Chương 1: Tổng quan nghiên cứu văn hóa doanh nghiệp Chương 2 - Phương pháp nghiên cứu VHDN Chương 3: Thực trạng văn hóa doanh nghiệp tại Tổng công ty Cổ phần Bảo hiểm Dâu Chương 4 - Đề xuất giải pháp tiếp tục duy trì và phát triển VHDN tại Tong công ty 10 CHUONG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VE VAN HOÁ DOANH NGHIỆP VÀ XÂY DỰNG VĂN HÓA DOANH NGHIỆP 1.1 Văn Hóa Văn hoá khái niệm có nhiều cách hiểu tuỳ vào cách tiếp cận của người nghiên cứu, liên quan đến mọi mặt đời sông vật chất và tinh thần của cuộc song. La một lĩnh vực đa dang và phức tạp vi vậy khó có thé thống nhất được một khái niệm đầy đủ và chính xác về văn hoá. Năm 1958 , Kroeber và Kluckolm đã siêu tập được hơn 160 định nghĩa khac nhau về văn hóa. Nên việc cùng tồn tại nhiều khái niệm văn hoá khác nhau càng làm van đề được hiéu biết một cách phong phú và toàn diện hơn.
Khái niệm văn hoá do Tổng thư ký UNESCO Federico Mayor nêu ra nhân lễ phát động Thập kỷ thế giới phát triển văn hoá (1988 - 1997): “Văn hoá là tổng thê sống động các hoạt động sáng tạo (của các cá nhân và các cộng đồng) trong quá khứ và hiện tại. Qua các thế kỷ, hoạt động sáng tạo ấy đã hình thành nên hệ thống các giá trị, các truyền thống va thị hiếu - những yếu tô xác định đặc tính riêng của từng dân tộc ”. Theo Chủ tịch Hồ Chí Minh: “Văn hoá là toàn bộ những giá trị vật chất và tỉnh thần do loài người tạo ra trong lịch sử của mình trong mối quan hệ với con người, với tự nhiên và với xã hội”. Các nhà xã hội học chia văn hóa thành hai dạng: Văn hóa cá nhân và văn hóa cộng đồng.
Văn hóa cá nhân là toàn bộ vốn chi thức, kinh nghiệm tích lũy được của mỗi cá nhân được biéu hiện qua quan niệm sống, cách hành sử của cá nhân ấy trong thực tiễn. Văn hóa cộng đồng là văn hóa của một nhóm người, của nhóm xã hội, nó không đơn thuần là phép công của văn hóa cá nhân. Một cách khái quát thì văn hoá là toàn bộ những hoạt động vật chất và tinh thần mà loài người đã sáng tạo ra trong lich sử của minh trong quan hệ với con người, với tự nhiên và với xã hội, được đúc kết lại thành hệ giá trị và chuẩn mực xã hội. Nói tới 11 văn hoá là nói tới con người, nói tới việc phát huy những năng lực bản chất của con người, nhằm hoàn thiện con người, hoàn thiện xã hội.1 Khái niệm Xã hội có một nền văn hóa rộng lớn.
Là một bộ phận của xã hội, mỗi doanh nghiệp cũng hình thành cho mình một văn hóa doanh nghiệp theo lịch sử hình thành và phát triển của bản thân. Cũng như VH nói chung, VHDN cũng có rất nhiều định nghĩa và cách hiểu khác nhau. Các khái niệm đó sẽ giúp ta hiểu một cách toàn diện hơn về văn hóa doanh nghiệp. Một định nghĩa phổ biến và được chấp nhận rộng rãi do chuyên gia nghiên cứu các tổ chức Edgar Schein đưa ra: “VHDN là tổng hợp các quan niệm chung mà các thành viên trong công ty học được trong quá trình giải quyết các vấn đề nội bộ và xử lý các vẫn đề với môi trường xung quanh”.
Theo Edward Taylor: “ Văn hóa là tổng thé các truyền thống của cấu trúc và các bí quyết kinh doanh xác lập quy tắc ứng xử nội tại, gắn bó các thành viên với nhau trong một doanh nghiệp. Nó bao gồm toàn bộ phương thức tiến hành kinh doanh, quản lý kinh doanh, đàm phán với đối tác, giải quyết các nhiệm vụ xuất hiện trong quá trình kinh doanh như tổ chức doanh nghiệp, hình thành quan hệ giữa người sử dụng lao động với người lao động trong doanh nghiệp”. Trong Giáo trình Đạo đức kinh doanh và văn hoá doanh nghiệp của trường Đại học Kinh tế Quốc dân có viết : Văn hoá doanh nghiệp được định nghĩa là một hệ thong các ỷ nghĩa, giá trị, niềm tin chủ đạo, nhận thức và phương pháp tư duy được mọi thành viên của một tổ chức cùng đồng thuận và có ảnh hưởng ở phạm vi rộng đến cách thức hành động của các thành viên.Văn hoá kinh doanh thê hiện sự đồng thuận về quan điểm, sự thống nhất trong cách tiếp cận và trong hành vi của các thành viên một doanh nghiệp. Nó có tác dụng giúp phân biệt giữa doanh nghiệp này với các doanh nghiệp khác.
Chúng được mọi thành viên trong doanh nghiệp chấp thuận có ảnh hưởng trực tiếp, hàng ngày đến hành động và việc ra quyết định của từng người và được hướng dẫn cho những thành viên mới để tôn trọng và làm theo. 12 Chính vì vậy chúng còn được gọi là “bản sắc riêng” hay “bản sắc văn hoá” của một doanh nghiệp mà mọi người có thể xác định được và thông qua đó có thé nhận ra được quan điểm và triết lý đạo đức của một doanh nghiệp. Như vậy VHDN không phải là thứ được các doanh nghiệp tự nhiên nghĩ ra, mà nó được hình thành và phát triển theo lịch sử của doanh nghiệp đó. Hay nói cách khác thì VHDN là toàn bộ các giá trị văn hoá được gây dựng nên trong suốt quá trình tồn tại và phát triển của một doanh nghiệp, trở thành các giá trị, các quan niệm và tập quán, truyền thông ăn sâu vào hoạt động của doanh nghiệp và chi phối tinh cảm, nếp suy nghĩ và hành vi của mọi thành viên của doanh nghiệp trong việc theo đuôi và thực hiện các mục đích chung.
Thông qua VHDN ta có thé biết được ban chat, cách hoạt động, cũng như nét đặc trưng riêng của doanh nghiệp đó. Nó thê hiện cái tôi cá nhân của mỗi doanh nghiệp trong môi trường kinh doanh, sản xuất nói chung. Tuy những khái niệm về VHDNở trên chưa phải là tất cả song đó cũng là những nét chung và tương đối day đủ về VHDN xét theo phạm vi nghiên cứu của luận văn này.2 Đặc điểm văn hoá doanh nghiệp Văn hoá doanh nghiệp có một số đặc điểm. Thứ nhất, văn hoá doanh nghiệp liên quan đến nhận thức.
Các cá nhân nhận thức được văn hoá của doanh nghiệp thông qua những gì họ nhìn thấy, nghe được trong phạm vi doanh nghiệp. Cho dù các thành viên có thể có trình độ hiểu biết khác nhau, vị trí công tác khác nhau, họ vẫn luôn có xu thế mô tả văn hoá doanh nghiệp theo cách tương tự. Đó chính là “sự chia sẻ” về văn hoá doanh nghiệp. Thứ hai, văn hoá doanh nghiệp có tính thực chứng.
Văn hoá doanh nghiệp đề cập đến cách thức các thành viên nhận thức về doanh nghiệp. Có nghĩa là, chúng mô tả chứ không đánh giá hệ thống các ý nghĩa và giá trị của doanh nghiệp.3 Biểu hiện của văn hoá doanh nghiệp 1.1 Các biểu hiện trực quan: Văn hoá doanh nghiệp của một doanh nghiệp được thé hiện bằng những biéu trưng trực quan điển hình là (a) đặc điểm kiến trúc, (b) nghỉ lễ, (c) giai thoại, (d) biểu tượng, (e) ngôn ngữ, (f) ấn phẩm điền hình. 13 Kiến trúc đặc trưng BIEU TRƯNG TRỰC QUAN CỦA : VĂN HÓA. DOANH ngữ, khâu NGHIỆP Giai thoại hiệu Hình 1.1 Các biểu trưng trực quan của văn hóa doanh nghiệp a).
Đặc điểm kiến trúc Kiến trúc đặc trưng gồm kiến trúc ngoại thất và kiến trúc nội thất công sở được sử dụng như những biểu tượng và hình ảnh về Công ty, dé tạo ấn tượng thân quen, thiện chí trong công ty. Kiến trúc ngoại thất như mặt tiền trụ SỞ, kiến trúc công ra vào, cách bố Cục. phần lớn các công ty đều muốn gây ấn tượng với mọi người ngay từ cái nhìn đầu tiên về sự độc đáo, sức mạnh và thành công của doanh nghiệp mình bằng những công trình kiến trúc đặc biệt và đồ sộ. Các công trình kiến trúc này được sử dụng như biểu tượng về hình anh cho doanh nghiệp, khang định sự khác biệt của họ với doanh nghiệp khác.
Đôi khi yếu tố ngoại thất của doanh nghiệp còn được xây dựng gắn kết trực tiếp với hình ảnh nhãn hiệu độc quyền của công ty. Không chỉ những kiến trúc bên ngoài mà những kiến trúc nội thất bên trong cũng được các công ty, tổ chức quan tâm. Từ những yếu tố về màu sắc sản phẩm, bao bì, quy các đóng gói, tới các chỉ tiết về thiết kế không gian văn phòng, cách bố trí, trang trí các phòng làm việc, không gian đi lại, thiết kế đồng phục. tất cả đều 14 được sử dụng nhàm mục đích tạo sự thân quen, thiện chí và thu hút sự quan tâm của mọi người với tổ chức mình.
Thiết kế kiến trúc được các doanh nghiệp rất quan tâm là vì những lý do sau: e©_ Kiến trúc ngoại that có thé có ảnh hưởng quan trọng đến hành vi con người về phương diện cách thức giao tiếp, phản ứng và thực hiện công việc. e Công trình kiến trúc có thé được coi là một linh vật biểu thị một ý nghĩa, giá trị nào đó của một doanh nghiệp. e© Kiểu dáng kết cấu có thé được coi là biểu tượng cho phương châm chiến lược của doanh nghiệp. e_ Công trình kiến trúc trở thành một bộ phận hữu cơ trong các sản phẩm của doanh nghiệp.
e Trong mỗi công trình kiến trúc đều chứa đựng những giá trị lịch sử gắn liền với sự ra đời và trưởng thành của doanh nghiệp, các thế hệ nhân viên. Nghỉ lễ, lễ hội: Nghỉ lễ hay các lễ hội là những hoạt động đã được dự kiến từ trước và chuẩn bị kỹ lưỡng dưới hình thức các hoạt động, sự kiện văn hoá — xã hội chính thức, nghiêm trang, tình cảm được thực hiện định kỳ hoặc bat thuong nhằm that chặt mối quan hệ tô chức và thường được tô chức vì lợi ích của những người tham dự. Những người quản lý có thể sử dụng lễ nghỉ như một cơ hội quan trọng dé giới thiệu về những giá trị được tô chức coi trọng. Đó cũng là dip đặc biệt dé nhấn mạnh những giá trị riêng của tô chức, tạo cơ hội cho mọi thành viên cùng chia sẻ cách nhận thức về những sự kiện trọng đại, dé nêu gương và khen tặng những tắm gương điển hình đại biểu cho những niềm tin và cách thức hành động cần tôn trọng của tô chức.
Có bốn loại nghi lễ cơ bản: + Chuyên giao (như các lễ khai mạc, giới thiệu thành viên mới, lễ ra mắt.) + Củng cố (như lễ phat phần thưởng) + Nhắc nhở (như sinh hoạt văn hoá, chuyên môn.) + Liên kết (như lễ hội, liên hoan.