ Trấn Yên xác định là giải pháp giảm nghèo bền vững. Đây là cách trang bị kiến thức và kỹ thuật sản xuất cho người lao động. Người lao động được trang bị kỹ năng để tự vươn lên thoát nghèo bằng nội lực. Trong nhiệm kỳ 2015-2020, toàn huyện đào tạo nghề cho 28.752 lao động. Đào tạo nghề theo Quyết định 1956 cho gần 6.000 lao động. Đào tạo xã hội hóa gần 23.000 lao động. Bình quân mỗi năm số lao động được tạo việc làm mới đạt con số ấn tượng. Kết quả này góp phần giảm tỷ lệ hộ nghèo đáng kể.

3.2. Hỗ trợ nhà ở và xóa đói giảm nghèo

Chính sách hỗ trợ nhà ở cho hộ nghèo được triển khai tích cực. Tổng cộng 338 nhà dột nát của hộ nghèo được xóa bỏ với kinh phí 2.863 triệu đồng. Theo Quyết định 33/2015/QĐ-TTg hỗ trợ 276 nhà. Các tổ chức doanh nghiệp hỗ trợ 62 nhà. Năm 2016 thực hiện xóa nhà dột nát 47 nhà. Năm 2017 hỗ trợ 97 hộ nghèo theo Quyết định 33. Việc có nhà ở an toàn giúp hộ nghèo yên tâm lao động sản xuất. Họ tích cực phát triển kinh tế gia đình vươn lên thoát nghèo bền vững.

IV. Kết quả và bài học kinh nghiệm từ chính sách xã hội Trấn Yên

Kết quả đạt được trong giai đoạn 2015-2020 là rất đáng ghi nhận. Tỷ lệ hộ nghèo giảm mạnh từ 28,01% năm 2015 xuống còn 2,55% vào cuối năm 2020. Thu nhập bình quân đầu người tăng từ 10 triệu đồng năm 2015 lên mức cao hơn nhiều. Đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân được cải thiện rõ rệt. Kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội được đầu tư đồng bộ. Phong trào xây dựng nông thôn mới đạt kết quả nổi bật. Bài học kinh nghiệm quan trọng là sự lãnh đạo xuyên suốt của Đảng bộ. Việc phát huy truyền thống tương thân tương ái tạo sức mạnh cộng đồng. Đào tạo nghề là giải pháp cốt lõi để giảm nghèo bền vững. Công tác phối hợp giữa các ban ngành đoàn thể cần được tăng cường. Ứng dụng mô hình Trấn Yên vào các địa phương khác cần được nghiên cứu. Đảng bộ tiếp tục đổi mới phương thức cung ứng dịch vụ công. Mục tiêu là nâng cao chất lượng cuộc sống và hạnh phúc nhân dân theo tinh thần Đại hội XIII.

4.1. Kết quả nổi bật đạt được

Tỷ lệ hộ nghèo giảm mạnh là kết quả nổi bật nhất trong giai đoạn 2015-2020. Từ 6.229 hộ nghèo năm 2015, đến cuối năm 2020 chỉ còn 1.095 hộ. Tỷ lệ giảm từ 28,01% xuống còn 2,55%, vượt mục tiêu đề ra. Thu nhập bình quân đầu người tăng đáng kể so với năm 2015. Hệ thống hạ tầng kinh tế xã hội được đầu tư hiện đại. Phong trào xây dựng nông thôn mới đưa Trấn Yên thành điểm sáng của tỉnh. Công tác đào tạo nghề tạo sinh kế bền vững cho hàng nghìn lao động.

4.2. Bài học kinh nghiệm và hướng phát triển

Bài học đầu tiên là vai trò lãnh đạo xuyên suốt của Đảng bộ trong thực hiện chính sách xã hội. Sự phối hợp đồng bộ giữa Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể tạo sức mạnh tổng hợp. Phát huy nội lực của nhân dân là yếu tố quyết định thành công. Đào tạo nghề phải gắn với nhu cầu thực tế của thị trường lao động. Hướng phát triển thời gian tới là tiếp tục đổi mới phương thức cung ứng dịch vụ công. Đảng bộ cần đẩy mạnh ứng dụng công nghệ trong quản lý chính sách xã hội. Mục tiêu là nâng cao chất lượng cuộc sống, thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội.

Tóm tắt và mô tả trên trang này được tạo với sự hỗ trợ của AI từ nội dung tài liệu gốc; tài liệu do người dùng đóng góp và được kiểm duyệt trước khi xuất bản. Báo lỗi nội dung.

28/05/2026
Luận văn đảng bộ huyện trấn yên lãnh đạo một số chính sách xã hội

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ CHÍNH SÁCH XÃ HỘI 1.1 MỘT SỐ KHÁI NIỆM CƠ BẢN 1.1 Khái niệm chính sách xã hội Chính sách xã hội (CSXH) là một khái niệm không mang tính hệ thống mà mang tính lịch sử. Có nhiều cách định nghĩa khác nhau về CSXH, tùy theo góc độ nghiên cứu, tiếp cận vấn đề "xã hội" theo nghĩa rộng hay hẹp. Theo nghĩa rộng, CSXH là quan điểm, đường lối phát triển tổng thể mọi mặt đời sống xã hội con người, mà thực chất là phát triển một chế độ xã hội. Còn theo nghĩa hẹp, CSXH là chính sách quản lý và giải quyết các vấn đề xã hội - một phân hệ lĩnh vực trong hệ thống quản lý và phát triển quốc gia, cùng với các chính sách phát triển chính trị, kinh tế, văn hóa, quốc phòng, an ninh, đối ngoại… Theo Từ điển Bách khoa Việt Nam: CSXH là một bộ phận cấu thành chính sách chung của một chính đảng hay chính quyền nhà nước trong việc giải quyết và quản lý các vấn đề xã hội.

CSXH bao trùm mọi mặt của cuộc sống con người, điều kiện lao động và sinh hoạt, giáo dục và văn hóa, quan hệ gia đình, quan hệ giai cấp và quan hệ xã hội1. Trong Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI của Đảng (12-1986) chỉ rõ: “CSXH bao trùm mọi mặt của cuộc sống con người: điều kiện lao động và sinh hoạt, giáo dục và văn hoá, quan hệ gia đình, quan hệ giai cấp, quan hệ dân tộc. Như vậy, đặc điểm của chính sách xã hội là loại chính sách điều chỉnh quan hệ xã hội, giải quyết các vấn đề xã hội đang đặt ra, thực hiện những mục tiêu đã được xác định trước. Do đó, chủ thể tham gia thực hiện chính sách xã hội là Nhà nước, các tổ chức chính trị - xã hội, các đoàn thể xã hội, các tổ chức phi chính phủ và các cá nhân làm từ thiện.

Khách thể của chính sách xã hội gồm: những người mất điều kiện làm việc, mất điều kiện sống bình thường, người thuộc diện ưu đãi xã hội và những điều kiện kinh tế - xã hội tạo nên sự bất công, bất bình đẳng xã hội cho một hoặc một số nhóm xã hội nào đó.2 Khái niệm chính sách an sinh xã hội Theo tiếng Anh, an sinh xã hội (ASXH) thường được gọi là Social Security và khi dịch ra tiếng Việt, ngoài ASXH thì thuật ngữ này còn được dịch là bảo đảm 1 Hội đồng quốc gia biên soạn Từ điển Bách khoa Việt Nam:Từ điển Bách khoa Việt Nam, Hà Nội, 1995, tập 1, tr. 2 Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI. Nxb Sự thật, H, 1987, tr. 86 xã hội, bảo trợ xã hội, an ninh xã hội, an toàn xã hội… với những ý nghĩa không hoàn toàn tương đồng nhau.

Theo nghĩa chung nhất, Social Security là sự đảm bảo thực hiện các quyền của con người được sống trong hòa bình, được tự do làm ăn, cư trú, di chuyển, phát biểu chính kiến trong khuôn khổ luật pháp; được bảo vệ và bình đẳng trước pháp luật; được học tập, được có việc làm, có nhà ở; được đảm bảo thu nhập để thoả mãn những nhu cầu sinh sống thiết yếu khi bị rủi ro, tai nạn, tuổi già… Trong Đạo luật về ASXH của Mỹ, ASXH được hiểu khái quát hơn, đó là sự bảo đảm của xã hội, nhằm bảo tồn nhân cách cùng giá trị của cá nhân, đồng thời tạo lập cho con người một đời sống sung mãn và hữu ích để phát triển tài năng đến tột độ. Để dễ thống nhất, có thể sử dụng khái niệm của Tổ chức lao động quốc tế (ILO): ASXH là sự bảo vệ của xã hội đối với các thành viên của mình thông qua một loạt biện pháp công cộng, nhằm chống lại những khó khăn về kinh tế và xã hội do bị ngừng hoặc giảm thu nhập, gây ra bởi ốm đau, thai sản, tai nạn lao động, thất nghiệp, thương tật, tuổi già và chết; đồng thời đảm bảo các chăm sóc y tế và trợ cấp cho các gia đình đông con. Ở Việt Nam, các trụ cột cơ bản của hệ thống ASXH gồm tạo việc làm, bảo hiểm xã hội, trợ giúp xã hội và giảm nghèo do Nhà nước làm chủ đạo, tạo ra một lưới an toàn nhiều tầng cho tất cả các thành viên, các nhóm xã hội, nhất là các đối tượng yếu thế, dễ bị tổn thương khi bị suy giảm hoặc mất nguồn thu nhập, khi gặp rủi ro, hoạn nạn, đau ốm, bệnh tật,. ASXH còn nhằm nâng cao khả năng ứng phó khi mất việc làm, đảm bảo cuộc sống ổn định cho người dân, và vì vậy, ASXH góp phần quan trọng vào phát triển xã hội bền vững.

Trong bối cảnh đại dịch Covid-19 đang tàn phá mạnh mẽ trên quy mô toàn cầu, kinh tế suy thoái và tình hình an ninh quốc tế biến động khó lường, ASXH trở thành một trụ cột quan trọng, góp phần ổn định chính trị-xã hội ở nhiều quốc gia, khu vực trên thế giới. ASXH ngày nay được đảm bảo và trở thành quyền hiến định tại điều 34 của Hiến pháp 2013: “Công dân có quyền được đảm bảo an sinh xã hội”. Chiến lược an sinh xã hội giai đoạn 2011-2020 xác định: “An sinh xã hội là sự bảo đảm mà xã hội cung cấp cho mọi thành viên trong xã hội thông qua việc thực thi hệ thống các cơ chế, chính sách và biện pháp can thiệp trước các nguy cơ, rủi ro có thể dẫn đến suy giảm hoặc mất đi nguồn sinh kế”. Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng đã nêu rõ một trong những định hướng phát triển đất nước giai đoạn 2021-2030, đó là “Quản lý phát triển xã hội có hiệu quả, nghiêm minh, bảo đảm an ninh xã hội, an ninh con người; thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội; quan tâm đến mọi người dân, bảo đảm chính sách lao động, việc làm, thu nhập, thực hiện tốt phúc lợi xã hội, an sinh xã hội.

Không ngừng cải thiện toàn diện đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân”. Văn kiện Đại hội XIII của Đảng còn đề cập khá cụ thể những vấn đề cần tiếp tục đổi mới như chính sách bảo hiểm thất nghiệp, giải quyết việc làm cho lao động khu vực phi chính thức; thực hiện các biện pháp chính sách về dinh dưỡng, an toàn thực phẩm,. Qua đó, xác định đúng vị trí, vai trò của ASXH đối với sự phát triển đất nước, phù hợp với tình hình mới, là cơ sở và điều kiện để người dân được thụ hưởng nhiều hơn thành quả tăng trưởng kinh tế ở Việt Nam. Như vậy, về mặt bản chất, ASXH là góp phần đảm bảo thu nhập và đời sống cho các công dân trong xã hội.

Phương thức hoạt động là thông qua các biện pháp công cộng. Mục đích là tạo ra sự “an sinh” cho mọi thành viên trong xã hội và vì vậy mang tính xã hội, tính nhân văn sâu sắc.3 Khái niệm tiến bộ xã hội Các nhà kinh điển của chủ nghĩa Mác - Lênin xem tiến bộ xã hội ( TBXH ) ở nghĩa bao quát nhất là sự vận động của xã hội loài người từ hình thái kinh tế - xã hội này lên hình thái kinh tế - xã hội khác cao hơn, hoàn thiện hơn cả về cơ sở hạ tầng lẫn kiến trúc thượng tầng về pháp lý, chính trị và các hình thái ý thức xã hội. Mỗi hình thái kinh tế - xã hội tương đương với một chế độ xã hội trong chính thể của nó. Sự thay thế một chế độ cũ đã lỗi thời bằng một chế độ xã hội mới tiến bộ hơn cuối cùng phải nhằm phục vụ cho sự phát triển của con người ở những mức độ khác nhau.

Đây là cách tiếp cận khái niệm TBXH theo nghĩa rộng. Trong Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội năm 1991 và Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX (2001), khi Đảng Cộng sản Việt Nam khẳng định, nước ta quá độ lên CNXH bỏ qua chế độ tư bản chủ nghĩa (TBCN), tạo ra sự chuyển biến về chất của xã hội trên tất cả các lĩnh vực, thì điều đó cũng chính là hướng thực hiện mục tiêu TBXH theo nghĩa rộng. Căn cứ vào những quan điểm nêu trên của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh cũng như của Đảng Cộng sản Việt Nam, đồng thời xuất phát từ thực tiễn đất nước, đặt trong bối cảnh của thế giới ngày nay thì tiêu chí của TBXH theo nghĩa rộng trong thời kỳ quá độ đi lên CNXH ở nước ta như sau: Một là, kinh tế tăng trưởng nhanh, có chất lượng cao và bền vững trên cơ sở lực lượng sản xuất hiện đại và quan hệ sản xuất phù hợp với tính chất và trình độ của lực lượng sản xuất. Đây là tiêu chí kinh tế, là thước đo có ý nghĩa nền tảng của TBXH.

Hai là, quyền làm chủ của Nhân dân đối với mọi mặt đời sống xã hội được đảm bảo; Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa (XHCN) của Nhân dân, do Nhân dân và vì Nhân dân trong sạch, vững mạnh. Đây là tiêu chí chính trị, là thước đo dân chủ và kỷ cương của TBXH. Ba là, văn hoá, giáo dục, khoa học được mở mang, trình độ dân trí phát triển, quan hệ giữa con người với con người lành mạnh, những thói hư, tật xấu bị đẩy lùi. Đây là tiêu chí tinh thần, là thước đo trí tuệ và đạo đức của TBXH.

Bốn là, môi trường sinh thái được cải thiện. Đây là tiêu chí về điều kiện tự nhiên, là thước đo có ý nghĩa sống còn không chỉ đối với tồn tại xã hội mà cả với TBXH. Năm là, con người từng bước được giải phóng khỏi áp bức, bóc lột, bất công; có cuộc sống ngày càng ấm no, tự do, hạnh phúc; có điều kiện dần dần phát triển toàn diện cá nhân. Đây là tiêu chí trung tâm, là thước đo nhân văn của TBXH.

Trong mấy thập niên gần đây Liên hợp quốc còn có cách tiếp cận khái niệm TBXH theo nghĩa hẹp: TBXH là sự vận động, phát triển đi lên của lĩnh vực xã hội trong tương quan với các lĩnh vực chính trị, kinh tế, văn hoá của một xã hội tổng thể. Khái niệm công bằng xã hội Trong mọi thời đại, giá trị công bằng xã hội (CBXH) luôn được nhân loại quan tâm, họ đấu tranh cũng vì khát khao muốn có một xã hội công bằng và bình đẳng. Vì vậy CBXH trở thành tâm điểm chú ý của không ít các nhà tư tưởng mọi thời đại.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ