Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu

Trong tiến trình của cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước (1954 - 1975), giai đoạn 1965 - 1968 mang tính chất bước ngoặt khi quân và dân Việt Nam phải trực tiếp đối đầu với lực lượng quân sự quy mô lớn của đế quốc Mỹ bao gồm đầy đủ các quân chủng lục quân, không quân và hải quân. Sau khi chiến lược "Chiến tranh đặc biệt" bị phá sản vào đầu năm 1965, chính quyền Washington chuyển hướng sang chiến lược "Chiến tranh cục bộ" thuộc học thuyết quân sự toàn cầu "Phản ứng linh hoạt". Đây là hình thức chiến tranh xâm lược thực dân mới được tiến hành bằng quân viễn chinh Mỹ, quân đồng minh và quân đội Sài Gòn, trong đó quân đội Mỹ giữ vai trò nòng cốt về tác chiến lẫn phương tiện kỹ thuật.

Đứng trước thử thách mang tính chất sống còn đối với vận mệnh dân tộc, Ban Chấp hành Trung ương Đảng và Bộ Chính trị đã kịp thời đề ra đường lối kháng chiến đúng đắn, lãnh đạo toàn dân và toàn quân đánh bại hai cuộc phản công chiến lược mùa khô (1965 - 1966, 1966 - 1967) và giáng đòn quyết định qua cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Tết Mậu Thân năm 1968. Thắng lợi này làm phá sản chiến lược "Chiến tranh cục bộ", buộc phía Mỹ phải xuống thang chiến tranh, chấp nhận đàm phán tại Hội nghị Paris. Nhằm làm sáng tỏ quá trình lịch sử và đúc kết những kinh nghiệm quý báu phục vụ sự nghiệp xây dựng, bảo vệ Tổ quốc, tác giả đã thực hiện đề tài "Đảng lãnh đạo chống chiến lược “Chiến tranh cục bộ” của đế quốc Mỹ từ năm 1965 đến năm 1968".

Mục đích nghiên cứu của khóa luận là làm rõ sự lãnh đạo của Đảng trong cuộc đấu tranh chống lại chiến lược "Chiến tranh cục bộ" của đế quốc Mỹ giai đoạn 1965 - 1968, từ đó rút ra các bài học kinh nghiệm lịch sử.

Nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài được xác định gồm 3 nội dung:

  1. Làm rõ hoàn cảnh lịch sử của đất nước và quốc tế từ năm 1965 đến năm 1968.
  2. Làm rõ chủ trương và quá trình Đảng lãnh đạo cuộc kháng chiến chống chiến lược "Chiến tranh cục bộ" của đế quốc Mỹ từ năm 1965 đến năm 1968.
  3. Rút ra những bài học kinh nghiệm trong công tác lãnh đạo kháng chiến của Đảng thời kỳ 1965 - 1968.

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:

  • Đối tượng nghiên cứu: Quá trình Đảng lãnh đạo chống chiến lược "Chiến tranh cục bộ" của đế quốc Mỹ từ năm 1965 đến năm 1968.
  • Phạm vi nội dung: Hệ thống các văn kiện, nghị quyết, chỉ thị của Đảng về lãnh đạo cuộc kháng chiến chống Mỹ và chống chiến lược "Chiến tranh cục bộ" (1965 - 1968).
  • Phạm vi thời gian: Từ năm 1965 đến năm 1968.
  • Phạm vi không gian: Trọng tâm trên chiến trường miền Nam Việt Nam, đặt trong mối quan hệ gắn kết với hậu phương miền Bắc và bối cảnh quốc tế.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp

Khóa luận được xây dựng dựa trên cơ sở lý luận của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và hệ thống quan điểm, đường lối của Đảng Cộng sản Việt Nam về đấu tranh giải phóng dân tộc, chiến tranh nhân dân toàn dân, toàn diện.

Phương pháp nghiên cứu chủ yếu được tác giả sử dụng là phương pháp lịch sử kết hợp chặt chẽ với phương pháp logic. Bên cạnh đó, đề tài vận dụng các phương pháp nghiên cứu khoa học xã hội phổ biến như phân tích tư liệu, tổng hợp luận điểm, đối chiếu và so sánh các mốc thời gian, số liệu chiến trường.

Nguồn tư liệu nghiên cứu phục vụ đề tài bao gồm:

  • Hệ thống văn kiện Đảng: Văn kiện Đảng Toàn tập (Nhà xuất bản Chính trị quốc gia), các nghị quyết Ban Chấp hành Trung ương khóa III (Hội nghị lần thứ 11, 12, 13, 14), các báo cáo chính trị tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IV và các kết luận chính thức của Bộ Chính trị (tiêu biểu là Kết luận số 215/BBK/BCT ngày 06/5/1994).
  • Các công trình chuyên khảo, giáo trình và tài liệu tổng kết chiến tranh: Lịch sử kháng chiến chống Mỹ, cứu nước 1954-1975 (Tập IV và V do Viện Lịch sử Quân sự Việt Nam biên soạn), Tổng kết cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước thắng lợi và bài học (Ban Chỉ đạo tổng kết chiến tranh trực thuộc Bộ Chính trị), Tiến trình lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam 1930 - 2016 (PGS.TS. Ngô Đăng Tri), Chiến tranh nhân dân địa phương trong chiến tranh bảo vệ Tổ quốc (Đại tướng Văn Tiến Dũng), cùng các đề tài nghiên cứu cấp Trung ương và cấp Học viện của PGS.TS. Nguyễn Trọng Phúc, PGS.TS. Phạm Xuân Mỹ, PGS.TS. Bùi Kim Đỉnh, TS. Vũ Ngọc Lương, TS. Vũ Thị Duyên.

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Chủ trương và sự chỉ đạo của Đảng đánh thắng chiến lược “Chiến tranh cục bộ” của đế quốc Mỹ (1965-1968)

Chương 1 tập trung phân tích hoàn cảnh lịch sử, quá trình hình thành đường lối và sự chỉ đạo tác chiến thực tế của Đảng để lần lượt bẻ gãy các bước leo thang chiến tranh của đối phương:

1. Hoàn cảnh lịch sử:

  • Thuận lợi: Phong trào giải phóng dân tộc tại Á, Phi, Mỹ Latinh dâng cao với hơn 60 quốc gia giành độc lập; hệ thống các nước xã hội chủ nghĩa mở rộng; Liên Xô và Trung Quốc tiếp tục viện trợ vật chất, kỹ thuật và xây dựng đường chiến lược cho Việt Nam. Ở trong nước, miền Bắc hoàn thành cải cách ruộng đất, cải tạo xã hội chủ nghĩa và kế hoạch 5 năm lần thứ nhất (1961 - 1965), vững bước trở thành hậu phương lớn; miền Nam tích lũy thế và lực vững chắc sau cao trào Đồng khởi và từng bước đánh bại "Chiến tranh đặc biệt".
  • Khó khăn: Mâu thuẫn sâu sắc giữa Liên Xô và Trung Quốc gây chia rẽ phong trào cộng sản quốc tế; tương quan so sánh lực lượng biến động bất lợi khi Mỹ đưa ồ ạt quân viễn chinh vào miền Nam (từ 75.000 quân vào tháng 7/1965 lên 184.000 quân cuối năm 1965; quân đội Sài Gòn có 520.000 lính biên chế thành 10 sư đoàn và 5 trung đoàn; Hạm đội 7 cùng hệ thống căn cứ tại Thái Lan, Philippines, Guam, Okinawa được huy động tối đa). Đồng thời, Mỹ mở rộng chiến tranh phá hoại bằng không quân, hải quân ra miền Bắc và gia tăng áp lực tại Lào, Campuchia.

2. Quá trình hoàn thiện chủ trương, đường lối của Đảng:

  • Hội nghị Trung ương lần thứ 11 (3/1965): Đánh giá nguy cơ chiến tranh lan rộng toàn quốc, chỉ rõ nhiệm vụ miền Bắc là vừa xây dựng, vừa chiến đấu và chi viện tiền tuyến miền Nam; chuyển hướng kinh tế sang thời chiến (đẩy mạnh nông nghiệp, công nghiệp địa phương, tiểu thủ công nghiệp); thông qua khẩu hiệu hành động: "Xây dựng và bảo vệ miền Bắc, giải phóng miền Nam".
  • Hội nghị Trung ương lần thứ 12 (12/1965): Phân tích thế và lực, khẳng định tương quan so sánh lực lượng không thay đổi lớn dù quân Mỹ đổ bộ quy mô lớn; đề ra quyết tâm chiến lược: "Động viên lực lượng cả nước, kiên quyết đánh bại cuộc chiến tranh xâm lược của đế quốc Mỹ trong bất cứ tình huống nào"; xác định phương châm đánh lâu dài, dựa vào sức mình là chính, kết hợp đấu tranh quân sự với đấu tranh chính trị, triệt để vận dụng "ba mũi giáp công" trên cả ba vùng chiến lược. Khẩu hiệu chung toàn quốc: "Tất cả để đánh thắng giặc Mỹ xâm lược".
  • Hội nghị Trung ương lần thứ 13 (1/1967): Ban hành quyết sách đẩy mạnh mặt trận ngoại giao, chủ động mở ra cục diện "vừa đánh vừa đàm".
  • Hội nghị Trung ương lần thứ 14 (1/1968): Thông qua nghị quyết của Bộ Chính trị (tháng 12/1967), quyết định chuyển cuộc chiến sang thời kỳ giành thắng lợi quyết định thông qua phương thức Tổng công kích và tổng khởi nghĩa trên toàn chiến trường miền Nam, lấy đô thị làm trọng điểm tiến công.

3. Đảng chỉ đạo đánh thắng hai cuộc phản công chiến lược mùa khô và đòn tiến công Mậu Thân 1968:

Chiến dịch / Giai đoạn Lực lượng và quy mô của đối phương Hành động chỉ đạo và tác chiến của ta Kết quả đạt được
Mùa khô lần thứ nhất (1965 - 1966) 72 vạn quân (18 vạn quân Mỹ), 2.342 xe tăng/thiết giáp, 1.000 khẩu pháo, hơn 500 tàu xuồng; mở cuộc phản công 5 mũi tên vào Đông Nam Bộ và Khu V; tiêu biểu là cuộc hành quân "Cái bẫy" vào Củ Chi (12.000 lính Mỹ, 200 máy bay, 600 xe quân sự). Bám trụ trận địa, phát triển "vành đai diệt Mỹ", kết hợp tác chiến bộ đội chủ lực, địa phương và du kích; tập kích sân bay Phú Lợi (30/1/1966), Tân Sơn Nhất (1/4/1966), khách sạn Victoria (1/4/1966); chặn đánh ở Nhà Đỏ - Bông Trang, Tây Sơn Tịnh (Quảng Ngãi). Loại khỏi vòng chiến 67.000 quân (35.000 lính Mỹ), đánh thiệt hại 9 tiểu đoàn Mỹ và 7 tiểu đoàn ngụy; bắn rơi, phá hủy 940 máy bay, 6.000 xe quân sự (300 xe tăng/thiết giáp); phá rã hơn 2.900 ấp chiến lược. Kế hoạch kết thúc sớm hơn dự định 2 tháng.
Mùa khô lần thứ hai (1966 - 1967) 20 sư đoàn và 10 lữ đoàn chủ lực (7 sư đoàn, 4 lữ đoàn Mỹ), 4.500 xe tăng/thiết giáp, hơn 2.000 khẩu pháo, 500 tàu xuồng; mở 895 cuộc hành quân càn quét, trọng tâm là 3 cuộc hành quân: Attleboro (30.000 quân), Cedar Falls (3 lữ đoàn Mỹ, 3 chiến đoàn ngụy), Junction City (45.200 quân, 250 pháo, 600 máy bay). Thành lập Mặt trận Đường 9 - Bắc Quảng Trị (6/1966); ban hành lệnh động viên cục bộ (7/1966); đề ra 6 phương thức tác chiến chiến lược (11/1966); dựa vào địa đạo và căn cứ liên hoàn bẻ gãy từng mũi càn quét tại Tây Ninh, Tam giác sắt Bến Súc - Củ Chi - Bến Cát. Đánh bại hoàn toàn 3 cuộc hành quân then chốt của Mỹ; giải phóng thêm 390 xã, ấp (nâng tổng số lên 700 xã, 6.750 ấp và dinh điền); bẻ gãy gọng kìm "tìm diệt" và "bình định", buộc địch chuyển dần sang thế phòng ngự bị động.
Tổng tiến công và nổi dậy Tết Mậu Thân 1968 Hệ thống phòng thủ dày đặc tại các cơ quan đầu não đô thị, căn cứ quân sự, cơ sở hậu cần và trung tâm truyền thông của Mỹ - ngụy trên toàn miền Nam. Giáng đòn bất ngờ đồng loạt vào các thành phố, thị xã, sào huyệt của đối phương; kết hợp lực lượng vũ trang xung kích với lực lượng chính trị quần chúng nổi dậy. Đập tan kế hoạch chiến lược của Mỹ, làm lung lay ý chí xâm lược của giới cầm quyền Washington, buộc Mỹ phải tuyên bố "phi Mỹ hóa chiến tranh", ngừng ném bom miền Bắc từ vĩ tuyến 20 trở ra và chấp nhận ngồi vào bàn đàm phán Paris.

Chương 2: Nhận xét và một số kinh nghiệm

Chương 2 đúc kết toàn diện những thành công nổi bật, thẳng thắn chỉ ra các khuyết điểm chiến lược và hệ thống hóa 5 bài học kinh nghiệm:

1. Nhận xét về ưu điểm và thành công:

  • Sức mạnh khối đại đoàn kết toàn dân và ba tầng mặt trận thống nhất: Thể hiện sự nhất trí chính trị giữa Đảng và nhân dân; tình cảm Bắc - Nam một nhà; kết hợp Mặt trận Dân tộc giải phóng miền Nam, Mặt trận Tổ quốc miền Bắc với Mặt trận nhân dân ba nước Đông Dương và Mặt trận quốc tế ủng hộ Việt Nam (kể cả phong trào phản chiến trong lòng nước Mỹ).
  • Nghệ thuật chỉ đạo chiến lược xuất sắc của Đảng: Đưa ra các quyết sách nhạy bén như mở Mặt trận Đường 9 - Bắc Quảng Trị để hút và giam chân quân cơ động Mỹ; tổ chức đòn tiến công chiến lược Tết Mậu Thân 1968 giáng đòn quyết định vào ý chí xâm lược của đối phương.
  • Chủ động mở cục diện "vừa đánh vừa đàm": Hội nghị Trung ương 13 (1/1967) mở ra mặt trận ngoại giao sắc bén, phối hợp chặt chẽ với quân sự và chính trị để cô lập đối phương trên trường quốc tế.

2. Hạn chế và khuyết điểm trong chỉ đạo:

  • Chủ quan trong đánh giá tình hình và xác định mục tiêu: Đặt ra yêu cầu chiến lược chưa thật sát với thực tiễn chiến trường (đặc biệt là việc đặt mục tiêu giành thắng lợi quyết định tối đa ngay trong đợt 1 Tết Mậu Thân 1968).
  • Chậm chuyển hướng tiến công chiến lược: Sau đợt 1 Tết Mậu Thân, ta không kịp thời kiểm điểm rút kinh nghiệm khi yếu tố bất ngờ không còn và đối phương đã chuyển từ chiến thuật "tìm diệt và bình định" sang "quét và giữ", tăng cường phòng ngự đô thị và bình định nông thôn. Việc tiếp tục đẩy các đợt tiến công vào thành phố đã khiến lực lượng vũ trang và cơ sở chính trị của ta bị tổn thất lớn trong giai đoạn tiếp theo.

3. Năm bài học kinh nghiệm lịch sử:

  • Một là, bố trí thế trận chủ động tiến công, triển khai hợp lý lực lượng ba thứ quân trên các chiến trường, buộc địch phải đánh theo cách đánh của ta, vô hiệu hóa sở trường hỏa lực và cơ động của quân viễn chinh Mỹ.
  • Hai là, kiên định đường lối tiến hành đồng thời hai chiến lược cách mạng ở hai miền (cách mạng xã hội chủ nghĩa ở miền Bắc giữ vai trò quyết định nhất; cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân ở miền Nam giữ vai trò quyết định trực tiếp) cùng hướng về mục tiêu chung là giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước.
  • Ba là, phát triển đường lối chiến tranh nhân dân toàn dân, toàn diện với sức mạnh tổng hợp; kiên trì phương châm "hai chân, ba mũi, ba vùng chiến lược", kết hợp đấu tranh quân sự, chính trị, binh vận và ngoại giao.
  • Bốn là, luôn kiên định lập trường cách mạng triệt để, phát hiện và khoét sâu những mâu thuẫn nội tại của đế quốc Mỹ để củng cố quyết tâm đánh Mỹ và thắng Mỹ.
  • Năm là, tăng cường đoàn kết quốc tế, kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại, tranh thủ tối đa sự đồng tình, ủng hộ của các nước xã hội chủ nghĩa và phong trào yêu chuộng hòa bình trên thế giới.

Kết quả và đóng góp

Khóa luận đã tổng hợp cụ thể các kết quả kháng chiến thực tế giai đoạn 1965 - 1968 dựa trên các tư liệu lịch sử chính thống:

  • Ghi nhận đầy đủ số liệu tổn thất của đối phương trong mùa khô 1965 - 1966 (loại khỏi vòng chiến 67.000 quân, 940 máy bay, 6.000 xe quân sự); mùa khô 1966 - 1967 (bẻ gãy 3 cuộc hành quân quy mô lớn gồm Attleboro, Cedar Falls, Junction City; giải phóng thêm 390 xã ấp); thành tích quân dân miền Bắc bắn rơi 305 máy bay Mỹ trong 6 tháng đầu năm 1966.
  • Làm rõ bước ngoặt chính trị - quân sự của đòn tiến công Tết Mậu Thân 1968: buộc chính quyền Mỹ phải tuyên bố chấm dứt ném bom miền Bắc không điều kiện từ vĩ tuyến 20 trở ra, chấp nhận rút dần quân viễn chinh và cử đại diện đàm phán chính thức tại Paris.

Về mặt đóng góp khoa học, đề tài đã:

  • Hệ thống hóa toàn diện, logic tiến trình ban hành đường lối và văn kiện chỉ đạo của Trung ương Đảng từ Hội nghị 11 (3/1965), Hội nghị 12 (12/1965), Hội nghị 13 (1/1967) đến Hội nghị 14 (1/1968).
  • Đánh giá khách quan, toàn diện cả thành tựu lẫn các khuyết điểm, hạn chế trong chỉ đạo chiến lược theo tinh thần các nghị quyết kiểm điểm của Trung ương Đảng (Hội nghị Trung ương lần thứ 21) và kết luận của Bộ Chính trị.
  • Rút ra 5 bài học kinh nghiệm lịch sử có giá trị lý luận và thực tiễn sâu sắc đối với công cuộc xây dựng nền quốc phòng toàn dân và bảo vệ Tổ quốc hiện nay.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

Khóa luận tập trung nghiên cứu trong phạm vi không gian chiến trường miền Nam và các văn bản chỉ đạo của Đảng trong khung thời gian 1965 - 1968. Đề tài chưa đi sâu phân tích chi tiết diễn biến tác chiến cơ sở tại từng phân khu đô thị cá biệt trong giai đoạn sau Tết Mậu Thân 1968.

Hướng nghiên cứu tiếp nối có thể mở rộng khảo sát quá trình Đảng vận dụng và phát triển các bài học kinh nghiệm thời kỳ chống "Chiến tranh cục bộ" vào giai đoạn lãnh đạo đánh bại chiến lược "Việt Nam hóa chiến tranh" (1969 - 1972) và cuộc Tổng tiến công và nổi dậy mùa Xuân năm 1975; hoặc nghiên cứu chuyên sâu về sự kết hợp giữa nghệ thuật tác chiến quân sự và đàm phán ngoại giao trong tiến trình Hội nghị Paris.


Giá trị tham khảo

Công trình là tài liệu học thuật hữu ích cho:

  • Giảng viên, sinh viên, học viên chuyên ngành Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam, Lịch sử Quân sự, Xây dựng Đảng và Chính quyền Nhà nước, Chính trị học.
  • Phục vụ trực tiếp cho việc giảng dạy, học tập và nghiên cứu học phần "Đảng lãnh đạo kháng chiến chống Mỹ, cứu nước và xây dựng CNXH ở miền Bắc (1954 - 1975)" tại Học viện Báo chí và Tuyên truyền cùng các cơ sở đào tạo lý luận chính trị.
  • Cung cấp nguồn tư liệu trích dẫn chuẩn xác về các số liệu chiến dịch, nghị quyết Trung ương và các văn bản kiểm điểm chiến lược giai đoạn 1965 - 1968.

Câu hỏi thường gặp

1. Nghị quyết Hội nghị Trung ương lần thứ 11 (3/1965) đã đề ra định hướng chuyển hướng kinh tế và khẩu hiệu hành động nào cho miền Bắc?
Nghị quyết Hội nghị 11 quyết định chuyển hướng nền kinh tế miền Bắc sang thời chiến bằng việc đẩy mạnh nông nghiệp (đặc biệt ở trung du và miền núi), phát triển công nghiệp địa phương và thủ công nghiệp với các xí nghiệp vừa và nhỏ để tự bảo đảm nhu cầu thiết yếu tại chỗ; đồng thời xác định khẩu hiệu chung là: "Xây dựng và bảo vệ miền Bắc, giải phóng miền Nam".

2. Lý do quân đội Mỹ lựa chọn đổ bộ trực tiếp vào bãi biển Đà Nẵng vào ngày 08/3/1965 là gì?
Đế quốc Mỹ chọn Đà Nẵng vì đây là vị trí quân sự chiến lược trọng yếu, dễ bề chia cắt hai miền Nam - Bắc; đồng thời tận dụng lợi thế cảng nước sâu và cự ly phù hợp để xây dựng các căn cứ quân sự dã chiến phục vụ việc đánh phá miền Bắc bằng không quân và hải quân.

3. Ba cuộc hành quân then chốt của Mỹ trong cuộc phản công chiến lược mùa khô lần thứ hai (1966 - 1967) gồm những chiến dịch nào?
Ba cuộc hành quân then chốt gồm: cuộc hành quân Attleboro (14/9/1966 - 24/11/1966) đánh vào Chiến khu Dương Minh Châu; cuộc hành quân Cedar Falls/Xêđaphôn (3/1/1967 - 26/1/1967) đánh vào "Tam giác sắt" Bến Súc - Củ Chi - Bến Cát; và cuộc hành quân Junction City/Gianxơnxiti (22/2/1967 - 15/5/1967) đánh vào vùng Bắc Tây Ninh sát biên giới Việt Nam - Campuchia.

4. Nghị quyết nào của Đảng đánh dấu bước chuyển chiến lược sang cục diện "vừa đánh vừa đàm"?
Chủ trương mở ra cục diện "vừa đánh vừa đàm, vừa đàm vừa đánh" được thể hiện tập trung và rõ nét tại Nghị quyết Hội nghị lần thứ 13 Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khóa III) họp vào tháng 1/1967 về đẩy mạnh đấu tranh ngoại giao, chủ động tiến công địch.

5. Khuyết điểm chính trong chỉ đạo chiến lược của ta sau đợt tiến công Tết Mậu Thân 1968 được Đảng kiểm điểm là gì?
Khuyết điểm chính là sự chủ quan trong đánh giá tình hình, đặt yêu cầu chưa sát thực tế; sau đợt 1 Tết Mậu Thân không kịp thời kiểm điểm rút kinh nghiệm để chuyển hướng chiến lược, tiếp tục mở các đợt tiến công vào đô thị khi đối phương đã chuyển sang chiến thuật "quét và giữ" và tăng cường phòng ngự, dẫn đến việc lực lượng và cơ sở chính trị bị tổn thất trong một thời gian.


Kết luận

Khóa luận tốt nghiệp đã làm sáng tỏ một cách có hệ thống quá trình Đảng hoạch định chủ trương và chỉ đạo quân dân cả nước đánh bại chiến lược "Chiến tranh cục bộ" của đế quốc Mỹ (1965 - 1968). Tác phẩm đã phân tích rõ nét các chiến công tiêu biểu trong hai cuộc phản công mùa khô và đòn tiến công chiến lược Tết Mậu Thân 1968, đồng thời nhìn nhận khách quan những hạn chế trong chỉ đạo tác chiến. Các bài học kinh nghiệm lịch sử được đúc kết trong đề tài mang giá trị khoa học sâu sắc, phục vụ thiết thực cho công tác nghiên cứu, giảng dạy lịch sử Đảng và sự nghiệp xây dựng, bảo vệ Tổ quốc hiện nay.