mở đầu cuộc xâm lược của thực dân phương Tây ở Việt Nam, uy hiếp cửa ngõ phía Nam của kinh đô Huế, đe dọa sự tồn vong của triều đình nhà Nguyễn. Tháng 6/1884, triều đình nhà Nguyễn kí Hiệp ước Patonốt và Hác măng, từ đó Pháp từng bước thiết lập bộ máy thống trị ở Việt Nam, biến một quốc gia phong kiến thành thuộc địa nửa ! Hồ Chí Minh (2002): 7øàn rập, NXBCTQG, H, tập 12, tr. Cuộc khai thác thuộc địa của thực dân Pháp ở Việt Nam đã làm xã hội Việt Nam biến đổi sâu sắc cả về kinh tế, chính trị, văn hoá — xã hội. s* Về kinh tế: Thực dân Pháp tiền hành cuộc khai thắc thuộc địa Đông Dương lần thứ nhất (1897 - 1914); khai thác thuộc địa lần thứ hai (1919- 1929), trong đó lây Việt Nam là trọng điểm.
Tư bản Pháp bỏ vốn nhiều nhất vào nông nghiệp (lập các đồn điền cao su, cà phê, chè.) và ngành khai mỏ (chủ yếu là than, sắt, thiếc, vàng.) để thu lợi nhuận nhiều và nhanh. Tư bản Pháp xây đựng ngành giao thông vận tải đường bộ, đường sắt, phát triển các cơ sở công nghiệp chế biến; độc quyền ngoại thương. Ngân hàng Đông Dương của Pháp độc quyền tài chính, đặt ra hàng trăm thứ thuế, tàn ác nhất là thuế thân; thí hành rộng rãi chính sách cho vay nặng lãi. Thực dân Pháp du nhập phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa vào Việt Nam làm quan hệ kinh tế nông thôn bị phá vỡ, hình thành lên nhiều đô thị mới, những trung, tâm kinh tế và tụ điểm cư dân mới.
Tuy nhiên thực dân không du nhập hoàn toàn phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa vào nước ta mà vấn duy trì quan hệ kính tế phong kiến làm cho nền kinh tế của Việt Nam không phát triển bình thường lên chủ nghĩa tư bản được mà phát triển một cách quẻo quặt, lạc hậu, phụ thuộc vào kinh tế Pháp. s+ Về chính trị: Bên cạnh bộ máy thực dân Pháp cho thiết lập ở Việt Nam một chế độ chuyên chế điển hình. Với quyền hành đều nằm trong tay người Pháp, vua quan nhà Nguyễn chỉ là bù nhìn. Chúng tiến hành chính sách “chia đề trị”, chia nước ta làm ba kỳ, mỗi kỳ đặt một chế độ cai trị riêng và nhập ba kỳ đó với nước Lào và nước Cam-Pu-Chia để lập ra liên bang Đông Dương thuộc Pháp để xoá bỏ tên nước Việt Nam, Lào, Cam-Pu-Chia trên bản đồ thế giới.
Đồng thời chúng còn gây chia rẽ dân tộc thù hận giữa ba miền, giữa các tôn giáo, các dân tộc, các đảng phái. Dưới chế độ cai trị của thực dân Pháp, người Việt Nam mất hết mọi quyền tự do dân chủ, đất nước Việt Nam mất độc lập. s* Về văn hoá - xã hội: Thực dân Pháp thi hành cách ngu dân triệt để để giam hãm, đầu độc nhân dân ta trong vòng tăm tối. Chúng xây dựng nhà tù nhiều hơn trường học.
Trong các trường học chúng mở dạy tiếng Pháp nhằm đào tạo một đội ngũ tay sai ở thuộc địa. Chúng còn có những chính sách bưng bít, ngăn cản ảnh hưởng văn hoá tiên bộ trên thế giới, kể cả văn hoá xã hội Pháp, chúng khuyến khích phát triển văn hoá đồ truy, mê tín dị đoan. Kết quả là hơn 90% nhân dân ta bị mù chữ, bị bưng bít mọi thông tin tiền bộ từ bên ngoài. Dưới sự thống trị của thực dân Pháp, tính chất xã hội Việt Nam đã thay đôi: Việt Nam từ xã hội phong kiến trở thành xã hội thuộc địa, nửa phong kiến.
Sau khi chúng ta trở thành thuộc địa nửa phong kiến thì nước ta có nhiều thay đối rõ rệt. Việc thay đôi này xảy ra hầu hết tất cả các phương diện. Tiêu biểu nhất là ở mặt kinh tế. Chế độ Tư bản chủ nghĩa theo Thực dân Pháp đã xâm nhập vào Việt Nam giúp cho kinh tế hàng hoá và kinh tế tiền tệ (hàng hoá đa dạng hơn, ngân hàng Đông Dương được thành lập) đã dần dần đây lùi và tiêu điệt nền kinh tế tự cấp tự cung - nên kinh tế vốn tổn tại hơn ngàn năm qua.
Đã tạo ra nền kinh tế mới, nền kinh tế vừa mang đáng vóc của Phong kiến cô xưa, vừa mang dáng vóc của Tư bản chủ nghĩa năng động. Cũng nhờ đó các ngành công nghiệp đã ra đời: khai thac mỏ, giao thông vận tái. Quan hệ ruộng đất cũng không còn giữ nguyên hiện trang của nó ( nhiều giếng cây công nghiệp được trồng như: Cao su, cà phê,. Hình thức bóc lột của giai cấp địa chủ cũng thay đôi thấy rõ ( họ lập nên các vườn cao su bắt tá điền bỏ cày cấy mà vào các vườn cao su để cạo múủ,.) Sự phân hoá giai cấp và mâu thuẫn sâu sắc trong xã hội cũng là một nét nỗi bật của kiểu nhà nước thuộc địa nửa phong kiến.
Các giai cấp cũ như: tá điền vốn nghèo nay còn bần cùng hơn nữa; Địa chủ thì chia nhỏ ra làm ba nhóm: 7 dai địa chủ - có nhiều ruộng đất nhưng thường lam tay sai cho giặc, không có tỉnh thần dân tộc, trung và tiểu địa chủ thì có ruộng đất nhưng ít, không hợp tác với giặc, có tình thần dân tộc cao. Trong khoảng thời gian này, rất nhiều giai cấp mới được hình thành : công nhân, tư sản, tiêu tư sản thành thị,. Phương diện chính trị cũng là một nét đặc trưng cho kiểu nhà nước thuộc địa, nửa phong kiến. Trước đây, vào thời kì phong kiến thì giai cấp đại chủ nắm mọi quyền lực trong bộ máy chính quyền nhà nước.
Nhưng khi Thực dân Pháp xâm lược nước ta, quyền lực nhà nước thuộc về tư sản nước ngoài. CHúng nắm mọi việc: quân sự, hành chánh, thương mại, tiền tệ,tư pháp. Chúng chỉ phối toàn bộ hệ thống vua quan nhà Nguyễn biến triều đình nhà Nguyễn thành tay sai đắc lực cho chúng trong việc vơ vét, bóc lột và đàn áp nhân dân ta. Giai cấp địa chủ, đa số là địa chủ nhỏ và vừa có tỉnh thân yêu nước, căm ghét, vừa có tính thần dân tộc chéng Phap, số dai dia chủ, tay sai, chỗ dựa của thực dân Pháp là đối tượng của cách mạng.
Giai cấp nông dân chiếm hơn 90% dân số, bị để quốc, địa chủ, phong kiến bóc lột, cuộc sống cực khô nên rất tích cực chống để quốc và phong kiến. Tầng lớp tiêu tư sản gồm người buôn bản nhỏ, viên chức, trí thức, học sinh, sinh viên. phát triển khá nhanh. Họ nhạy cảm trước thời cuộc, đời sống rat bap bênh nên hăng hai đấu tranh và là lực lượng quan trọng của cách mạng.
Giai cap tư sản Việt Nam ra đời trong cuộc khai thác thuộc địa lần thứ hai của thực đân Pháp. Một bộ phận tư sản mại bản có quyền lợi gắn với Pháp, trở thành tay sai của chúng. Bộ phận tư sản còn lại, thế lực kính tế nhỏ bé, bị tư sản nước ngoài chèn ép nên có tỉnh thần dân tộc, dân chủ, có thể di với cách mạng. Giai cap công nhân Việt Nam ra đời trong cuộc khai thác thuộc dia lần thứ nhất của thực dân Pháp (1897 - 1914) và phát triển khá nhanh.
Năm 1914 khoảng 10 vạn, đến năm 1929 tăng lên 22 vạn. Giai cấp công nhân Việt Nam 8 tuy số lượng ít, ra đời muện so với công nhân nhiều nước nhưng mang đây đủ đặc điểm chung của giai cấp công nhân quốc tế là có tính chất tiên tiến, triệt để cách mạng, tính ký luật và tính chất quốc tế. Tình hình giai cấp và mâu thuân cơ bản trong xã hội Việt Nam đưới sự thong tri của thực dân Pháp Dưới tác động của chính sách cai trị và chính sách kinh tế, văn hoá, giáo dục thực dân, xã hội Việt Nam đã diễn ra quá trình phân hóa sâu sắc. Giai cấp địa chủ câu kết với thực dân Pháp tăng cường bóc lột, áp bức nông dân.
Tuy nhiên, trong nội bộ địa chủ Việt Nam lúc này có sự phân hóa. Một bệ phận địa chủ có lòng yêu nước, căm ghét chế độ thực dân đã tham gia dau tranh chống Pháp dưới các hình thức và mức độ khác nhau. Giai cap nông dân là lực lượng đông đảo nhất trong xã hội Việt Nam, bị thực dân và phong kiến áp bức, bóc lột nặng nề. Tình cảnh bằn cùng khốn khỗ của giai cấp nông dân Việt Nam đã làm tăng thêm lòng căm thù để quốc và phong kiến tay sai, tăng thêm ý chí cách mạng của họ trong cuộc đấu tranh giảnh lại ruộng đất và quyền sống tự do.
Giai cấp công nhân Việt Nam ra đời từ cuộc khai thác thuộc địa lần thứ nhất của thực dân Pháp, đa số xuất thân từ giai cấp nông dân, có quan hệ trực tiếp và chặt chế với giai cấp nông dân, bị để quốc, phong kiến áp bức bóc lột. Giai cấp tư sản Việt Nam bị tư sản Pháp và tư sản người Hoa cạnh tranh chèn ép, do đó thế lực kinh tế và địa vị chính trị nhỏ bé và yếu ớt, có tỉnh thần dân tộc và yêu nước ở mức độ nhất định. Tầng lớp tiểu tư sản Việt Nam bao gồm học sinh, trí thức, những người làm nghề tự do. đời sống bấp bênh, đễ bị phá sản trở thành người vô sản, có lòng yêu nước, căm thù để quốc, thực dân, có khả năng tiếp thu những tư tưởng tiến bộ từ bên ngoài truyền vào.
Các giai cấp, tầng lớp trong xã hội Việt Nam lúc này đều mang thân phận người dân mắt nước và ở những mức độ khác nhau, đều bị thực dân áp bức, bóc lột. Vì vậy, trong xã hội Việt Nam, ngoài mâu thuẫn cơ bản giữa Nhân dân, chú yếu là nông dân với giai cấp địa chủ và phong kiến, đã nảy sinh mâu thuẫn vừa cơ bản vừa chủ yếu và ngày càng gay gắt trong đời sống dân tộc, đó là mâu thuẫn giữa toàn thể Nhân dan Viét Nam với thực dân Pháp xâm lược. Tính chất của xã hội Việt Nam là xã hội thuộc địa nửa phong kiến đang đặt ra hai yêu cầu: Một là, phải đánh đuôi thực dân Pháp xâm lược, giành độc lập cho dân tộc, tự do cho Nhân dân; Hai là, xóa bỏ chế độ phong kiến, 9 giành quyền dân chủ cho Nhân dân, chủ yếu là ruộng đất cho nông dân. Trong đó, chống dé quốc, giải phóng đân tộc là nhiệm vụ hàng đâu.
Quá trình sàng lọc của lịch sử và dân tộc đối với sự ra đời của Đáng Cộng sản Việt Nam 2. Phong trào yêu nước theo hệ tư tưởng phong kiến 2. Khởi nghĩa Yên Thế (1884— 1913) 2. Nguyên nhân bùng nỗ © - Kinh tế nông nghiệp sa sút, đời sống nhân dân Bắc Kì khó khăn, một bộ phận phải phiêu tán lên Yên Thế, họ sẵn sàng nỗi dậy đấu tranh.