Chương 1 XÂY DỰNG ĐỜI SỐNG VĂN HÓA Ở KHU DÂN CƯ QUẬN THỦ ĐỨC THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH - NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN 1. Đời sống văn hóa và những vấn đề cơ bản về xây dựng đời sống văn hóa ở các khu dân cư Quận Thủ Đức Thành phố Hồ Chí Minh 1. Quan niệm về văn hóa và đời sống văn hóa trong khu dân cư * Quan niệm văn hóa. Thuật ngữ văn hóa xuất phát từ tiếng La tinh "culture" với nghĩa đen là trồng trọt ngoài đồng ruộng, nghĩa bóng là giáo dưỡng, vun đắp, phát triển con người.
Ở phương Đông, ngay từ thời cổ đại, khái niệm văn hóa được hiểu với ý nghĩa “văn trị giáo hóa”, tức lấy cái “văn” để giáo hóa thiên hạ. Chủ tịch Hồ Chí Minh quan niệm về văn hóa và ý nghĩa của nó: “Vì lẽ sinh tồn cũng như mục đích của cuộc sống, loài người mới sáng tạo và phát minh ra ngôn ngữ, chữ viết, đạo đức, pháp luật, khoa học, tôn giáo, văn học, nghệ thuật. Những công cụ cho sinh hoạt hàng ngày về mặc, ăn ở và các phương thức sử dụng. Văn hóa là sự tổng hợp của mọi phương thức sinh hoạt cùng với biểu hiện của nó mà loài người đã sản sinh ra nhằm thích ứng những nhu cầu đời sống và đòi hỏi của sự sinh tồn”[51, tr.
Nhà nghiên cứu Phan Ngọc thì cho rằng văn hóa là “dấu ấn của một thể cộng đồng lên mọi hiện tượng tinh thần, vật chất, mọi sản phẩm của thể cộng đồng này từ tín ngưỡng, phong tục cho đến cả sản phẩm công nghiệp bán ra thị trường"[61, tr. Văn hóa Việt Nam được Đảng ta xác định: “Văn hóa Việt Nam là thành quả hàng nghìn năm lao động sáng tạo, đấu tranh kiên cường dựng nước và giữ nước của cộng đồng các dân tộc Việt Nam, là kết quả giao lưu và tiếp thu tinh hoa của nhiều nền văn minh thế giới để không ngừng hoàn thiện mình. Văn hóa Việt Nam đã hun đúc nên tâm hồn, khí phách, bản lĩnh Việt Nam, làm rạng rỡ lịch sử vẻ vang của dân tộc”[22, tr. Đây là quan niệm khái quát về bản chất và giá trị cơ bản của văn hóa Việt Nam.
Tùy theo góc độ nghiên cứu và phương pháp tiếp cận mà có những định nghĩa 9 khác nhau về văn hóa. Song, các quan niệm đó đều có cái chung thống nhất là văn hóa gắn chặt với con người, thể hiện sự phát triển trình độ người ngay trong con người và cộng đồng; thể hiện dấu ấn chân, thiện, mỹ trong tổng thể các giá trị vật chất và tinh thần (giá trị vật thể và phi vật thể) do con người và cộng đồng sáng tạo ra. Đặc trưng cơ bản nhất của văn hóa là sáng tạo và nhân văn. Trong tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội, đặc trưng đó được thể hiện thành giá trị, hệ giá trị chuẩn mực, hướng con người tới chân, thiện, mỹ [58, tr.
* Quan niệm đời sống văn hóa Đời sống văn hóa là tổng hợp hoạt động sống của con người nhằm đáp ứng những nhu cầu vật chất và tinh thần của con người. Nhu cầu vật chất được đáp ứng làm cho con người tồn tại như một sinh thể. Nhu cầu tinh thần thì giúp con người tồn tại như một sinh thể xã hội, tức một nhân cách văn hóa. Hai nhu cầu này xuất hiện ngay từ buổi bình minh của xã hội loài người và phát triển cùng với trình độ phát triển của xã hội.
Đời sống văn hóa là một bộ phận của đời sống tinh thần xã hội, nhằm hướng tới các giá trị cao cả của con người là hướng tới chân, thiện, mỹ. Các hoạt động nhằm đáp ứng nhu cầu văn hóa của con người được gọi là hoạt động văn hóa. Diễn đạt bằng thuật ngữ kinh tế học thì hoạt động văn hóa là quá trình sản xuất, sáng tạo, bảo quản, phân phối và tiêu dùng sản phẩm văn hóa do xã hội tạo ra. Sản phẩm văn hóa bao gồm hai loại: Vật thể và phi vật thể.
Sản phẩm văn hóa phi vật thể tồn tại dưới dạng các giá trị văn hóa tinh thần như chủ nghĩa yêu nước, ý thức cộng đồng, đức tính cần cù trong lao động, kiên cường bất khuất trong chiến đấu chống ngoại xâm, các loại hình nghệ thuật. Sản phẩm văn hóa tồn tại dưới dạng vật thể là các tác phẩm văn học, nghệ thuật, di tích lịch sử, danh lam thắng cảnh. Con người vừa là chủ thể, vừa là sản phẩm của văn hóa. Sản phẩm văn hóa đến với công chúng phải thông qua các thiết chế văn hóa xã hội.
Thiết chế văn hóa xã hội bao gồm hoạt động lãnh đạo, quản lý văn hóa, các trung tâm văn hóa, nhà bảo tàng, tòa báo, nhà xuất bản.để chuyển tải các sản phẩm văn hóa đến với mọi người trong xã hội. Từ những phân tích trên có thể quan niệm đời sống văn hóa ở cơ sở là là tổng thể các hoạt động lưu giữ, bảo tồn, sản xuất, hưởng thụ các giá trị văn hóa trong tổ 10 chức và hoạt động của cộng đồng. * Các thành tố của đời sống văn hóa: Hệ giá trị văn hóa với sự đồng bộ của ba chuẩn mực chân, thiện, mỹ được tạo ra từ hoạt động thực tiễn. Hệ thống các giá trị văn hóa là toàn bộ những giá trị văn hóa vật thể và phi vật thể được hình thành, phát triển gắn liền với quá trình dựng nước và giữ nước của dân tộc Việt Nam được tồn tại dưới hai dạng thức: những giá trị văn hóa vật thể như tổ chức và con người hoạt động; những giá trị văn hóa phi vật thể như lý tưởng, niềm tin, yêu nước, bản lĩnh chính trị, nếp sống, nhân đạo, nhân văn.
giữ vai trò chi phối, định hướng hình thành, phát triển hệ giá trị chân, thiện, mỹ. Hệ thống các hình thái hoạt động văn hóa, là biểu hiện tập trung và sinh động nhất của các giá trị văn hóa, các quan hệ văn hóa. Hệ thống các hình thái hoạt động văn hóa được coi là phương thức cơ bản để truyền tải các hệ giá trị văn hóa đó đến nhân dân nhằm hiện thực hóa trong thực tiễn. Hệ thống các hình thái hoạt động văn hóa là những hoạt động thường xuyên như tự học tập, sinh hoạt, giao tiếp, trao đổi thông tin tuyên truyền cổ động, câu lạc bộ, thư viện, sách báo, giáo dục truyền thống, văn nghệ quần chúng, hoạt động thể dục thể thao vui chơi giải trí, hoạt động xã hội từ thiện.
Hệ thống các thiết chế văn hóa bao gồm hệ thống thiết chế lãnh đạo, quản lý; các thiết chế tổ chức thực hiện và các thiết chế cơ sở vật chất - văn hóa như thư viện, câu lạc bộ. đóng vai trò chủ thể trực tiếp trong việc lựa chọn các giá trị, thiết kế, chuẩn hóa và phát huy vai trò của toàn bộ các hệ thống khác nhằm bảo đảm đời sống văn hóa, nhu cầu học tập. Tóm lại đời sống văn hóa ở cơ sở là một bộ phận đời sống tinh thần bao gồm các yếu tố, tạo thành cấu trúc của đời sống văn hóa trong xã hội. Vì vậy tổ chức xây dựng đời sống văn hóa xã hội phải chú ý xây dựng đồng bộ của ba yếu tố hợp thành, không được coi nhẹ yếu tố nào.
Những vấn đề cơ bản về xây dựng đời sống văn hóa ở khu dân cư quận Thủ Đức Thành phố Hồ Chí Minh Ngày 06 tháng 01 năm 1997, Chính phủ ban hành Nghị định số 03- CPhttp://vi.org/wiki/Th%E1 %BB%A7_%C4%90%E1 %BB%A9c - 11 cite_note-8 về việc thành lập quận Thủ Đức, quận 2, quận 9, quận 7, quận 12 và thành lập các phường mới thuộc Thành phố Hồ Chí Minh. Trong đó quận Thủ Đức có 12 phường, 73 khu phố, 865 tổ dân phố. Các phường: Linh Chiểu, Linh Tây, Linh Đông, Linh Trung, Linh Xuân, Bình Chiểu, Bình Thọ, Trường Thọ, Tam Bình, Tam Phú, Hiệp Bình Chánh và Hiệp Bình Phước. Quận Thủ Đức là nơi tập trung nhiều cơ sở giáo dục lớn nhỏ, nhiều trường đại học và trung học chuyên nghiệp như: Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh; trường Đại học Nông Lâm; Trường Đại học Sư phạm Kỹ; Trường Đại học An ninh nhân dân; Trường Cao đẳng Công Nghệ Thủ Đức; Trường Đại học Ngân hàng Thành phố Hồ Chí Minh.
Quận Thủ Đức có các tuyến đường chính chạy qua: Quốc Lộ 1A, Xa Lộ Hà Nội, Quốc Lộ 13, Quốc Lộ 1K, Võ Văn Ngân, Kha Vạn Cân, Đặng Văn Bi, Tỉnh Lộ 43, Linh Đông, Hoàng Diệu 2. Thủ Đức có nhiều nhà máy, Công ty, doanh nghiệp của Nhà nước, tư nhân, liên doanh với nước ngoài, doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài, phần lớn tập trung trong các Khu công nghiệp, Khu chế xuất: Khu chế xuất Linh Trung I, Khu chế xuất Linh Trung II, Khu Công Nghiệp Bình Chiểu. Về thương mại, dịch vụ quận có một số chợ truyền thống như chợ Thủ Đức, chợ Bình Triệu, chợ Linh Xuân.chợ Đầu mối Nông sản Tam Bình. Bên cạnh đó là nhiều khu thương mại và dịch vụ lớn tại các Phường Hiệp Bình Chánh, Tam Bình, Bình Chiểu, Linh Chiểu, Linh Xuân.
Thủ Đức tập trung khá nhiều đình chùa, nhà thờ của nhiều tôn giáo khác nhau. Năm 2008, đề án quy hoạch chung của quận Thủ Đức được Ủy ban Nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh phê duyệt với tổng diện tích 4. Theo đó, quận sẽ được quy hoạch như sau: Trung tâm Hành chính quận Thủ Đức sẽ được di dời từ phường Bình Thọ về nơi quy hoạch mới nằm tại phường Tam Phú (theo quy hoạch chung phê duyệt năm 1999). Các Trung tâm Thương mại - dịch vụ sẽ được phát triển tập trung theo hành lang dọc các tuyến đường giao thông lớn như: xa lộ Hà Nội, xa lộ Xuyên Á, đường Võ Văn Ngân, Tân Sơn Nhất - Bình Lợi - vành đai ngoài.
* Khu dân cư trên địa bàn Quận Thủ Đức Khu dân cư là một hình thái tổ chức cơ bản của xã hội. Đó là những cộng đồng dân cư liên kết với nhau trong các sinh hoạt vật chất và tinh thần, có một địa bàn sinh 12 sống cố định với một tổ chức hành chính ổn định. Ở các xã, khu dân cư là các làng, xóm, thôn, ấp, bản. Ở các phường, khu dân cư là những khu phố, khối phố.
Khu dân cư ở các phường trên địa bàn Quận Thủ Đức Thành phố Hồ Chí Minh là những khu phố do phường trực tiếp quản lý về mọi mặt, ở đó có các tầng lớp nhân dân sinh sống và hoạt động hàng ngày với một tổ chức hành chính hoạt động theo Hiến pháp và Pháp luật cùng với đặc điểm riêng về thói quen, phong tục, truyền thống văn hóa.