Chương 1: Cơ sở lý luận về văn hóa doanh nghiệp và quá trình hội nhập quốc tế Chương 2: Thực trạng văn hóa doanh nghiệp tại Công ty CP Vinafco Chương 3: Đề xuất một số giải pháp nhằm xây dựng văn hóa doanh nghiệp trong quá trình hội nhập quốc tế tại Công ty CP Vinafco 10 z CHƢƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ VĂN HÓA DOANH NGHIỆP TRONG QUÁ TRÌNH HỘI NHẬP QUỐC TẾ 1. Tổng quan về văn hóa doanh nghiệp Thuật ngữ Văn hóa doanh nghiệp (VHDN) đã được ra đời tại các nước Âu-Mỹ vào nửa sau thế kỷ XX, khi người ta nhận ra rằng, thế giới đã và đang thay đổi nhanh chóng. Lúc này các hình thái hoạt động sống của con người trở nên phong phú, nhu cầu chia sẻ những mục tiêu khát vọng, các giá trị chung (nhân tố quan trọng cấu thành văn hóa) ngày càng gia tăng trong xã hội phát triển. Trong sự phát triển của kinh tế xã hội người ta bỗng nhận thức ra rằng: công việc kinh doanh xưa chỉ chạy theo động cơ “lợi nhuận” thì ngày nay cần phải có thêm định hướng văn hóa.
Hiện nay, quan niệm về VHDN rất đa dạng, tùy theo góc nhìn (cách tiếp cận) mà mỗi người lại có cách hiểu, cách giải thích khác nhau. Hiện có trên 300 định nghĩa khác nhau về VHDN. Có một số cách định nghĩa VHDN đáng chú ý như sau: Theo Elliott Jaques (1952): “Văn hóa của một doanh nghiệp là các tư duy và àn độn àn n ày củ các t àn v ên” [25, tr12]. Văn hóa theo nghĩa này bao gồm một loạt các hành vi ứng xử, các phương thức sản xuất, kỹ năng và kiến thức kỹ thuật, quan điểm về kỷ luật, các thông lệ và thói quen quản lý, các mục tiêu của những người liên quan, cách trả lương, quan điểm về các công việc khác nhau, niềm tin vào tính dân chủ trong các buổi thảo luận và những quy ước, những điều cấm kỵ.D (1972): “Văn hóa của một tổ chức là biểu hiện của một hình thái đặc thù về chuẩn mực á trị, niềm tin, các àn động đặc trưng cho cách thức một nhóm người hay nhiều người phối hợp với nhau khi làm một việc gì đó.
Tính đặc thù của một tổ chức có nguồn gốc sâu xa từ lịch sử phát triển của tổ chức, từ những nhân tố ảnh hưởng đến việc hình thành phong cách của tổ chức như những quyết định 11 z quan trọng trước kia, phong cách, quan điểm của những người lãnh đạo cũ. Chúng được thể hiện thông qua những phong tục, tập quán và quan niệm mà mỗi thành viên đều coi trọng, cũng như thông qua những quyết định chiến lược của một tổ chức” [20, tr34] Đối với Schwartz H và Davis S.M (1981): “Văn hóa là nếp t n và kỳ vọng chung của tất cả mọi thành viên một tổ chức. Những niềm tin và kì vọng này hình thành những chuẩn mực đầy quyền uy trong việc định hình hành vi của cá nhân và tập thể trong tổ chức”. Schein một nhà quản trị nổi tiếng người Mĩ từng viết (1984): “VHDN là tập hợp các quy ước cơ bản do các n à lãn đạo doanh nghi p đề ra, phát hiện hay xây dựng nên để giải quyết những vấn đề về sự thích ứng với bên ngoài và sự hòa nhập bên trong của tổ chức.
Những quy ước này phải được coi là có hiệu lực và chuẩn mực để các thành viên của tổ chức thấm nhuần và tuân thủ”. [19, tr30] Theo tổ chức lao động quốc tế (ILO): “VHDN là sự trộn lẫn đặc biệt của các á trị, các t êu c uẩn, t quen và truyền t ốn , n ữn t á độ ứn xử và lễ n mà toàn bộ chúng là duy nhất với một tổ chức đã biết”. Dù tiếp cận ở góc độ nào thì các định nghĩa đều thống nhất quan điểm rằng: V n do n n êp là toàn bộ n ữn á trị (dướ dạn vật t ể y p vật t ể) và các c uẩn mực do do n n p tạo r tron quá trìn sản xuất k n do n , n tác độn đến tìn cảm, lý trí và àn v củ các t àn v ên tron do n n p, n trở t àn bản sắc r ên c củ do n n p, tạo nên sự p át tr ển bền vữn củ do n n p. 12 z Về bản chất, văn hóa doanh nghiệp là hệ các giá trị (dưới dạng vật thể và phi vật thể) được các thành viên của doanh nghiệp chia sẻ và đề cao, thể hiện ra bên ngoài thành các chuẩn mực hay là bộ quy tắc ứng xử chi phối nếp suy nghĩ, hành vi và thái độ của các thành viên.
Nó tác động sâu sắc tới động cơ hành động của doanh nghiệp, tạo thành định hướng có tính chất chiến lược cho bản thân doanh nghiệp. Văn hóa doanh nghiệp luôn đóng vai trò như một lực lượng hướng dẫn, một sức mạnh cố hữu trong doanh nghiệp, là ý chí thống nhất toàn thể lãnh đạo và nhân viên của doanh nghiệp, là hạt nhân liên kết doanh nghiệp với xã hội. Như vậy, chức năng chủ yếu của VHDN là tạo nên sự thống nhất của mọi thành viên trong doanh nghiệp. Ngoài ra VHDN đảm bảo sự hài hòa giữa lợi ích tập thể với lợi ích cá nhân và giúp cho mỗi cá nhân thực hiện vai trò của mình theo đúng định hướng chung của doanh nghiệp.
Nhìn chung VHDN động viên nghị lực và ý chí của các thành viên trong doanh nghiệp và hướng tinh thần đó vào việc phấn đấu cho mục đích của doanh nghiệp. Trong tình hình cạnh tranh ngày càng gay gắt của nền kinh tế thị trường và xu hướng toàn cầu hóa, hội nhập quốc tế, các doanh nghiệp muốn tồn tại và phát triển phải, phải liên tục tìm tòi những cái mới, sáng tạo và thay đổi thực tế. Làm thế nào để doanh nghiệp trở thành nơi tập hợp, phát huy nguồn lực con người nhằm phát triển bền vững. Điều này đòi hỏi doanh nghiệp phải xây dựng và duy trì một nền nếp văn hóa đặc thù.
Có thể nói VHDN chính là tài sản vô hình của mỗi doanh nghiệp, đóng vai trò nâng cao sức cạnh tranh và làm cho doanh nghiệp phát triển bền vững. Hội nhập quốc tế Hội nhập quốc tế là một quá trình phát triển tất yếu, do bản chất xã hội của lao động và quan hệ giữa con người. Sự ra đời và phát triển của kinh tế thị trường cũng là động lực hàng đầu thúc đẩy quá trình hội nhập. Hội nhập diễn 13 z ra dưới nhiều hình thức, cấp độ và trên nhiều lĩnh vực khác nhau, theo tiến trình từ thấp đến cao.
Hội nhập đã trở thành một xu thế lớn của thế giới hiện đại, tác động mạnh mẽ đến quan hệ quốc tế và đời sống của từng quốc gia. Ngày nay, hội nhập quốc tế là lựa chọn chính sách của hầu hết các quốc gia để phát triển. Những năm gần đây, hội nhập quốc tế đã trở thành ngôn từ khá thân quen với hầu hết người Việt Nam. Tuy vậy, nhưng không phải ai cũng thực sự hiểu khái niệm này; đặc biệt, hiểu nó một cách đầy đủ và ngọn ngành.
Giới học thuật và những nhà hoạch định chính sách cũng còn hiểu rất khác nhau và vẫn tiếp tục tranh luận về nhiều khía cạnh của hội nhập quốc tế. Trong bối cảnh nước ta đang “tích cực, chủ động hội nhập quốc tế” theo tinh thần Nghị quyết Đại hội Đảng lần thứ XII vừa qua, việc xác định đúng ý nghĩa, bản chất, nội hàm, xu hướng vận động cũng như hệ lụy của hội nhập quốc tế là rất cần thiết và có ý nghĩa quan trọng trong việc xây dựng chiến lược, chính sách và các biện pháp cụ thể của nước ta trong quá trình hội nhập. Thuật ngữ “hội nhập quốc” tế trong tiếng Việt có nguồn gốc dịch từ tiếng nước ngoài (tiếng Anh là “international integration”, tiếng Pháp là “intégration internationale”). Đây là một khái niệm được sử dụng chủ yếu trong các lĩnh vực chính trị học quốc tế và kinh tế quốc tế, ra đời từ khoảng giữa thế kỷ XX ở châu Âu, trong bối cảnh những người theo trường phái thể chế chủ trương thúc đẩy sự hợp tác và liên kết giữa các cựu thù (Đức-Pháp) nhằm tránh nguy cơ tái diễn chiến tranh thế giới thông qua việc xây dựng Cộng đồng châu Âu.
Trên thực tế cho đến nay, có nhiều cách hiểu và định nghĩa khác nhau về khái niệm “hội nhập quốc tế”. Tựu chung, có ba cách tiếp cận chủ yếu sau: Cách tiếp cận thứ nhất, thuộc về trường phái theo chủ nghĩa liên bang, cho rằng hội nhập (integration) là một sản p ẩm cuố cùn ơn là một quá 14 z trìn. Sản phẩm đó là sự hình thành một Nhà nước liên bang kiểu như Hoa Kỳ hay Thụy Sỹ. Để đánh giá sự liên kết, những người theo trường phái này quan tâm chủ yếu tới các khía cạnh luật định và thể chế [22, tr76].
Cách tiếp cận thứ hai, với Karl W. Deutsch là trụ cột, xem hội nhập trước hết là sự liên kết các quốc gia thông qua phát triển các luồng giao lưu như thương mại, đầu tư, thư tín, thông tin, du lịch, di trú, văn hóa… từ đó hình thành dần các cộng đồng an ninh (security community) [22, 20]. Theo Deutsch, có hai loại cộng đồng an ninh: loại cộng đồng an ninh hợp nhất như kiểu Hoa Kỳ, và loại cộng đồng an ninh đa nguyên như kiểu Tây Âu. N ư vậy, các t ếp cận t ứ này xem xét ộ n ập vừ là một quá trìn vừ là một sản p ẩm cuố cùn.
Cách tiếp cận thứ ba xem xét hội nhập dưới góc độ là hiện tượng/hành vi các nước mở rộng làm sâu sắc hóa quan hệ hợp tác với nhau trên cơ sở phân công lao động quốc tế có chủ đích, dựa vào lợi thế của mỗi nước và mục tiêu theo đuổi. Cách tiếp cận thứ nhất có nhiều hạn chế vì nó không đặt hiện tượng hội nhập trong quá trình phát triển mà chỉ nhìn nhận hiện tượng này (chủ yếu về khía cạnh luật định và thể chế) trong trạng thái tĩnh cuối cùng gắn với mô hình Nhà nước liên bang. Cách tiếp cận này khó áp dụng để phân tích và giải thích thực tiễn của quá trình hội nhập diễn ra với nhiều hình thức và mức độ khác nhau như hiện nay trên thế giới. Không phải bất cứ sự hội nhập nào cũng dẫn đến một Nhà nước liên bang.