CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ THUYẾT 1. KHÁI NIỆM VỀ LÒNG TRUNG THÀNH (của nhân viên với tổ chức) Có nhiều khái niệm trong nghiên cứu về lòng trung thành; Trong phạm vi bài luận văn này, tác giả chỉ đề cập đến khái niệm về lòng trung thành của nhân viên với tổ chức hay còn gọi là cam kết gắn bó với tổ chức. Trong đó: - Theo Allen, NJ & Meyer, J.P (1990) chú trọng ba trạng thái tâm lý của nhân viên khi gắn kết tổ chức: (1) Một là, nhân viên có thể trung thành với tổ chức xuất phát từ tình cảm thật sự của họ, họ sẽ ở lại với tổ chức do có tổ chức khác trả lương cao hơn hoặc có điều kiện làm việc tốt hơn; (2) Hai là, họ có thể trung thành với tổ chức chỉ vì họ không có cơ hội kiếm được công việc tốt hơn; (3) Ba là, họ có thể trung thành với tổ chức vì nhứng chuẩn mực đạo đức mà họ theo đuổi. - Theo Mowday và cộng sự (1979), cho rằng trung thành là “ý định hoặc mong muốn duy trì là thành viên của tổ chức”.
- Theo Man Power (2002) thì trung thành bao gồm: (1) Sẵn lòng giới thiệu công ty mình như một nơi làm việc tốt, (2) Sẵn lòng giới thiệu các sản phẩm/ dịch vụ của công ty, (3) Có ý định gắn bó lâu dài với công ty. - Theo Johnson (2005), nhân viên “trung thành với nghề nghiệp của họ hơn trung thành với nhà tuyển dụng”. - Còn theo Lee Caraher lại có khái niệm mới về lòng trung thành: "Trung thành có nghĩa là nghỉ việc khi ta không còn động lực làm việc", Lee Caraher - người sáng lập và Giám đốc Điều hành của Công ty Truyền thông Double Forte, có trụ sở tại San Francisco (Mỹ) đã nói vậy trong quyển sách mới của cô, The Boomerang Principle (Định lý Boomerang). Lòng trung thành theo định nghĩa mới này có 3 yếu tố chủ yếu: (1) Đầu tiên, chúng ta cần nhìn nhận công việc là con đường hai chiều.
Tất nhiên vẫn cần có cam kết về sự phát triển của công ty. Mỗi nhân viên đều phải góp sức vào quá trình phát triển đó, tùy vào khả năng và vai trò của họ. Bên cạnh đó, công ty cũng phải cam kết về việc phát triển nhân viên tương tự như họ đã làm 8 với công ty. Những người lãnh đạo phải thể hiện sự cam kết này bằng những cách đơn giản sau: tìm hiểu những khó khăn nhân viên đang phải đối mặt và cố gắng giúp đỡ họ thay đổi; đồng bộ những nhu cầu của công ty với sự phát triển của từng cá nhân dựa trên mục tiêu, giá trị và thế mạnh của nhân viên; tạo điều kiện cho nhân viên học hỏi bằng cách đưa họ đến những buổi rèn luyện kỹ năng, sự kiện doanh nghiệp; ghép đôi mỗi nhân viên với một người hướng dẫn; dành thời gian chỉ dẫn cho nhân viên.
(2) Tiếp theo, khái niệm mới về lòng trung thành của nhân viên không được quyết định bởi sự chiếm hữu. Thay vào đó, nó dựa trên nền tảng công bằng của mối quan hệ hai chiều. Hơn nữa, nó không bị giới hạn trong việc chỉ mua sức lao động. Caraher đã viết rằng khi một ai đó "không còn tham gia, làm việc hay hạnh phúc" tại nơi làm việc, thì hành động trung thành nhất của họ chính là xin nghỉ”.
Từ góc nhìn này, nhân viên thực sự quan tâm đến hiệu quả làm việc và sự thỏa mãn của họ trong việc tạo ra thành quả. Khi những cảm xúc này giảm đi, một nhân viên trung thành sẽ tin rằng công việc của anh ta đã hoàn thành và đã đến lúc để bước tiếp. Không khác lắm với việc một người quản lý cấp cao quyết định đã đến lúc chuyển công tác vì cô ấy đã làm xong việc cô ấy được thuê làm. Lòng trung thành này không bị giới hạn ở việc mua sức lao động.
Nếu nhân viên có trải nghiệm tích cực khi làm việc ở công ty, họ sẽ vẫn tận tâm với công ty dù đã chuyển công tác. Họ sẽ giới thiệu bạn bè ứng tuyển vào công ty. Họ nói những điều tốt về công ty trên mạng xã hội. Đây chính là lời khen tốt nhất mà công ty có thể có được.
(3) Cuối cùng, hành động mang tính trung thành nhất từ người quản lý chính là thuê lại nhân viên đã từng nghỉ việc. Quay lại quyển sách của Caraher, cô ấy gọi chiến lược này là Định lý Boomerang. Định lý khá đơn giản: nhân viên đã ra đi và muốn quay lại thường đã tự hình thành những kỹ năng mới từ những trải nghiệm khác nhau. Họ quay lại với những góc nhìn mới và vô cùng có ích cho cả họ lẫn công ty.
Khái niệm về lòng trung thành theo cách hiểu của Lee Caraher như trên đã thay đổi so với các khái niệm trước đây. Nó chỉ có thể đạt được bởi những 9 người lãnh đạo tài năng, những người tạo ra môi trường làm việc hiệu quả để phát triển. Nó chỉ có thể đạt được bởi những nhân viên chủ động vận dụng và nâng cao khả năng của bản thân. Cả hai đều phải làm chủ, tận dụng được những điều kiện được đưa tới cho họ.
Cuối cùng, lòng trung thành mới này chỉ đạt được khi có được sự kính trọng và ngưỡng mộ từ cả hai bên. Nhìn chung, quan điểm về lòng trung thành chưa phổ biến rộng rãi ở các doanh nghiệp Việt Nam và còn gặp nhiều khó khăn trong việc đo lường. Vì vậy, trong khóa luận này vẫn sử dụng định nghĩa lòng trung thành của Mowday, coi lòng trung thành là: “Ý định hoặc mong muốn duy trì là thành viên của tổ chức và tham gia nhiệt tình, làm việc hết mình vì mục tiêu tổ chức”. Như vậy, lòng trung thành của nhân viên đối với tổ chức vừa xem xét đến các nhân tố tác động từ phía doanh nghiệp vừa xem xét đến các nhân tố xuất phát từ lý do cá nhân nhân viên.
NHÌN NHẬN VỀ GIÁ TRỊ CỦA LÒNG TRUNG THÀNH.1 Nhìn nhận từ phía tổ chức: Một tổ chức muốn làm hài lòng tất cả người lao động trong tổ chức là điều rất khó và thực ra không có tổ chức nào làm được điều đó. Có thể cách quản trị này phù hợp với cá nhân này nhưng lại không phù hợp với cá nhân khác. Biết cách quản trị nguồn nhân lực tốt, làm cho sự hài lòng của họ tăng lên thì chắc chắn lòng trung thành của họ cũng tăng lên rất nhiều. Hơn nữa, biết cách khai thác tốt năng lực của nhân viên, ghi nhận kịp thời những cống hiến tạo cho nhân viên cảm thấy họ có ích đối với tổ chức, qua đó không những vừa tăng năng suất lao động, tăng doanh thu mà còn làm cho lòng trung thành của nhân viên được tăng lên.
Nguồn nhân lực mạnh không những tạo lợi thế cạnh tranh mà còn quyết định sự thành công hay thất bại của doanh nghiệp. Giá trị của lòng trung thành của nhân viên là cực kỳ to lớn nếu không muốn nói là vô giá, với kết quả giảm thiểu chi phí thay đổi nhân viên chỉ là một ví dụ nhìn thấy được, lợi ích của việc giữ lại những nhân viên có kinh nghiệm, đáng tin 10 cậy, có được đội ngũ nhân sự ổn định là vô giá. Thâm niên công tác, kinh nghiệm làm việc và sự ổn định của tổ chức sẽ là những điều chúng ta nghĩ tới đầu tiên, nhưng ngoài những lợi ích về kinh nghiệm cá nhân, về sự ổn định tổ chức như nêu trên thì lòng trung thành sẽ cho chúng ta những lợi ích khác như năng suất lao động cao, tăng doanh thu, giảm chi phí, hình ảnh tích cực về tổ chức … Các nghiên cứu đã chứng minh lòng trung thành của nhân viên có tác động tốt đến doanh thu của tổ chức (theo Meyer, Allen và Smith, 1993; Benkhoff, 1997).2 Nhìn nhận từ phía nhân viên: Lòng trung thành của nhân viên đối với tổ chức được nâng cao khi ít nhất là các nhu cầu về mặt cá nhân được thoả mãn. Một khi nhu cầu được đáp ứng họ sẽ có mong muốn phục vụ hết mình vì lợi ích của tổ chức, trong đó có lợi ích của chính cá nhân họ.
Tuy nhiên, nhu cầu của nhân viên cũng rất khác nhau, nó không đơn thuần chỉ là nhu cầu vật chất, nên ngoài các yêu tố lợi ích về vật chất thì các yếu tố về mặt tinh thần như văn hoá doanh nghiệp, môi trường làm việc, sự đánh giá của lãnh đạo, sự công bằng, cơ hội thăng tiến, sự trao quyền… là những nhân tố cực kỳ quan trọng không kém bởi hiệu quả mà nó mang lại. Một môi trường làm việc luôn tràn đầy niềm vui, tình thân ái giữa các nhân viên sẽ tạo cảm giác thích thú, sảng khoái, giúp họ đạt hiệu suất cao trong công việc; một tổ chức công bằng, thành tích được ghi nhận, cá nhân được thể hiện năng lực, sự thăng tiến rõ ràng càng làm tăng thêm lòng trung thành của nhân viên bởi họ nhận thấy sự công bằng và cơ hội rõ ràng ở tổ chức. CÁC LÝ THUYẾT NHẰM TÌM HIỂU VỀ CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN LÒNG TRUNG THÀNH CỦA NHÂN VIÊN: 1. Lương/ thu nhập: Tiền lương hay thu nhập nói chung có thể bao gồm các khoản thu nhập như thù lao lao động, tiền được chia lãi, là chỉ thù lao cho lao động mà người sử dụng lao động chi trả cho người lao động.
Trả công lao động luôn luôn là một trong những vấn đề thách thức nhất đối với các nhà quản trị ở mọi doanh nghiệp. 11 Thu nhập và phúc lợi thể hiện ở nhu cầu sinh lý và an toàn trong thuyết nhu cầu của Maslow (1954), là yếu tố quan trọng nhất đối với nhân viên trong các nghiên cứu của Simons và Enz (1995). Theo Trần Kim Dung (2003) “việc trả công lao động luôn là một trong những vấn đề thách thức nhất cho các nhà quản trị ở mọi doanh nghiệp. Các Doanh nghiệp thường có nhiều quan điểm, mục tiêu khác nhau khi xếp đặt hệ thống trả công, nhưng nhìn chung các doanh nghiệp đều hướng tới bốn mục tiêu cơ bản: thu hút nhân viên, duy trì những nhân viên giỏi, kích thích động viên nhân viên và đáp ứng yêu cầu của pháp luật”.
- Thu hút nhân viên: Các doanh nghiệp càng trả lương cao càng có khả năng thu hút được những ứng viên giỏi. - Duy trì những nhân viên giỏi: Để duy trì những nhân viên giỏi cho doanh nghiệp, trả lương cao chưa đủ mà còn phải thể hiện tính công bằng trong nội bộ doanh nghiệp.