Chủ trương của Đảng đánh thắng chiến lược "Chiến tranh cục bộ" (1965-1968)

Tài liệu phân tích chủ trương và sự chỉ đạo của Đảng trong cuộc kháng chiến chống chiến lược "Chiến tranh cục bộ" của Mỹ giai đoạn 1965-1968.

Chuyên ngành

Lịch sử Đảng

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Khóa luận tốt nghiệp

2021

61
12
0

Phí lưu trữ

30 Point

Tóm tắt

I. Hoàn cảnh lịch sử và bối cảnh chiến tranh cục bộ 1965 1968

Giai đoạn từ 1965 đến 1968 là thời kỳ chiến tranh cục bộ của đế quốc Mỹ tại Việt Nam, khi lực lượng quân sự Mỹ với ưu thế vượt trội về số quân, vũ khí hiện đại, khả năng cơ động cao và hỏa lực mạnh đã trực tiếp can thiệp vào cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước. Giới lãnh đạo Mỹ tự tin rằng sẽ đạt được thắng lợi dễ dàng và nhanh chóng. Tuy nhiên, nhân dân Việt Nam dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản đã phát huy ý chí quyết tâm, vượt qua những khó khăn gian khổ nhất, trực tiếp đương đầu với một siêu cường quân sự. Thời điểm 1965 đánh bại quân đội viễn chinh Mỹ là thử thách lớn chưa có tiền lệ trong lịch sử, mang ý nghĩa sống còn đối với vận mệnh đất nước. Điều này đòi hỏi Đảng phải đề ra chủ trương đường lối phù hợp với thực tiễn lịch sử để lãnh đạo quần chúng nhân dân.

1.1. Ưu thế quân sự của Mỹ trong chiến tranh cục bộ

Mỹ sở hữu lực lượng quân sự khổng lồ gồm lục quân, không quân và hải quân với số lượng binh sĩ lớn, vũ khí hiện đại, đầy đủ và dồi dào. Quân đội Mỹ có khả năng cơ động cao, hỏa lực mạnh mẽ, chiếm ưu thế áp đảo trên không, trên sông và trên biển. Giới lãnh đạo nước Mỹ vô cùng tự tin vào thắng lợi dễ dàng và nhanh chóng đối với Việt Nam.

1.2. Thử thách lịch sử đối với dân tộc Việt Nam

Đánh bại đội quân viễn chinh Mỹ để bẻ gãy ý chí xâm lược của đế quốc Mỹ là một thách thức chưa có tiền lệ. Điều này đặt ra thử thách lớn mang ý nghĩa sống còn đối với toàn dân tộc Việt Nam, yêu cầu sự đoàn kết, hy sinh và nỗ lực phi thường.

II. Chủ trương của Đảng Cộng sản Việt Nam

Với ý trí quyết tâm đánh thắng giặc Mỹ, Đảng Cộng sản Việt Nam đã đề ra chủ trương đường lối phù hợp với thực tiễn lịch sử. Đảng lãnh đạo quần chúng nhân dân đánh thắng chiến lược Chiến tranh cục bộ của Mỹ thông qua các chiến dịch mùa khô năm 1965-1966, 1966-1967 và Tổng tân công nổi dậy Tết Mậu Thân năm 1968. Những thắng lợi này được đạt được sau bốn năm thử thách ác liệt với sự hy sinh không nhỏ, cố gắng phi thường, vượt lên mọi khó khăn gian khổ. Sự chỉ đạo của Đảng là chìa khóa dẫn đến thành công, giúp nhân dân ta hiểu rõ mục tiêu, động lực và con đường đấu tranh. Đảng đã kết hợp hợp lý giữa cuộc kháng chiến tổng thể với cách mạng xã hội, giữa chiến tranh quân sự với đấu tranh chính trị, tạo nên sức mạnh tổng hợp của toàn dân, toàn quân.

2.1. Các chiến dịch quân sự chính

Đảng lãnh đạo thực hiện các chiến dịch mùa khô năm 1965-1966 và 1966-1967 nhằm tiêu diệt quân Mỹ. Điểm nhấn là Tổng tân công nổi dậy Tết Mậu Thân năm 1968, sự kiện lịch sử quan trọng đã làm đảo lộn thế chiến lược của địch, buộc Mỹ phải xuống thang chiến tranh.

2.2. Sự kết hợp giữa các hình thức đấu tranh

Đảng kết hợp hợp lý chiến tranh quân sự với đấu tranh chính trị, kháng chiến tổng thể với cách mạng xã hội. Sự kết hợp này tạo nên sức mạnh tổng hợp của toàn dân, toàn quân, giúp nhân dân phát huy tối đa tiềm lực để chống lại quân Mỹ.

III. Đảng chỉ đạo đánh thắng chiến lược Chiến tranh cục bộ 1965 1968

Thắng lợi của cuộc kháng chiến chống chiến lược Chiến tranh cục bộ đã được Đại hội lần thứ IV của Đảng nhận định, cho rằng thắng lợi này đã làm đảo lộn thế chiến lược của địch, là phá sản chiến lược Chiến tranh cục bộ. Sự kiện này làm lung lay ý chí xâm lược của đế quốc Mỹ, buộc chúng phải xuống thang chiến tranh và ngồi bàn đàm phán với ta tại Hội nghị Paris. Thực tế lịch sử chứng minh, kể từ thất bại Tết Mậu Thân năm 1968, Mỹ buộc phải chấp nhận ký hiệp định rút quân về nước. Sự lãnh đạo của Đảng trong quá trình này là yếu tố then chốt, giúp nhân dân Việt Nam hoàn thành sứ mệnh lịch sử vĩ đại. Từ sự chỉ đạo chiến lược đến tuyên truyền, tổ chức động viên nhân dân, Đảng đã chứng tỏ khả năng lãnh đạo xuất sắc trong kháng chiến chống Mỹ, cứu nước.

3.1. Phá sản chiến lược Chiến tranh cục bộ

Chiến lược Chiến tranh cục bộ của Mỹ nhằm tiêu diệt Việt Cộng từng chút một. Tuy nhiên, sự lãnh đạo và chỉ đạo của Đảng đã giúp nhân dân phát hiện bản chất của chiến lược này, phát động các cuộc tổng tân công nổi dậy làm cho Mỹ phải thay đổi chiến lược, từ đó phá sản hoàn toàn kế hoạch ban đầu của đế quốc.

3.2. Buộc Mỹ phải xuống thang và đàm phán

Sau thất bại Tết Mậu Thân năm 1968, Mỹ nhận thức được không thể chiến thắng bằng quân sự. Sức mạnh của quân và dân Việt Nam dưới sự chỉ đạo của Đảng đã buộc Mỹ phải xuống thang chiến tranh và chấp nhận ngồi bàn đàm phán tại Hội nghị Paris.

IV. Bài học kinh nghiệm từ cuộc kháng chiến chống chiến lược Chiến tranh cục bộ

Quá trình Đảng lãnh đạo chống chiến lược Chiến tranh cục bộ từ 1965 đến 1968 đã tạo ra những bài học kinh nghiệm quý báu cho việc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc ngày nay. Thứ nhất, sự lãnh đạo đúng đắn của Đảng là yếu tố then chốt để đạt thắng lợi trong kháng chiến chống Mỹ, cứu nước. Thứ hai, sự đoàn kết của quân và dân trong cả hai miền Nam-Bắc là sức mạnh không thể chiến thắng. Thứ ba, kết hợp hợp lý giữa chiến tranh quân sự và đấu tranh chính trị, giữa kháng chiến tổng thể và cách mạng xã hội là con đường đúng đắn. Những bài học này không chỉ có ý nghĩa lịch sử mà còn có giá trị thực tiễn cao trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc hiện nay. Việc sáng tỏ hệ thống quá trình này giúp ta hiểu sâu sắc hơn về quá trình kháng chiến chống Mỹ từ 1954-1975 nói chung.

4.1. Vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản

Sự lãnh đạo đúng đắn của Đảng Cộng sản Việt Nam là yếu tố then chốt trong kháng chiến chống chiến lược Chiến tranh cục bộ. Đảng đã đưa ra những chủ trương đường lối phù hợp, tuyên truyền, tổ chức động viên nhân dân, giúp họ hiểu rõ mục tiêu kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, từ đó phát huy tối đa sức mạnh.

4.2. Ứng dụng bài học vào thực tiễn hiện đại

Những bài học kinh nghiệm từ quá trình Đảng lãnh đạo chống chiến lược Chiến tranh cục bộ có giá trị thực tiễn cao, giúp ta trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc hiện nay. Sự đoàn kết quân và dân, kết hợp hợp lý các hình thức đấu tranh là những nguyên tắc cần phải duy trì.

18/12/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

CHƯƠNG 1 CHỦ TRƯƠNG VÀ SỰ CHỈ ĐẠO CỦA ĐẢNG ĐÁNH THẮNG CHIẾN LƯỢC “CHIẾN TRANH CỤC BỘ” CỦA ĐẾ QUỐC MỸ (1965-1968) 1.1 Hoàn cảnh lịch sử 1. Thuận lợi Phong trào giải phóng dân tộc ở châu Á, châu Phi và Mỹ - latinh tấn công mạnh mẽ vào chủ nghĩa thực dân cũ và chủ nghĩa thực dân mới. Với hơn 60 quốc gia có độc lập và có chủ quyền mới ra đời trên thế giới tạo điều kiện mở rộng phong trào không liên kết cũng như hình thành nên tổ chức đoàn kết ba châu Á, Phi và Mỹ - latinh. Hệ thống các nước xã hội chủ nghĩa được củng cố thêm và nối liền từ Âu sang Á và Mỹ La-tinh, là thành trì của hòa bình và an ninh của các dân tộc.

Những thành tựu của Liên Xô trên tất cả các lĩnh vực chính trị, kinh tế, văn hóa, quân sự đặc biệt là thành tựu trong khoa học vũ trụ đã làm cho uy tín của phe xã hội chủ nghĩa tăng lên mạnh mẽ rõ rệt. Ban lãnh đạo mới của Liên Xô đã có nhiều điều chỉnh trong chính sách nhằm ổn định nội bộ và khôi phục uy tín quốc tế; xác định giúp Việt Nam đánh Mỹ không chỉ góp phần đề cao vai trò của Đảng và Nhà nước Xô Viết mà còn giúp cho Liên Xô củng cố sức mạnh trong trật tự thế giới. Công cuộc xây dựng CNXH ở Trung Quốc, mặc dù đời sống chính trị, xã hội đang bị đảo lộn do cuộc cách mạng văn hóa gây ra, nhưng Đảng và Nhà nước vẫn không ngừng giúp đỡ về vật chất và lực lượng làm đường chiến lược, bảo vệ khu vực phía Bắc Hà Nội, tiếp tục ủng hộ sự nghiệp cách mạng của nhân dân hai miền Nam - Bắc Việt Nam. Phương châm giúp Việt Nam chống Mỹ của Trung Quốc là chỉ hành động khi nào vai trò, lợi ích của họ trong việc tập hợp lực lượng phong trào giải phóng dân tộc thế giới và chiến lược lâu dài của họ bị làm phương hại.

Miền Bắc đã trở thành căn cứ địa vững chắc của cách mạng cả nước. 10 Sau khi được hoàn toàn giải phóng, đến đầu năm 1965, dưới sự lãnh đạo của Đảng, nhân dân ta đã hoàn thành cải cách ruộng đất, tiến hành thắng lợi công cuộc cải tạo xã hội chủ nghĩa. Tuy có những sai lầm khuyết điểm nhưng thắng lợi của cải cách ruộng đất và cải tạo xã hội chủ nghĩa đã xóa bỏ chế độ người bóc lột người trong xã hội miền Bắc, mang lại những quyền lợi chính trị, kinh tế to lớn và thiết thực cho hàng triệu công nhân, nông dân và những người lao động khác. Khối đại đoàn kết toàn dân được tăng cường trên cơ sở khối liên minh công nông được củng cố vững chắc.

Tháng 9 năm 1960, Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ III của Đảng đã vạch ra đường lối chung của cả thời kỳ quá độ tiến lên CNXH của miền Bắc; thông qua phương hướng, nhiệm vụ kế hoạch 5 năm lần thứ nhất (1961-1965) đồng thời chỉ ra con đường đấu tranh để giải phóng miền Bắc, thống nhất đất nước. Nghị quyết của Đại hội đã dẫn dắt nhân dân ta hăng hái, phấn khởi, đoàn kết, tin tưởng, ra sức xây dựng miền Bắc xã hội chủ nghĩa. Chế độ chính trị ưu việt cùng với sự phát triển mạnh mẽ về kinh tế, văn hóa, xã hội, quốc phòng, an ninh trên miền Bắc là một đặc điểm rất quan trọng, tạo nên sức mạnh to lớn, đưa miền Bắc trở thành căn cứ địa vững chắc của cách mạng cả nước. Miền Nam trở thành tiền tuyến lớn của cả nước, từng bước đánh bại chiến lược "Chiến tranh đặc biệt" của đế quốc Mỹ.

Dưới sự lãnh đạo của Đảng có sự phối hợp chặt chẽ và chi viện ngày càng lớn của miền Bắc, CMMN đã vượt qua những khó khăn tổn thất to lớn trong giai đoạn 1954-1959, phát triển ngày càng mạnh mẽ. Từ đấu tranh chính trị là chủ yếu, tiến lên kết hợp đấu tranh chính trị với đấu tranh vũ trang. Đặc biệt, sau Nghị quyết Hội nghị lần thứ 15 của Trung ương Đảng (1/1959) CMMN phát triển nhanh chóng, dẫn đến cuộc "đồng khởi" rộng lớn làm thất bại chính sách “Tố cộng”, “Diệt cộng” tàn bạo của Mỹ - ngụy, từ khởi nghĩa phát triển thành chiến tranh cách mạng; kết hợp chặt chẽ tiến công địch về quân sự và chính trị; đánh địch bằng chiến tranh du kích rộng khắp và bằng các đòn tiến công của bộ đội chủ lực với quy mô ngày càng lớn; tiêu hao tiêu diệt nặng nề đội quân ngụy tay sai, làm thất bại các chủ trương của chiến lược “chiến tranh đặc biệt”. Đến cuối năm 1964, cuộc chiến tranh cách mạng ở 11 miền Nam đã giành được những thắng lợi rất quan trọng.

Ngụy quyền khủng hoảng triền miên, quân ngụy ngày càng bất lực và đứng trước nguy cơ thất bại hoàn toàn. Khó khăn Tuy cùng chung mục tiêu ủng hộ và giúp đỡ Việt Nam chống Mỹ, nhưng Liên Xô và Trung Quốc không cùng thống nhất hành động chống Mỹ xâm lược Việt Nam. Mâu thuẫn giữa hai nước 1ớn về nhiều vấn đề cơ bản của cách mạng thế giới đã làm cho khối đoàn kết của các nước xã hội chủ nghĩa, phong trào giải phóng dân tộc, phong trào cộng sản và công nhân quốc tế bị rạn nứt, mất phương hướng. Đế quốc Mỹ đã triệt để lợi dụng, khai thác cơ hội này trong khi tính toán tiến hành “Chiến tranh cục bộ” ở Việt Nam.

Sự bất đồng giữa Liên Xô và Trung Quốc càng trở nên gay gắt và không có lợi cho cách mạng Việt Nam. Việc đế quốc Mỹ mở cuộc Chiến tranh cục bộ, ồ ạt đưa quân đội viễn chinh Mỹ và các nước chư hầu vào trực tiếp xâm lược miền Nam đã làm cho tương quan lực lượng trở nên bất lợi cho ta. Đầu năm 1965, bị phá sản trong chiến lược “chiến tranh đặc biệt”, đế quốc Mỹ chuyển sang thực hiện chiến lược “Chiến tranh cục bộ” ở MNVN - một loại hình trong chiến lược toàn cầu “Phản ứng linh hoạt” của chúng. Chiến lược chiến tranh mới được Mỹ chuẩn bị khá công phu, có tính toàn kỹ lưỡng, đã qua thăm dò dư luận công chúng Mỹ, thăm dò thái độ đồng minh của Mỹ và dư luận thế giới, kể cả một số nước xã hội chủ nghĩa.

Chiến lược “Chiến tranh cục bộ” là hình thức chiến tranh xâm lược thực dân kiểu mới là một trong ba hình thức chiến tranh (đặc biệt, cục bộ, và thế giới) được đề ra phù hợp với chiến lược quân sự toàn cầu “phản ứng linh hoạt”. “Chiến tranh cục bộ” được tiến hành bằng quân viễn chinh Mỹ quân chư hầu và quân ngụy trong đó quân Mỹ giữ vai trò quan trọng, cùng với vũ khí và phương tiện chiến tranh của Mỹ. Âm mưu: Đẩy mạnh chiến tranh xâm lược, đàn áp và bình định cho miền Nam, phá hoại miền Bắc đồng thời cứu nguy cho quân ngụy. Thủ đoạn: Ồ ạt đưa quân viễn chinh Mỹ, quân chư hầu cùng với vũ khí và 12 phương tiện chiến tranh hiện đại và miền Nam.

Mục tiêu của Mỹ là tiêu diệt chủ lực quân giải phóng, bình định miền Nam, buộc phía Việt Nam phải ngồi vào bàn đàm phán theo điều kiện của Mỹ. Để tránh gây ảnh hưởng xấu tới thế bố trí chiến lược toàn cầu cũng như tới tình hình kinh tế, chính trị, xã hội của Mỹ, tránh lôi kéo các nước lớn như Liên Xô, Trung Quốc trực tiếp tham chiến, chính quyền Giônxơn chủ trương đưa quân Mỹ vào nhanh và rút ra nhanh. Đế quốc Mỹ dự định thực hiện Kế hoạch chiến lược ấy ở miền Nam trong thời gian 18 tháng, qua ba giai đoạn: Giai đoạn 1 (từ tháng 7 đến tháng 12-1965) đưa nhanh quân Mỹ và chư hầu vào MNVN, hoàn thành việc triển khai lực lượng chuẩn bị tiến hành phản công chiến lược; Giai đoạn 2 (từ tháng 1 đến tháng 6- 1966) mở các cuộc tiến công “tìm diệt” chủ lực quân giải phóng, phá chiến tranh du kích, giành quyền chủ động chiến trường, hỗ trợ cho chương trình “bình định”; Giai đoạn 3 (từ tháng 7-1966 đến cuối năm 1967), mở các cuộc hành quân tiến công tiêu diệt những đơn vị còn lại của Quân giải phóng và những căn cứ du kích, tiêu diệt cơ quan lãnh đạo cuộc kháng chiến ở miền Nam, hoàn tất chương trình “bình định”. “Tổng số quân Mỹ đưa vào miền Nam từ 75.000 tên (7-1965) lên tới 184.000 binh lính (cuối 1965)”1 Ngày 18-6-1965, để có một chính quyền tay sai phục vụ đắc lực cho Mỹ tiến hành chiến tranh và tạo thế ổn định về chính trị ở miền Nam, Nhà trắng đạo diễn cho Nguyễn Văn Thiệu và Nguyễn Cao Kỳ làm đảo chính lật đổ Nguyễn Khánh, thành lập chính phủ quân sự tại Sài Gòn.

Tháng 7-1965, Giônxơn chấp thuận đề nghị tăng quân và kế hoạch chiến lược “tìm và diệt” của đại tướng Oétmolen, Tư lệnh Bộ chỉ huy quân sự Mỹ tại MNVN. Mỹ dự tính đạt các mục tiêu chiến lược đã đề ra trong khoảng hai năm đến hai năm sáu tháng (từ tháng 7 -1965 đến giữa hoặc cuối năm 1967). Từ mùa hè năm 1965, quân viễn chinh Mỹ và quân đồng minh của Mỹ (Nam Triều Tiên, Ôtxâylia, Niu Dilân…) ồ ạt đổ vào MNVN. “Tổng số quân Mỹ từ 75.000 tên (7-1965) lên tới 184.000 tên vào cuối năm 1965, trong đó có 1 Lịch sử Đảng Cộng sản Cách mạng Việt Nam 1954-1975, tr.

13 nhiều sư đoàn, lữ đoàn tinh nhuệ của Mỹ. Quân chủ lực Sài Gòn có 520.000 tên biên chế thành 10 sư đoàn và 5 trung đoàn. Hạm đội 7 của Hải quân Mỹ trước kia hướng hoạt động ở Đông Bắc Á, nay tập trung hướng hoạt động vào vùng biển Đông Nam Á mà trọng điểm là Việt Nam, cùng hàng vạn lính Mỹ đóng ở Thái Lan, Philippin, đảo Ôkinaoa, Guam…đều được sử dụng trong cuộc chiến tranh xâm lược Việt Nam”.1 Nhằm hỗ trợ đắc lực cho các hoạt động quân sự trên chiến trường miền Nam, không quân và hải quân Mỹ tăng cường đánh phá ác liệt miền Bắc và từng bước mở rộng cả về quy mô lẫn cường độ để ngăn chặn sự tăng viện của miền Bắc cho miền Nam, mặt khác nâng đỡ tinh thần quân ngụy Sài gòn. Mỹ đồng thời đẩy mạnh “chiến tranh đặc biệt” ở Lào; gây sức ép nhằm buộc chính phủ Vương quốc Campuchia từ bỏ chính sách trung lập, kéo chính phủ này ngả về phía Mỹ chống lại Việt Nam.

Trên trường quốc tế, Mỹ triệt để lợi dụng mâu thuẫn Xô - Trung và mở “chiến dịch hòa bình” lừa bịp hòng cô lập Việt Nam.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ