Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu

Đề tài được trích xuất từ luận án tiến sĩ luật học của tác giả Nguyễn Thị Vân Anh, chuyên ngành Lý luận và lịch sử Nhà nước và pháp luật, bảo vệ năm 2017 tại Trường Đại học Luật Hà Nội dưới sự hướng dẫn khoa học của PGS. Nguyễn Thị Hồi.

Lý do chọn đề tài và bối cảnh thực tiễn

Gia đình là tế bào của xã hội, sự liên kết giữa các cá nhân nhằm xác lập quan hệ hôn nhân và gia đình (HN&GĐ) không chỉ thể hiện ý chí của các chủ thể mà còn mang ý chí của Nhà nước, chịu sự tác động mang tính quyết định của điều kiện kinh tế - xã hội. Tại Việt Nam, luật HN&GĐ giữ vai trò điều chỉnh các quan hệ xã hội phát sinh trong lĩnh vực này nhằm xây dựng gia đình no ấm, bình đẳng, tiến bộ, hạnh phúc.

Tây Nguyên là vùng địa bàn đặc thù về vị trí địa lý, điều kiện kinh tế - xã hội và cơ cấu dân cư với 54 dân tộc cùng sinh sống, trong đó có 12 dân tộc thiểu số tại chỗ. Mỗi dân tộc sở hữu hệ thống luật tục truyền thống giữ vai trò tự quản, điều hòa quan hệ xã hội. Trên thực tế, luật tục trong lĩnh vực HN&GĐ tại các buôn làng vẫn giữ vai trò chi phối chủ đạo. Một bộ phận đồng bào chưa hiểu rõ hoặc không nắm bắt được các quy định pháp luật hiện hành về điều kiện kết hôn, quyền và nghĩa vụ giữa các thành viên, chế độ tài sản và ly hôn. Thực tiễn áp dụng pháp luật gặp nhiều rào cản do luật tục đã ăn sâu vào nếp sống; thậm chí như tham luận của Sở Tư pháp tỉnh Đắk Lắk tại hội thảo "Mối quan hệ giữa luật tục, hương ước và pháp luật hiện hành" (do Viện Khoa học pháp lý tổ chức) ghi nhận: có những vụ việc Tòa án nhân dân các cấp đã xét xử nhưng người dân vẫn yêu cầu buôn làng phân xử lại, và phán quyết theo luật tục của buôn làng được chấp nhận hơn bản án của Tòa án. Do đó, việc nghiên cứu thực trạng ảnh hưởng của luật tục đến thực hiện pháp luật HN&GĐ để tìm giải pháp kết hợp hài hòa, phát huy mặt tích cực và từng bước loại bỏ mặt tiêu cực là yêu cầu cấp thiết.

Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu

Mục tiêu nghiên cứu: Tìm ra các giải pháp phát huy những ảnh hưởng tích cực và hạn chế, tiến tới từng bước loại bỏ những ảnh hưởng tiêu cực của luật tục đến việc thực hiện pháp luật nhằm nâng cao hiệu quả thực hiện pháp luật HN&GĐ ở cộng đồng các dân tộc thiểu số tại chỗ ở Tây Nguyên trong thời gian tới.

Nhiệm vụ nghiên cứu:

  1. Làm rõ cơ sở lý luận về ảnh hưởng của luật tục đến việc thực hiện pháp luật HN&GĐ (khái niệm, đặc điểm luật tục; khái niệm, hình thức thực hiện pháp luật HN&GĐ; khả năng ảnh hưởng và các yếu tố tác động).
  2. Đánh giá thực trạng ảnh hưởng của luật tục đến việc thực hiện pháp luật HN&GĐ trong các dân tộc thiểu số tại chỗ ở Tây Nguyên từ năm 2006 tới nay, chỉ ra nguyên nhân dẫn đến thực trạng đó.
  3. Đề xuất quan điểm và các giải pháp phù hợp nhằm phát huy ảnh hưởng tích cực, hạn chế ảnh hưởng tiêu cực của luật tục tới việc thực hiện pháp luật, nâng cao tính tự giác và nghiêm chỉnh trong thực thi pháp luật HN&GĐ tại địa bàn.

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

  • Đối tượng nghiên cứu: Thực trạng ảnh hưởng của luật tục tới việc thực hiện pháp luật HN&GĐ trong các dân tộc thiểu số tại chỗ ở Tây Nguyên từ năm 2006 đến năm 2016, nguyên nhân và các giải pháp thực hiện.
  • Phạm vi không gian: Tập trung vào địa bàn cư trú của 6 dân tộc thiểu số tại chỗ theo chế độ gia đình mẫu hệ ở Tây Nguyên gồm: Ê đê, Gia rai, Chu ru, Raglai, Cơ ho và M'nông tại 4 tỉnh: Gia Lai, Đắk Lắk, Đắk Nông và Lâm Đồng.
  • Phạm vi thời gian: Giai đoạn khảo sát và thu thập số liệu thực tế từ năm 2006 đến năm 2016.
Tỉnh Địa bàn khảo sát cụ thể Dân tộc mẫu hệ khảo sát chính
Gia Lai Huyện Chư Pưh, huyện Chư Sê, TP. Pleiku Gia rai
Đắk Lắk Huyện Cư M'gar, huyện Buôn Đôn, TP. Buôn Ma Thuột Ê đê
Đắk Nông Huyện Tuy Đức, huyện Đắk Song, TX. Gia Nghĩa M'nông
Lâm Đồng Huyện Đơn Dương, huyện Lạc Dương, huyện Đức Trọng Chu ru, Raglai, Cơ ho

Cơ sở lý thuyết và phương pháp

Khung lý thuyết và văn bản pháp luật sử dụng

  • Cơ sở lý luận nền tảng: Chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam về Nhà nước và pháp luật; quan điểm duy vật biện chứng và duy vật lịch sử về sự phát triển của các hình thái hôn nhân - gia đình gắn liền với điều kiện kinh tế - xã hội. Luận án kế thừa luận điểm trong tác phẩm kinh điển "Nguồn gốc của gia đình, của chế độ tư hữu và của nhà nước" của Ph. Ăng-ghen (bản dịch xuất bản năm 1995 bởi NXB Chính trị quốc gia).
  • Cơ sở pháp lý: Luật Hôn nhân và gia đình Việt Nam; các đạo luật chuyên ngành (Bộ luật Dân sự, Bộ luật Tố tụng dân sự, Luật Tổ chức chính quyền địa phương); các văn bản hướng dẫn áp dụng tập quán trong hôn nhân gia đình; hệ thống hương ước, quy ước thôn buôn và các bộ luật tục truyền thống đã được văn bản hóa.

Phương pháp nghiên cứu

  • Phương pháp phân tích, tổng hợp, lịch sử cụ thể, so sánh: Dùng để làm rõ các khái niệm lý luận, phân tích đặc trưng của luật tục và đối chiếu các quy định của pháp luật thực định với chuẩn mực luật tục.
  • Phương pháp tiếp cận liên ngành (Dân tộc học - Văn hóa học - Luật học): Sử dụng tri thức liên ngành và tư liệu điền dã thực tế để minh chứng, lý giải căn nguyên tâm lý, tập quán dòng họ mẫu hệ ảnh hưởng đến hành vi pháp lý của người dân bản địa.
  • Phương pháp xã hội học và thống kê: Sử dụng bảng hỏi cấu trúc, phỏng vấn sâu cá nhân (người dân, già làng, cán bộ tư pháp) và thảo luận nhóm để thu thập dữ liệu định lượng và định tính về thực trạng kết hôn, ly hôn, phân chia tài sản và hoạt động của bộ máy cơ sở.
  • Hướng tiếp cận nghiên cứu: Tiếp cận lịch sử - hệ thống (đặt luật tục trong tiến trình phát triển lịch sử và mối liên hệ với hệ thống pháp luật); tiếp cận thực tiễn (khảo sát trực tiếp tại cơ sở để xây dựng giải pháp sát hợp).

Nguồn dữ liệu

  • Dữ liệu sơ cấp: Số liệu điều tra xã hội học trực tiếp do tác giả thực hiện từ các phiếu khảo sát, biên bản phỏng vấn sâu và thảo luận nhóm tại 4 tỉnh Tây Nguyên.
  • Dữ liệu thứ cấp: Báo cáo tổng kết công tác tư pháp, hộ tịch, xét xử của Sở Tư pháp, Tòa án nhân dân các tỉnh Gia Lai, Đắk Lắk, Đắk Nông, Lâm Đồng; các ấn phẩm, công trình nghiên cứu đi trước và các văn bản luật tục đã được dịch thuật, công bố.

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu các vấn đề có liên quan đến đề tài luận án

Chương này phân tích hai nhóm công trình nghiên cứu lớn:

  • Nhóm nghiên cứu về luật tục, luật tục Tây Nguyên và vai trò của luật tục:
    • Nghiên cứu quốc tế: Henry Sumner Maine (trường phái lịch sử Đức); Alan Watson (An approach to customary law, 1994); T.O. Elias (phân loại 4 dạng công trình luật tục: sổ tay/handbook, văn bản luật tục ban đầu, chuyên khảo văn hóa - luật tục, tập hợp vụ án/án lệ của Max Gluckman); Masaji Chiba (1986, phân chia thành luật tiếp nhận, luật bản địa và dạng hỗn hợp); Woodman và Obilade (1995); Hisashi Endo (luật tục thời kỳ quá độ tại Malaysia).
    • Giai đoạn trước 1975 ở Tây Nguyên: Hoạt động sưu tầm theo Thông tri 578-ca ngày 30/7/1923 của Toàn quyền Đông Dương Pierre Pasquier; công trình sưu tầm luật tục Ê đê của Léopold Sabatier (Kleí duêč kơ blư, 1927); Jacques Dournes (Nri, luật tục người Sre Thượng Đồng Nai, 1951 gồm 92 điều song ngữ); Théophile Gerber (luật tục người Stiêng Bù Lơ, 1951); Paul Guilleminet (luật tục Bana, Xơ Đăng, Jrai ở Kon Tum, 1952); Jean Boulbet (luật tục người Mạ, 1957 gồm 68 điều); Pierre Bernard Lafont (Tơlơi djuat, luật tục Jrai, 1963); cùng các tài liệu của Canivey (1913), Cunhac (1921), Adéle (1931), Jean Cassaigne (1937).
    • Giai đoạn từ sau đổi mới tại Việt Nam: Công trình của Viện Nghiên cứu Văn hóa Dân gian hợp tác với Sở VHTT Đắk Lắk (1986-1987); GS. Ngô Đức Thịnh (chủ biên các công trình văn hóa dân gian Ê đê 1992, M'nông 1993; Tìm hiểu luật tục các tộc người ở Việt Nam 2003; Luật tục trong đời sống các tộc người ở Việt Nam 2004); TS. Phan Đăng Nhật (luật tục Chăm - Raglai, Tòa án phong tục Kon Tum); TS. Dương Thị Thanh Mai (đề tài cấp Nhà nước năm 2011 khảo sát luật tục Gia rai); Linh Nga Niê Kdam (Già làng Tây Nguyên); Trương Tiến Hưng (luận án tiến sĩ năm 2008 về luật tục Chăm Ninh Thuận); Krajan Plin (Luật tục người K'ho Lạch); Nguyễn Lưu Thu (luận văn thạc sĩ năm 2006 về luật tục Gia rai); Đào Văn Nam; Nguyễn Thị Tuyết Mai; Hoàng Thị Kim Quế; Nguyễn Duy Thiệu; Nguyễn Quang Tuyến; Phạm Quang Tiến và Nguyễn Thị Hồi (2010).
  • Nhóm nghiên cứu về thực hiện pháp luật HN&GĐ và ảnh hưởng của luật tục: Tác phẩm của Ph. Ăng-ghen; đề tài của Bùi Xuân Trường (1997) về thi hành luật HN&GĐ ở người Thái, H'mông; nghiên cứu HN&GĐ của người Hoa (Nguyễn Duy Bính), người Chăm (Bá Trung Phụ 1996, Văn Món 2000), người Chơ-ro (Lâm Nhân), người Khmer (Đặng Thị Kim Oanh 2008).
  • Khoảng trống khoa học: Chưa có công trình nào nghiên cứu toàn diện, chuyên sâu dưới góc độ lý luận chung về Nhà nước và pháp luật đối với ảnh hưởng của luật tục đến việc thực hiện pháp luật HN&GĐ ở 6 tộc người thiểu số tại chỗ theo mẫu hệ ở Tây Nguyên.

Chương 2: Những vấn đề lý luận về ảnh hưởng của luật tục đến việc thực hiện pháp luật hôn nhân gia đình trong các dân tộc thiểu số tại chỗ ở Tây Nguyên

  • Khái niệm và đặc điểm luật tục HN&GĐ: Luật tục là hệ thống các quy tắc xử sự hình thành tự phát qua thời gian dài, mang tính truyền miệng, gắn chặt với tín ngưỡng thần linh và dư luận cộng đồng buôn làng. Ở 6 dân tộc mẫu hệ Tây Nguyên, luật tục HN&GĐ phản ánh sâu sắc vai trò chủ hộ của người phụ nữ, tục cư trú phía nhà vợ, con sinh ra mang họ mẹ và quyền thừa kế tài sản thuộc về con gái.
  • Khái niệm và các hình thức thực hiện pháp luật HN&GĐ: Gồm 4 hình thức cơ bản: tuân thủ pháp luật (kiềm chế không vi phạm điều cấm), chấp hành pháp luật (thực hiện nghĩa vụ tích cực), sử dụng pháp luật (thực hiện quyền năng pháp lý) và áp dụng pháp luật (hoạt động của cơ quan nhà nước có thẩm quyền).
  • Khả năng ảnh hưởng: Luật tục có thể tác động tích cực (khi các chuẩn mực tập quán phù hợp với tinh thần pháp luật, giúp gắn kết vợ chồng, tôn trọng đạo lý dòng tộc) hoặc tiêu cực (khi duy trì các tục lệ trái pháp luật, bài xích sự can thiệp của pháp luật nhà nước).
  • Các yếu tố tác động: Điều kiện tự nhiên - kinh tế - xã hội vùng Tây Nguyên; phong tục tập quán mẫu hệ và tâm thức cộng đồng buôn làng; trình độ nhận thức pháp luật của người dân; năng lực và tổ chức của hệ thống chính trị cơ sở.

Chương 3: Thực trạng ảnh hưởng của luật tục đối với thực hiện pháp luật hôn nhân và gia đình trong các dân tộc thiểu số tại chỗ ở Tây Nguyên

Chương này đánh giá chi tiết thực tế áp dụng qua dữ liệu khảo sát và các bảng biểu thống kê:

  • Ảnh hưởng đến việc thực hiện quy định về kết hôn: Phân tích thực trạng kết hôn nội bộ tộc người (Bảng 1). Luật tục chi phối tập tục thách cưới, phạt vạ khi vi phạm nghi lễ; tình trạng tảo hôn và duy trì tục nối dây (chuê nuê) khi một bên vợ hoặc chồng qua đời. Tỷ lệ đăng ký kết hôn tại UBND cấp xã chưa nghiêm túc, người dân coi trọng nghi lễ buôn làng hơn thủ tục pháp lý.
  • Ảnh hưởng đến việc thực hiện quy định về quan hệ giữa các thành viên gia đình: Tục cư trú sau hôn nhân (Bảng 3 - nguyện vọng về nơi ở sau kết hôn) phản ánh áp lực sống bên nhà vợ theo truyền thống mẫu hệ. Luật tục quy định người phụ nữ làm chủ gia đình nhưng người chồng thường đại diện trong các giao dịch bên ngoài; vai trò nuôi dạy con cái chịu ảnh hưởng từ dòng họ mẹ.
  • Ảnh hưởng đến việc thực hiện quy định về ly hôn, phân chia tài sản và nhận con nuôi: Thói quen đưa các tranh chấp ra già làng giải quyết thay vì khởi kiện tại Tòa án (Bảng 2: Ý kiến về vai trò của già làng trong phân xử và duy trì tập quán). Việc phân chia tài sản sau ly hôn tuân theo nguyên tắc tài sản của dòng họ nào trả về dòng họ đó; con cái thuộc về mẹ nuôi dưỡng. Việc nhận con nuôi thực hiện chủ yếu qua nghi lễ nhận dòng họ buôn làng, ít làm thủ tục đăng ký con nuôi tại chính quyền.
  • Nguyên nhân của thực trạng:
    • Tích cực: Luật tục phát huy sự đoàn kết dòng họ, xử lý mâu thuẫn gia đình nhanh gọn, bảo tồn đạo lý tương thân tương ái.
    • Tiêu cực: Do trình độ dân trí còn chênh lệch, tập quán lạc hậu bám rễ sâu; năng lực đội ngũ cán bộ, công chức cấp xã còn yếu (Bảng 4: Tình hình đội ngũ cán bộ, công chức cấp xã đến năm 2015); chất lượng hoạt động của HĐND và UBND cấp xã tại địa bàn khảo sát còn nhiều hạn chế, chưa đáp ứng yêu cầu quản lý (Bảng 5 và Bảng 6: Đánh giá chất lượng hoạt động của HĐND và UBND xã, phường, thị trấn đến năm 2015); công tác phổ biến giáo dục pháp luật chưa phù hợp với ngôn ngữ và tập quán đồng bào.

Chương 4: Quan điểm và giải pháp phát huy ảnh hưởng tích cực, hạn chế ảnh hưởng tiêu cực của luật tục đến việc thực hiện pháp luật hôn nhân gia đình trong các dân tộc thiểu số tại chỗ ở Tây Nguyên hiện nay

  • Hệ thống quan điểm: Đảm bảo tính tối thượng của Hiến pháp và pháp luật; kết hợp hài hòa pháp luật nhà nước với các giá trị tích cực của luật tục; tôn trọng quyền tự do hôn nhân và quyền bình đẳng giới; tôn trọng bản sắc văn hóa dân tộc bản địa đồng thời kiên quyết bài trừ hủ tục lạc hậu; củng cố khối đại đoàn kết toàn dân tộc.
  • Các nhóm giải pháp cụ thể:
    • Hoàn thiện chính sách, pháp luật: Rà soát, lồng ghép có chọn lọc các quy tắc tiến bộ của luật tục vào quy ước, hương ước thôn buôn mới; thể chế hóa rõ ràng thẩm quyền hòa giải cơ sở gắn với thiết chế già làng.
    • Nâng cao hiệu quả áp dụng pháp luật: Đổi mới nội dung, hình thức tuyên truyền pháp luật bằng tiếng dân tộc bản địa; phát huy vai trò già làng, trưởng thôn, người có uy tín trong việc vận động bài trừ tảo hôn, hôn nhân cận huyết và tục chuê nuê cưỡng ép.
    • Củng cố bộ máy chính quyền cơ sở: Đào tạo, bồi dưỡng, nâng cao trình độ chuyên môn và tiếng dân tộc cho đội ngũ công chức hộ tịch, tư pháp xã; nâng cao chất lượng hoạt động của HĐND và UBND cấp xã tại 4 tỉnh Tây Nguyên.
    • Giải pháp kinh tế - văn hóa: Phát triển kinh tế - xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số, nâng cao đời sống vật chất, dân trí để giảm thiểu tác động tiêu cực của các tục lệ lạc hậu.

Kết quả và đóng góp

Kết quả chính

  • Xác định hệ thống 6 bảng biểu số liệu khảo sát thực tế tại 4 tỉnh Gia Lai, Đắk Lắk, Đắk Nông, Lâm Đồng phản ánh toàn diện thực trạng thi hành pháp luật:
Ký hiệu bảng Tên bảng dữ liệu theo văn bản
Bảng 1 Số lượng các cặp kết hôn trong nội bộ dân tộc của các dân tộc thiểu số tại chỗ Tây Nguyên
Bảng 2 Ý kiến người dân theo tín ngưỡng truyền thống về vai trò của già làng trong phân xử các vụ việc duy trì phong tục tập quán dân tộc
Bảng 3 Mong muốn về nơi ở sau khi kết hôn
Bảng 4 Tình hình đội ngũ cán bộ, công chức cấp xã đến năm 2015
Bảng 5 Chất lượng hoạt động của Hội đồng nhân dân xã, phường, thị trấn tính đến năm 2015
Bảng 6 Chất lượng hoạt động của Ủy ban nhân dân xã, phường, thị trấn tính đến năm 2015
  • Luận án đã chỉ ra sự đan xen phức tạp giữa tập quán mẫu hệ và pháp luật thực định: đồng bào chấp hành nghiêm các quy ước buôn làng và phán quyết của già làng hơn là bản án của Tòa án nhân dân trong các mâu thuẫn gia đình và ly hôn.
  • Đánh giá cụ thể thực trạng năng lực quản lý của bộ máy chính quyền cơ sở cấp xã tại Tây Nguyên tính đến năm 2015, chỉ ra sự thiếu hụt cán bộ am hiểu chuyên môn luật và phong tục bản địa.

Giải pháp và kiến nghị của tác giả

  • Đề xuất mô hình phối hợp giữa già làng, trưởng buôn với cán bộ tư pháp - hộ tịch cấp xã trong giải quyết việc đăng ký kết hôn, hòa giải mâu thuẫn gia đình và giải quyết ly hôn.
  • Xây dựng quy ước buôn làng có chọn lọc: giữ lại các giá trị văn hóa như sự tôn trọng phụ nữ, trách nhiệm nuôi dạy con cái của dòng tộc; loại bỏ hủ tục thách cưới nặng nề, phạt vạ vô lý và kết hôn cận huyết.
  • Tăng cường biên soạn tài liệu tuyên truyền pháp luật bằng song ngữ (tiếng Việt và tiếng Ê đê, Gia rai, M'nông, Chu ru, Raglai, Cơ ho).

Đóng góp mới của luận án

  • Là công trình nghiên cứu hệ thống, chuyên sâu đầu tiên dưới góc độ Lý luận chung về Nhà nước và pháp luật về tác động của luật tục đến thực hiện pháp luật HN&GĐ trong cộng đồng 6 dân tộc thiểu số tại chỗ mẫu hệ ở Tây Nguyên giai đoạn 2006-2016.
  • Làm rõ cơ chế tương tác đa chiều giữa tập quán pháp và luật thực định tại vùng đặc thù, cung cấp dữ liệu thực chứng phục vụ xây dựng và thực thi pháp luật.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

  • Hạn chế: Phạm vi khảo sát tập trung chủ yếu vào 6 dân tộc theo chế độ mẫu hệ (Ê đê, Gia rai, Chu ru, Raglai, Cơ ho, M'nông) tại 4 tỉnh (Gia Lai, Đắk Lắk, Đắk Nông, Lâm Đồng), chưa bao quát nhóm dân tộc phụ hệ (như Ba na, Xơ Đăng) hoặc địa bàn tỉnh Kon Tum và các nhóm dân tộc thiểu số di cư từ phía Bắc vào Tây Nguyên. Khung thời gian khảo sát thực địa khép lại ở mốc năm 2016.
  • Hướng nghiên cứu tiếp: Mở rộng nghiên cứu tác động của luật tục ở các nhóm dân tộc thiểu số theo chế độ phụ hệ hoặc song hệ tại Tây Nguyên; nghiên cứu so sánh giữa luật tục của đồng bào tại chỗ với phong tục tập quán của các nhóm dân tộc di cư; đánh giá tác động của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 trong giai đoạn áp dụng dài hạn tại vùng cao nguyên.

Giá trị tham khảo

  • Đối tượng thụ hưởng:
    • Giảng viên, sinh viên, học viên cao học và nghiên cứu sinh ngành Luật học (chuyên ngành Lý luận và lịch sử Nhà nước và pháp luật, Luật Hôn nhân và gia đình, Xã hội học pháp luật), Dân tộc học, Văn hóa học.
    • Cán bộ làm công tác tư pháp, hộ tịch, tòa án, cán bộ công tác dân tộc và chính quyền cơ sở tại các tỉnh Tây Nguyên và các vùng đồng bào dân tộc thiểu số.
  • Nội dung giá trị nhất:
    • Bức tranh thư mục tổng quan lịch sử nghiên cứu luật tục Tây Nguyên từ thời Pháp thuộc đến nay tại Chương 1.
    • Phương pháp kết hợp giữa nghiên cứu lý luận pháp lý với điều tra xã hội học điền dã dân tộc học tại Chương 2 và Chương 3.
    • Hệ thống dữ liệu điều tra thực tế tại 4 tỉnh về tập quán hôn nhân mẫu hệ và năng lực chính quyền cấp xã.

Câu hỏi thường gặp

1. Luận án nghiên cứu cụ thể trên những dân tộc thiểu số tại chỗ nào và tại các địa phương nào?
Luận án nghiên cứu 6 dân tộc thiểu số tại chỗ theo chế độ gia đình mẫu hệ gồm: Ê đê, Gia rai, Chu ru, Raglai, Cơ ho và M'nông. Địa bàn khảo sát thực tế diễn ra tại 4 tỉnh: Gia Lai (Chư Pưh, Chư Sê, TP. Pleiku), Đắk Lắk (Cư M'gar, Buôn Đôn, TP. Buôn Ma Thuột), Đắk Nông (Tuy Đức, Đắk Song, TX. Gia Nghĩa) và Lâm Đồng (Đơn Dương, Lạc Dương, Đức Trọng).

2. Tại sao tác giả lại giới hạn đối tượng nghiên cứu ở 6 tộc người nêu trên?
Vì đây là 6 dân tộc thiểu số tại chỗ tiêu biểu ở Tây Nguyên duy trì chế độ gia đình mẫu hệ. Trong các cộng đồng này, các quy định luật tục về vị trí người phụ nữ, tục cư trú sau kết hôn, quyền tài sản và phân xử dòng tộc thể hiện rất rõ nét, tạo ra sự tương tác và xung đột đặc thù với các quy định của Luật Hôn nhân và gia đình Việt Nam.

3. Tác giả đã tổng quan những bộ luật tục Tây Nguyên cổ truyền nào được sưu tầm từ thời Pháp thuộc?
Luận án tổng quan chi tiết các bộ luật tục: Kleí duêč kơ blư của người Ê đê (Léopold Sabatier sưu tầm, 1927); Nri của người Sre Thượng Đồng Nai (Jacques Dournes, 1951 gồm 92 điều); luật tục Stiêng Bù Lơ (Théophile Gerber, 1951); luật tục Bana, Xơ Đăng, Jrai ở Kon Tum (Paul Guilleminet, 1952); luật tục người Mạ (Jean Boulbet, 1957 gồm 68 điều); và Tơlơi djuat của người Jrai (Pierre Bernard Lafont, 1963); cùng Thông tri 578-ca năm 1923 của Pierre Pasquier.

4. Dữ liệu thực nghiệm của luận án tập trung làm rõ những khía cạnh nào qua các bảng số liệu?
Dữ liệu thực nghiệm tập trung vào 6 bảng: số lượng các cặp kết hôn nội bộ tộc người (Bảng 1); mức độ tín nhiệm của người dân đối với vai trò phân xử của già làng (Bảng 2); nguyện vọng cư trú sau khi kết hôn (Bảng 3); thực trạng số lượng, chất lượng đội ngũ công chức cấp xã (Bảng 4); cùng chất lượng hoạt động của HĐND và UBND cấp xã đến năm 2015 (Bảng 5, Bảng 6).

5. Nhận định của Sở Tư pháp Đắk Lắk được tác giả viện dẫn phản ánh thực tế pháp lý gì ở Tây Nguyên?
Nhận định phản ánh thực tế: Có những vụ việc mâu thuẫn, tranh chấp hôn nhân gia đình dù đã được Tòa án nhân dân các cấp xét xử theo luật pháp nhà nước, người dân bản địa vẫn yêu cầu già làng và buôn làng xét xử lại; bản án theo luật tục của buôn làng được cộng đồng chấp nhận và tự giác thi hành hơn bất kỳ phán quyết tư pháp nào khác.

Kết luận

Luận án tiến sĩ của tác giả Nguyễn Thị Vân Anh đã hệ thống hóa cơ sở lý luận và đánh giá thực trạng ảnh hưởng hai mặt của luật tục đối với việc thực thi pháp luật hôn nhân và gia đình tại 4 tỉnh Tây Nguyên giai đoạn 2006-2016. Công trình làm rõ sự tồn tại dai dẳng của các chuẩn mực luật tục mẫu hệ trong đời sống đồng bào thiểu số tại chỗ, đồng thời chỉ ra những bất cập trong tổ chức bộ máy và hoạt động thực thi pháp luật ở cơ sở. Trên cơ sở đó, tác giả đề xuất hệ thống giải pháp dung hòa giữa pháp luật nhà nước và luật tục tiến bộ, góp phần xây dựng trật tự pháp lý ổn định và bảo tồn bản sắc văn hóa cộng đồng.