CHƯƠNG 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ VĂN HÓA DOANH NGHIỆP 1. Những nội dung cơ bản về văn hóa doanh nghiệp 1. Khái niệm văn hóa doanh nghiệp Trong những thập kỷ gần đây, với sự thành công của các tập đoàn đa quốc gia đặc biệt các tập đoàn của Nhật Bản, Hàn Quốc cũng như các tập đoàn của Việt Nam như Vingroup, Vinamilk…, vấn đề văn hóa doanh nghiệp được các chuyên gia tập trung nghiên cứu.
Thậm chí, ở nhiều trường đại học, văn hóa doanh nghiệp đã được xem như một môn học chính thống, cho thấy tầm quan trọng của nó đối với mỗi tổ chức. Nhiều doanh nghiệp cũng mong muốn nghiên cứu và học hỏi từ các mô hình văn hóa doanh nghiệp thành công như thế. Vậy, văn hóa doanh nghiệp có ý nghĩa gì? Nó ảnh hưởng như thế nào đến mỗi tổ chức và cá nhân? Cho đến nay, có rất nhiều định nghĩa về văn hóa doanh nghiệp, và cho đến nay thì cũng chưa có một sự công nhận chính thức nào về việc định nghĩa nào là chuẩn. Vì vậy, tùy vào mục đích của người nghiên cứu thì sẽ sử dụng khái niệm phù hợp nhất.
Một số định nghĩa về văn hóa doanh nghiệp mà tác giả lựa chọn để phân tích trong luận văn này bao gồm: Theo ông Georges de Saite Marie, một chuyên gia người Pháp về doanh nghiệp vừa và nhỏ, "Văn hóa doanh nghiệp là tổng hợp các giá trị, biểu tượng, huyền thoại, nghi thức, các quan niệm triết học và đạo đức, tạo thành nền móng sâu xa cho doanh nghiệp." “Văn hóa doanh nghiệp là sự trộn lẫn đặc biệt các giá trị, các tiêu chuẩn, thói quen và truyền thống, những thái độ ứng xử và lễ nghi mà toàn bộ chúng là duy nhất đối với một tổ chức đã biết” (Theo Tổ chức Lao động quốc tế - ILO) Theo định nghĩa tại Từ điển kinh doanh: Văn hóa doanh nghiệp bao gồm kỳ vọng, kinh nghiệm, triết lý của tổ chức, cũng như các giá trị hướng dẫn hành vi vủa thành viên và được thể hiện trong hình ảnh bản thân, hoạt động bên trong, tương tác với thế giới bên ngoài và kỳ vọng trong tương lai. Văn hóa dự trên thái độ, tín ngưỡng, phong tục tập quán và các quy tắc bằng văn bản và bất thành văn đã được phát triển theo thời gian và được coi là hợp lệ. 9 Văn hóa cũng bao gồm tầm nhìn, giá trị, chuẩn mực, hệ thống, biểu tượng, ngôn ngữ, giả định, niềm tin và thói quen của tổ chức. (Needle, 2024) Dựa trên những nghiên cứu đã thực hiện, tác giả tổng hợp định nghĩa về văn hóa doanh nghiệp như sau: Văn hóa doanh nghiệp là tập hợp các yếu tố văn hóa mà doanh nghiệp lựa chọn, tạo ra, sử dụng và thể hiện trong các hoạt động kinh doanh, góp phần tạo nên đặc trưng riêng của doanh nghiệp đó.
Vai trò của văn hóa doanh nghiệp Trong quá trình phát triển và hoạt động của mình, các tổ chức thường phải tiến hành nhiều thay đổi để tối ưu hóa hoạt động kinh doanh. Mục đích chính của họ là tái cấu trúc tổ chức, sử dụng các công cụ và phương pháp hiệu quả để phát triển. Trong bối cảnh cạnh tranh khốc liệt, các công ty cần phân tích sâu các quy trình trên thị trường và trong công ty, tìm ra cơ sở vật chất để thúc đẩy sự đổi mới và tận dụng tiềm năng. Văn hóa doanh nghiệp đóng vai trò quan trọng trong việc thúc đẩy quy tắc ứng xử của nhân viên, tạo động lực thông qua sự công nhận và hài lòng bản thân, cũng như đóng vai trò là một hướng dẫn cho hành động và tư duy của nhân viên.
Nó cũng giúp tăng cường sự gắn kết giữa các nhân viên bằng cách tạo ý thức về bản sắc của tổ chức, tăng cường sự tin tưởng và hợp tác lẫn nhau trong tổ chức. Văn hóa doanh nghiệp đóng vai trò quan trọng trong tác động tới bên ngoài, đặc biệt là khách hàng. Nó phản ánh những giá trị, tư duy và hành vi của Ngân hàng TMCP Bưu điện Liên Việt, tạo ra ấn tượng và lòng tin cho khách hàng. Văn hóa doanh nghiệp góp phần xây dựng một môi trường chuyên nghiệp, năng động và hỗ trợ khách hàng tốt.
Điều này tạo ra một trải nghiệm dịch vụ tốt, thể hiện qua sự tận tâm, sự chu đáo và sự đáp ứng nhanh chóng đến nhu cầu và mong muốn của khách hàng. Văn hóa doanh nghiệp của Ngân hàng TMCP Bưu điện Liên Việt giúp tạo lập mối quan hệ bền vững với khách hàng, xây dựng uy tín và giúp nâng cao sự cạnh tranh trên thị trường. Các yếu tố cấu thành văn hóa doanh nghiệp Lợi ích của văn hóa doanh nghiệp mạnh mẽ vừa trực quan vừa được hỗ trợ bởi 10 khoa học xã hội. Heskett, văn hóa "có thể chiếm 20-30% sự khác biệt trong hiệu suất của công ty khi so sánh với các đối thủ cạnh tranh 'không đáng kể về mặt văn hóa'." Các tác giả tại HBR đã đưa ra một số lời khuyên về cách điều chỉnh các văn hóa địa phương khác nhau, chọn lựa công việc phù hợp với văn hóa, thay đổi văn hóa và cung cấp phản hồi giữa các văn hóa khác nhau, cùng với các chủ đề khác.
Nhưng điều gì tạo nên một nền văn hóa? Mỗi nền văn hóa là duy nhất và vô số yếu tố tạo ra một nền văn hóa. Theo nhà báo John Coleman đã quá quan sát và nhận định rằng có ít nhất sáu yếu tố tạo nên một văn hóa doanh nghiệp vĩ đại. Việc tích hợp các yếu tố đó có thể là bước đầu tiên để xây dựng một nền văn hóa khác biệt và một tổ chức lâu dài phát triển trường tồn. Tầm nhìn: Một nền văn hóa tuyệt vời bắt đầu bằng một tuyên bố về tầm nhìn hoặc sứ mệnh.
Các cụm từ đơn giản này chỉ dẫn các giá trị của công ty và cung cấp cho nó mục đích. Mục đích này, trong khi đó, hướng dẫn mọi quyết định của nhân viên. Khi chúng được xác thực một cách thấu đáo và được trình bày rõ ràng, các tuyên bố tầm nhìn tốt có thể thậm chí giúp định hướng khách hàng, nhà cung cấp và các bên liên quan khác. Các tổ chức phi lợi nhuận thường xuất sắc trong việc có những tuyên bố tầm nhìn đơn giản, hấp dẫn.
Ví dụ, Hiệp hội Alzheimer dành riêng cho "một thế giới không có bệnh Alzheimer". Và Oxfam hình dung "một thế giới công bằng không có nghèo đói". Một tuyên bố tầm nhìn là một yếu tố đơn giản nhưng nền tảng của văn hóa. Giá trị: Cốt lõi của văn hóa chính là giá trị doanh nghiệp.
Trong khi tầm nhìn thể hiện rõ mục đích của công ty, các giá trị cung cấp một bộ hướng dẫn về các hành vi và tư duy cần thiết để đạt được tầm nhìn đó. Ví dụ, McKinsey & Company có một bộ giá trị rõ ràng được truyền đạt nổi bật đến tất cả nhân viên và liên quan đến cách mà công ty thề sẽ phục vụ khách hàng, đối xử với đồng nghiệp và duy trì các tiêu chuẩn chuyên nghiệp. Các giá trị của Google có thể được thể hiện rõ nhất bằng cụm từ nổi tiếng của họ, "Đừng trở nên xấu xa". Nhưng chúng cũng được ghi nhận trong "mười điều chúng ta biết là đúng." Và trong khi nhiều công ty nhận thấy giá trị của họ xoay quanh một vài chủ đề đơn giản (nhân viên, khách hàng, tính chuyên nghiệp, 11 v.), tính nguyên bản của những giá trị đó ít quan trọng hơn tính xác thực của chúng.
Thực tiễn: Tất nhiên, các giá trị có tầm quan trọng nhỏ trừ khi chúng được ghi nhận trong các hoạt động của công ty. Nếu một tổ chức tuyên bố, "con người là tài sản lớn nhất của chúng tôi", thì tổ chức đó cũng nên sẵn sàng đầu tư vào mọi người theo những cách hữu hình. Ví dụ, Wegman's báo trước các giá trị như "quan tâm" và "tôn trọng", hứa hẹn triển vọng "một công việc [họ sẽ] yêu thích." Và nó tuân theo các hoạt động của công ty, được Fortune xếp hạng là công ty tốt thứ năm để làm việc. Tương tự, nếu một tổ chức coi trọng hệ thống phân cấp "phẳng", tổ chức đó phải khuyến khích nhiều thành viên trong nhóm cấp dưới hơn bất đồng quan điểm trong các cuộc thảo luận mà không sợ hãi hoặc hậu quả tiêu cực.
Và bất kể giá trị của một tổ chức là gì, họ phải được củng cố trong các tiêu chí xem xét và chính sách thăng tiến, và được đưa vào các nguyên tắc hoạt động của cuộc sống hàng ngày trong công ty. Con người: Một tổ chức không thể xây dựng được nền văn hóa mạnh mẽ nếu không có những nhân viên chia sẻ giá trị cốt lõi của tổ chức và có khả năng hiểu và áp dụng chúng trong công việc. Đó là lý do tại sao các công ty hàng đầu thế giới thường có chính sách tuyển dụng khắt khe để đảm bảo sự phù hợp giữa nhân viên và giá trị của tổ chức. Theo Charles Ellis, như đã lưu ý trong một bài đánh giá gần đây về cuốn sách What it takes của ông: Seven Secrets of Success from the World's Greatest Professional Firms, các công ty tốt nhất là "cuồng tín trong việc tuyển dụng nhân viên mới, những người không chỉ tài năng nhất mà còn phù hợp nhất với một nền văn hóa doanh nghiệp cụ thể".
Ellis nhấn mạnh rằng các công ty đó thường có 8- 20 người phỏng vấn mỗi ứng viên. Và như một lợi ích bổ sung, Steven Hunt lưu ý tại Monster.com rằng một nghiên cứu cho thấy những ứng viên phù hợp với văn hóa sẽ chấp nhận mức lương thấp hơn 7% và các khoa có sự liên kết văn hóa có doanh thu ít hơn 30%. Mọi người gắn bó với các nền văn hóa mà họ thích, và việc đưa vào đúng "người vận chuyển văn hóa" củng cố văn hóa mà một tổ chức đã có. Sức mạnh của câu chuyện: Marshall Ganz từng là một phần quan trọng trong phong trào lao động nông nghiệp của Caesar Chavez và đã giúp cấu trúc nền tảng tổ chức cho chiến dịch tranh cử tổng thống năm 2008 của Barack Obama.
Hiện là giáo 12 sư tại Harvard, một trong những lĩnh vực nghiên cứu và giảng dạy cốt lõi của Ganz là sức mạnh của câu chuyện. Bất kỳ tổ chức nào cũng có một lịch sử độc đáo - một câu chuyện độc đáo. Và khả năng khai quật lịch sử đó và biến nó thành một câu chuyện kể là một yếu tố cốt lõi của sự sáng tạo văn hóa.