Tài liệu: Đề tài quá trình hình thành và phát triển đường lối cách mạng

Tìm hiểu quá trình hình thành và phát triển đường lối cách mạng giải phóng dân tộc của Đảng Cộng sản Việt Nam giai đoạn 1930-1945.

Trường đại học

Trường Đại học Bách Khoa

Chuyên ngành

Lịch Sử Đảng

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Bài Tập Lớn

2022

60
2
0

Phí lưu trữ

30 Point

Tóm tắt

I. Bối cảnh lịch sử hình thành đường lối cách mạng giải phóng dân tộc

Quá trình hình thành và phát triển đường lối cách mạng giải phóng dân tộc là một giai đoạn quan trọng trong lịch sử Việt Nam từ năm 1930 đến 1945. Trước khi Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời, dân tộc ta đã trải qua nhiều cuộc khởi nghĩa yêu nước nhưng đều thất bại trước sự đàn áp dã man của thực dân Pháp. Chỉ khi Đảng ra đời, cuộc khủng hoảng về đường lối cách mạng mới được giải quyết. Để nhận thức đúng mâu thuẫn cơ bản của xã hội thuộc địa Việt Nam và xác định đúng nhiệm vụ chiến lược, phải hình thành đường lối cách mạng đúng đắn thông qua việc vận dụng lý luận cách mạng vào điều kiện lịch sử cụ thể. Quá trình này mang tầm vóc lịch sử và là nền tảng cho các thắng lợi cách mạng sau này của nhân dân Việt Nam.

1.1. Tình hình Việt Nam dưới sự thống trị của thực dân Pháp

Trước đầu thế kỷ XX, Việt Nam rơi vào tình trạng mất nước dưới sự chiếm đóng của thực dân Pháp. Nhân dân bị khai thác tàn bạo, sưu cao thuế nặng và khủng bố đã man. Phong trào yêu nước lúc đó chủ yếu theo khuynh hướng chỉnh trị phong kiến và tư sản từ cuối thế kỷ XIX đến đầu năm 1930. Những cuộc khởi nghĩa như Phong trào Yên Thế, Cần Vương đã không đạt được thắng lợi do thiếu đường lối cách mạng khoa học.

1.2. Sự ra đời của Đảng Cộng sản Việt Nam

Năm 1930 là bước ngoặt quan trọng khi Đảng Cộng sản Việt Nam chính thức ra đời. Đây là sự kiện lịch sử đánh dấu việc nhân dân Việt Nam tiếp cận với chủ nghĩa Mác-Lênin. Cương lĩnh chính trị đầu tiên của Đảng đã xác định rõ mục tiêu, nhiệm vụ và đối tượng cách mạng. Sự ra đời của Đảng mở ra giai đoạn mới cho cuộc đấu tranh của nhân dân Việt Nam với phương pháp cách mạng giải phóng dân tộc khoa học.

II. Luận cương chính trị và chủ trương của Đảng

Luận cương chính trị là tài liệu quan trọng đánh dấu sự trưởng thành của đường lối cách mạng giải phóng dân tộc. Được thông qua tại Hội nghị lần thứ ba của Trung ương Đảng, Luận cương này xác định rõ mâu thuẫn chính của xã hội Việt Nam là mâu thuẫn giữa dân tộc Việt Nam và chủ nghĩa đế quốc Pháp, giữa nhân dân lao động và giai cấp thống trị. Luận cương đã nêu rõ nhiệm vụ chiến lược của cách mạng là giành độc lập dân tộc và xây dựng một nước Việt Nam độc lập, tự do, sung túc. Đảng tiếp tục bổ sung, hoàn chỉnh Luận cương này thông qua các Nghị quyết của Đại hội và các chủ trương đấu tranh nhằm tập hợp các lực lượng cách mạng.

2.1. Nội dung cốt lõi của Luận cương chính trị

Luận cương chính trị nêu rõ các mâu thuẫn cơ bản của xã hội Việt Nam và xác định kẻ thù chính, đồng minh chính của cách mạng. Nó xác định nhiệm vụ chính là giải phóng dân tộc khỏi ách đô hộ của thực dân Phápáp bức của tư sản địa phương. Luận cương cũng nêu rõ vai trò lãnh đạo của giai cấp công nhân thông qua Đảng Cộng sản trong cuộc cách mạng.

2.2. Sự hoàn chỉnh liên tục của đường lối cách mạng

Từ năm 1935 trở đi, Đảng Cộng sản Việt Nam đã tiếp tục hoàn chỉnh đường lối cách mạng thông qua Nghị quyết Đại hội lần thứ Nhất và các chủ trương đấu tranh đòi quyền dân chủ, dân sinh (1936-1939). Đảng đã tích cực lãnh đạo các cuộc đấu tranh của nhân dân chống sưu cao thuế nặngkhủng bố đã man của thực dân Pháp.

III. Chủ trương của Đảng từ 1939 đến 1945 và sự hoàn chỉnh đường lối

Từ năm 1939 đến 1945, bối cảnh lịch sử thế giới thay đổi sâu sắc với sự bùng nổ của Thế chiến lần thứ hai. Ở Việt Nam, thực dân Pháp suy yếu trước sức nặn của phát xít Nhật Bản. Đảng ta đã nhận thức rõ những cơ hội mới để phát động cách mạng giải phóng dân tộc. Chủ trương của Đảng lúc này tập trung vào việc xây dựng lực lượng vũ trang cách mạng và chuẩn bị điều kiện cho khởi nghĩa vũ trang. Năm 1941, Đảng ra mắt Quân đội nhân dân Việt Nam thông qua việc lập Căn cứ Việt Bắc. Sự bổ sung, hoàn chỉnh đường lối cách mạng giải phóng dân tộc được thể hiện rõ nét khi Đảng xác định nhiệm vụ đặc biệt là phải kết hợp đấu tranh chống Phápchống Nhật để giành độc lập dân tộc.

3.1. Bối cảnh lịch sử mới và yêu cầu đặt ra

Thế chiến lần thứ hai tạo ra bối cảnh lịch sử mới cho cách mạng Việt Nam. Sự xuất hiện của phát xít Nhật Bản tại Đông Dương đã tạo cơ hội cho cách mạng giải phóng dân tộcthực dân Pháp suy yếu. Đảng nhận thức rõ rằng phải lãnh đạo cuộc khởi nghĩa vũ trang để giành độc lập. Yêu cầu cấp bách là xây dựng lực lượng vũ trang cách mạng mạnh mẽ.

3.2. Nội dung bổ sung và hoàn chỉnh đường lối cách mạng

Giai đoạn này, đường lối cách mạng giải phóng dân tộc được hoàn chỉnh bằng cách xác định rõ các mục tiêu chiến lược: giành độc lập dân tộc, thực hiện đất đai cho nông dân, xây dựng nền dân chủ nhân dân. Đảng tập trung vào việc xây dựng Căn cứ Việt Bắc như một căn cứ cách mạng để từ đó tiến hành cuộc khởi nghĩa vũ trang toàn quốc.

IV. Giá trị và ý nghĩa của quá trình hình thành đường lối cách mạng

Quá trình hình thành và phát triển đường lối cách mạng giải phóng dân tộc từ 1930 đến 1945 mang giá trị lịch sử vô cùng quan trọng. Nó đã tạo nền tảng vững chắc cho các thắng lợi cách mạng sau này của nhân dân Việt Nam. Sự hoàn chỉnh liên tục của đường lối cách mạng giúp Đảng xác định đúng nhiệm vụ chiến lược, lựa chọn đúng phương pháp đấu tranh và tập hợp được sức mạnh của toàn dân tộc. Cách mạng tháng Tám năm 1945 là kết quả trực tiếp của quá trình này. Những bài học từ quá trình này cho thấy rằng chỉ khi vận dụng đúng chủ nghĩa Mác-Lênin vào điều kiện cụ thể của Việt Nam mới có thể thành công trong cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc. Ngoài ra, việc liên tục tự chỉ trích, đấu tranh nội bộ chống chủ nghĩa giáo điều, chủ nghĩa chủ quan đã giúp Đảng ngày một trưởng thành và có sức lãnh đạo mạnh mẽ.

4.1. Những thắng lợi đạt được từ đường lối cách mạng

Đường lối cách mạng giải phóng dân tộc đã giúp nhân dân Việt Nam giành được độc lập dân tộc vào năm 1945. Cách mạng tháng Tám thành công nhờ vào sự lãnh đạo đúng đắn của Đảng Cộng sản Việt Nam. Từ xã hội thuộc địa bán phong kiến, Việt Nam đã bước vào ky nguyên độc lập dân tộc liên kết với chủ nghĩa Xã hội.

4.2. Bài học lịch sử cho tương lai

Quá trình hình thành đường lối cách mạng cho chúng ta bài học quý báu: phải luôn vận dụng lý luận cách mạng khoa học vào điều kiện cụ thể, phải không ngừng hoàn chỉnh đường lối, phải phê bình và tự phê bình để khắc phục những sai lầm. Sự kiên trì, can đảm và trí tuệ của Đảng ta trong giai đoạn này là tấm gương sáng cho thế hệ tương lai.

18/12/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

mở đầu cho quá trình xâm lược nước ta. Trong giai đoạn đầu, cùng với sự lãnh đạo của triều đình Nguyễn, nhân dân ta đã anh dũng đứng lên chống lại quân xâm lược. Nhưng sau đó triều đình ngày cảng rời xa nhân dân và có những đường lối đấu tranh nặng về phòng thủ, ít chủ động tấn công, lần lượt đầu hàng thực dân Pháp qua việc kí các Hiệp ước Nhâm Tuất (1862), Hiệp ước Giáp Tuất (1874), trong khi cuộc đầu tranh của nhân dân ngày cảng dâng cao. Năm 1884 với việc triều đình Nguyễn ký bản Hiệp ước Pa-tơ-nôt, triều đình Nguyễn đã đầu hàng, đất nước ta chính thức trở thành thuộc địa của thực dân Pháp.

Tuy vậy, phong trào đấu tranh chống thực dân Pháp vân liên tục diễn ra, tiêu biểu là phong trào Cần Vương (1885-1896) và khởi nghĩa Yên Thế (1884-1913). Phong trào Cần Vương (1885-1896): Một phong trào dau tranh vũ trang do Hàm Nghi và Tôn Thất Thuyết phát động, đã mở cuộc tiến công trại lính Pháp ở cạnh kinh thành Huế (1885). Việc không thành, Tôn Thất Thuyết đưa Hàm Nghi chạy ra Tân Sở (Quảng Trị), hạ chiếu Cần Vương. Mặc dù sau đó Hàm Nghi bị bắt, nhưng phong trào Cần Vương vẫn phát triển, nhất là ở Bắc Kỳ và Bắc Trung Kỳ, tiêu biểu là các cuộc khởi nghĩa: Ba Đình, Bãi Sậy và Hương Khê (1885-1895).

Cùng thời gian này còn nỗ ra cuộc khởi nghĩa nông dân Yên Thế do Hoàng Hoa Thám lãnh đạo, kéo dài đến năm 1913, Khởi nghĩa Yên Thế (1884-1913): Dưới sự lãnh đạo của vi thủ lĩnh nông dân Hoàng Hoa Thám, nghĩa quân đã xây đựng lực lượng chiến đấu. lập căn cứ và đấu tranh kiên cường chống thực dân Pháp. Nhưng phong trào của Hoàng Hoa Thám vẫn mang nặng “cốt cách phong kiến”, không có khả năng mở rộng và hợp tác và thống nhất tạo thành một cuộc cách mạng giải phóng dân tộc, cuối cùng cũng bị thực dân Pháp đàn áp. Thất bại của các phong trào theo khuynh hướng này chứng tỏ sự bất lực của hệ tư tưởng phong kiến trong việc giải quyết nhiệm vụ giành độc lập dân tộc đo lịch sử đặt ra.

Nguyên nhân là do những phong trào này mang tư tưởng phong kiến lạc hậu, chưa đề ra được đường lối cách mạng đúng đắn Với sự thất bại của hệ tư tưởng phong kiến trước việc giành quyên tự quyết cho dân tộc đã chứng tỏ răng độc lập dân tộc không thê gắn với chủ nghĩa phong kiến. Đòi hỏi những người yêu nước Việt Nam phải tìm con đường cứu nước khác cho phù hợp hơn. Phong trào yêu nước theo khuynh hướng dân chủ tư sản Sự tác động của tình hình trong nước: Năm 1896 phong trào Cần vương thất bại, chứng tỏ sự bất lực của hệ tư tưởng phong kiến trước nhiệm vụ giải phóng dân tộc do lịch sử đặt ra. Độc lập dân tộc không thể gắn liền với chế độ phong kiến.

Đặt ra cho các sĩ phu yêu nước là cần có những con đường mới,tư tưởng mới, hình thức đấu tranh mới. để giành độc lập. Năm 1897, thực dân Pháp tiến hành cuộc khai thác thuộc địa lần thứ nhất. Dưới tác động của cuộc khai thác, cơ cấu kinh tế Việt Nam bước đầu có sự biến đổi: các thành phần kinh tế tư bản chủ nghĩa hình thành, từng bước mở rộng bên cạnh nền sản xuất phong kiến lạc hậu.

Sự biến đổi này là cơ sở kinh tế bên trong cho sự tiếp thu khuynh hướng cứu nước dân chủ tư sản từ bên ngoài dội vào. Cơ cấu xã hội thay đổi, xuất hiện những lực lượng xã hội mới, giai cấp công nhân ra đời và đông lên. Tầng lớp tư sản dân tộc và tiêu tư sản xuất hiện. Các sĩ phu nho học bắt đầu có sự chuyền biến tư tưởng chính trị và tư duy kinh tế.

Điều đó đã tạo ra yếu tố bên trong đề tiếp thu luồng tư tưởng mới. Sự tác động của tình hình thể giới: Từ cuối thế ký XIX đến đầu TK XX, tình hình chính trị thế giới, mà trước hết là từ các nước Nhật Bản,Trung Quốc đã tác động đến Việt Nam.Phong trào Duy tân của Khang Hữu Vi và Lương Khải Siêu ở Trung Quốc với khuynh hướng Dân chủ tư sản,thông qua các sách báo được truyền vào nước ta, ảnh hưởng đến tư tưởng của các sĩ phu. Họ nhận thấy được chế độ phong kiến không còn phù hợp. Cách mạng Tân Hợi năm 1911 6 Trung Quéc cang giúp cho một số sĩ phu Việt Nam đoạn tuyệt với tư tưởng quân chủ đề chuyền sang tư tưởng cộng hòa.

Cuộc Duy tân Minh Trị, thang lợi của Nhật trong chiến tranh Nga — Nhat (1904 — 1905), càng ảnh hưởng đến các sĩ phu, họ muốn duy tân,cải cách đất nước theo gương Nhật Bản. Các tầng lớp sĩ phu yêu nước đầu thế kỉ XX, họ thấy cần có những cải cách đổi mới về kinh tế, chính trị,văn hóa,xã hội. cần có những biện pháp, con đường cứu nước mới. Và khuynh hướng dân chủ tư sản đã ra đời.

Mặc dù còn nhiều hạn chế, nhưng với tinh thần dân tộc, dân chủ, chống dé quốc và chống phong kiến, giai cấp tư sản Việt Nam đã bước lên vũ đài chính trị với một phong trào yêu nước sôi nổi, rộng lớn, lôi cuốn đông đảo quần chúng tham gia với những hình thức đấu tranh phong phú. Hoạt động của giai cấp tư sản: Năm 1919-1923, phong trào quốc gia cải lương của bộ phận tư sản và địa chủ lớp trên đã diễn ra bằng việc vận động chấn hưng nội hoá bài trừ ngoại hoá; chống độc quyền thương cảng Sải Gòn; chống độc quyên khai thác lúa gạo ở Nam Kỳ: đòi thực dân Pháp phải mở rộng các viện dân biểu cho tư sản Việt Nam tham gia. Năm 1923 xuất hiện Đảng Lập hiến của Bùi Quang Chiêu ở Sài Gòn, tập hợp tư sản và địa chủ lớp trên. Họ cũng đưa ra một số khâu hiệu đòi tự do dân chủ đề lôi kéo quân chúng.

Nhưng khi bị thực dân Pháp đàn áp hoặc nhân nhượng cho một số quyền lợi thì họ lại đi vào con đường thỏa hiệp. Năm 1925-1926 đã điễn ra Phong trào yêu nước dân chủ công khai của tiểu tư sản thành thị và tư sản lớp dưới. Họ lập ra nhiều tổ chức chính trị như: Việt Nam Nghĩa đoàn, Phục Việt (1925), Hưng Nam, Thanh niên cao vọng (1926),. Có nhiều phong trào đấu tranh chính trị gây tiếng vang khá lớn như đấu tranh đòi thả Phan Bội Châu (1925), lễ truy điệu và để tang Phan Châu Trinh, đấu tranh đòi thả nhà yêu nước Nguyễn An Ninh (1926).

Cùng với phong trào đấu tranh chính trị, tiêu tư sản Việt Nam còn tiến hành một cuộc vận động văn hóa tiến bộ, tuyên truyền rộng rãi những tư tưởng tự do dân chủ. Tuy nhiên, cảng về sau, cùng sự thay đối của điều kiện lịch sử, phong trào trên đây ngày cảng bị phân hoá mạnh. Có bộ phận đi sâu hơn nữa vào khuynh hướng chính trị tư sản (như Nam Đồng thư xã), có bộ phận chuyển đần sang quỹ đạo cách mạng vô sản (tiêu biểu là Phục Việt, Hưng Nam). Năm 1927-1930 Phong trào cách mạng quốc gia tư sản gắn liền với sự ra đời và hoạt động của Việt Nam Quốc dân Đảng (25-12-1927).

Sau chiến tranh thế giới thứ nhất, trào lưu dân chủ tư sản tiếp tục ảnh hưởng vào Việt Nam, đặc biệt là chủ nghĩa tam dân của Tôn Trung Sơn, tác động đến một bộ phận tư sản dân tộc và tiểu tư sản Việt Nam. Trên cơ sở hạt nhân lànhà xuất bản Nam Đồng thư xã, ngày 25/12/1927, Nguyễn Thái Học, Phó Đức Chính, Phạm Tuấn Tài thành lập Việt Nam Quốc dân đảng. Đây là tô chức đại điện cho tư sản đân tộc theo khuynh hướng cách mang dan chu tu san. Thang 2/1929, Việt Nam Quốc dân đảng tô chức ám sát trùm mộ phu Ba danh ở Hà Nội.

Thực dân Pháp tiến hành khủng bố, lực lượng của Đảng và quần chúng bị tốn thất nặng nề. Trước tình thế đó, những cán bộ lãnh đạo quyết định thực hiện cuộc bạo động cuối cùng với ý tưởng “không thành công cũng thành nhân”. Cuộc khởi nghĩa Yên Bái nỗ ra ngày 9/2/1930, trung tâm là thị xã Yên Bái, ở một số nơi có những hoạt động phối hợp như Phú Thọ, Sơn Tây, Hải Dương, Thái Bình, Hà Nội., nhưng cuối cùng bị quân Pháp phản công và đập tắt. Cuộc khởi nghĩa Yên Bái thất bại kéo theo sự tan rã hoàn toàn của Việt Nam quốc dân đảng, chấm dứt vai trò lịch sử của giai cấp tư sản Việt Nam trong phong trào giải phóng dân tộc Việt Nam.

Nhìn chung, các phong trào yêu nước theo khuynh hướng dân chủ tư sản ở Việt Nam đã diễn ra liên tục, sôi nôi, lôi cuốn đông đảo quần chúng tham gia với những hình thức đâu tranh phong phú, thế hiện ý thức dân tộc, tính thần chống đề quốc của giai cấp tư sản Việt Nam. Các phong trào cuối củng đều thất bại vì giai cấp tư sản Việt Nam rất nhỏ yếu cả về kinh tế và chính trị nên không đủ sức giương cao ngọn cờ lãnh đạo sự nghiệp giải phóng đân tộc. Về khách quan, đây là lúc thực dân Pháp đang mạnh, đang củng cô được nền thống trị ở Đông Dương. So sánh lực lượng chưa có lợi cho phong trào yêu nước, thời cơ cách mạng cũng chưa xuất hiện.

Mặc dù thất bại nhưng các phong trào yêu nước theo khuynh hướng dân chủ tư sản đã góp phần cô vũ mạnh mẽ tinh thần yêu nước của nhân dân ta, bồi đắp thêm cho chủ nghĩa yêu nước Việt Nam, đặc biệt góp phần thúc đây những nhà yêu nước, nhất là lớp thanh niên trí thức có khuynh hướng dân chủ tư sản chọn lựa một con đường mới, tiếp thu lý luận giải phóng dân tộc theo khuynh hướng vô sản, làm cho phong trào yêu nước trở thành một trong những điều kiện dẫn đến sự ra đời của Đảng Cộng sản Việt Nam. Phong trào yêu nước theo khupnh hưởng vô sản và Hội nghị thành lập Đảng Nguyễn Ái Quốc lựa chọn con đường cách mạng vô sản. Sự chuẩn bị về tư tưởng, chính trị và tô chức cho việc thành lập Đảng Cộng sản ở Việt Nam. Trong bối cảnh thời đại sau Chiến tranh thế giới thứ nhất, khi sự nghiệp giải phóng dân tộc đang lâm vào “tình hình đen tối tưởng như không có đường ra”, ngày 5/6/1911, Nguyễn Tất Thành rời bến cảng Sài Gòn đi tìm đường cứu nước.

Từ năm 1911 đến năm 1917, Người đến nhiều nhiều châu lục và quốc gia trên thế giới, nhất là ba nước tư bản phát triển (Anh, Pháp, M). Từ thực tiễn lịch sử, Người nhận thấy ở đâu bọn để quốc, thực dân cũng tàn bạo, độc ác; ở đâu những người lao động cũng bị áp bức, bóc lột dã man.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ