CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ VIỆC XÂY DỰNG VĂN HÓA DOANH NGHIỆP 1. Khái quát chung về văn hóa và văn hóa doanh nghiệp 1. Khái quát chung về văn hóa 1. Khái niệm về văn hóa Sự ra đời của nhân loại gắn liền với văn hóa.
Về đối tượng tính chất và hình thức biểu hiện thì văn hóa là một khái niệm có rất nhiều tầng nghĩa được dùng với các nội hàm khác nhau. Nhà nhân loại học người Anh Edward Burnett Tylor (1832-1917) đã định nghĩa “Văn hóa hay văn minh theo nghĩa rộng hơn trong dân tộc học là một tổng thể phức hợp gồm nhiều kiến trúc, đức tin, nghệ thuật, đạo đức, luật pháp, phong tục, và bất cứ những khả năng, tập quán nào mà con người thu nhân được” (Edward Burnett Tylor, 2016, Primitive Culture : Researches Into the Development of Mythology, Philosophy, Religion, Language, Art, and Custom). Định nghĩa này ít có sự quan tâm đến văn hóa vật chất nhưng đã nêu lên được gần như đầy đủ các khía cạnh của văn hóa tinh thần. Trong từ điển Tiếng Việt (2014) định nghĩa: “Văn hóa là tổng thể nói chung những giá trị vật chất và tinh thần do con người sáng tạo ra trong quá trình lịch sử”(Từ điển Tiếng Việt, 2014, trang 185).
Trần Ngọc Thêm (2001) đã nêu ra rằng: “Văn hóa là một hệ thống các giá trị vật chất và tinh thần do con người sáng tạo và tích lũy qua quá trình hoạt động thực tiễn, trong sự tương tác với môi trường tự nhiên và môi trường xã hội của mình” (Trần Ngọc Thêm, 2001, trang 8) Dựa trên các quan điểm về văn hóa khác nhau kể trên, tác giả đề xuất khái niệm về văn hóa: Hệ thống các giá trị vật chất và tinh thần được con người hình thành, sáng tạo và tích lũy trong các hoạt động thực tiễn hay trong sự tương tác với môi trường trường ngoài tự nhiên và xã hội được gọi là Văn hóa Luan van 9 1. Các điểm đặc trưng của văn hóa Kể đến đầu tiên là văn hóa phải có tính hệ thống. Cần phải phân rõ sự khác biệt giữa một tập hợp với một hệ thống, một nền văn hóa luôn bao gồm những mối liên hệ mật thiết giữa các hiện tượng và sự kiện bên trong nó.Với tính hệ thống, văn hóa có thể cung cấp cho xã hội mọi phương tiện cần thiết để ưng phó vơi môi trường tự nhiên và xã hội của mình. Điều này tạo thành nền tảng của xã hội.
Tính giá trị là đặc trưng thứ hai của văn hóa. Văn hóa được hiểu theo nghĩa đen tức “trở nên đẹp, trở nên có giá trị”, đặc trưng giá trị cần để phân biệt giá trị với phi giá trị. Văn hóa thực hiện được chức năng quan trọng thứ hai là chức năng điều chỉnh xã hội thông qua thước đo này đồng thời tạo sự cân bằng động trong việc duy trì xã hội. Việc định hướng các chuẩn mực cũng như động lực cho sự phát triển chung chính là bởi văn hóa không ngừng tự hoàn thiện và thích ứng với các giá trị của xã hội.
Đặc trưng thứ ba là tính nhân sinh. Tính nhân sinh giúp phân biệt văn hóa là thứ do con người tạo ra chứ không phải do tự nhiên hình thành. Điều này khiến văn hóa trở thành sợi dây liên kết con người lại với nhau đồng thời thực hiện chức năng giao tiếp giữa con người. Nếu ngôn ngữ là hình thức bên ngoài của giao tiếp thì văn hóa là nội dung bên trong của nó.
Tính lịch sử là đặc trưng cuối cùng của văn hóa. Nó cho phép chúng ta phân biệt văn hóa như sản phẩm của một quá trình và được tích lũy qua nhiều thế hệ và sản phẩm cuối cùng của một giai đoạn sẽ chỉ ra trình độ phát triển của giai đoạn đó. Tính lịch sử được duy trì bằng truyền thống văn hóa. Việc các giá trị được tích lũy và tái tạo qua cả thời gian và không gian sẽ tạo nên truyền thống văn hóa, đó là các khuôn mẫu xã hội cố định dưới dạng ngôn ngữ, phong tục, tập quán, nghi lễ, luật pháp, dư luận… 1.
Khái niệm về văn hóa doanh nghiệp Hiện nay có rất nhiều các quan điểm khác nhau về VHDN và tùy theo góc nhìn của mỗi tác giả, mỗi tổ chức để đúc kết ra những khái niệm riêng biệt. Tất cả những khái niệm đó sẽ giúp chúng ta hiểu về VHDN một cách toàn diện và đầy đủ nhất. Luan van 10 Theo tác giả Dương Thị Liễu (2008): “VHDN là toàn bộ các giá trị tinh thần mang đặc trưng riêng biệt của doanh nghiệp có tác động tới tình cảm, lý trí và hành vi của tất cả thành viên doanh nghiệp” (Dương Thị Liễu, 2008, trang 234). Theo tác giả Đỗ Minh Cương (2001): “VHDN (Văn hóa công ty) là một dạng của văn hóa tổ chức bao gồm những giá trị, những nhân tố văn hóa mà doanh nghiệp tạo ra trong quá trình sản xuất, kinh doanh, tạo nên cái bản sắc của doanh nghiệp và tác động tới tình cảm, lý trí và hành vi của tất cả các thành viên của nó” (Đỗ Minh Cương, 2001, trang 15).
Theo chuyên gia người Mỹ Edgar H. Schein (2016): “Văn hóa doanh nghiệp là tổng thể những thủ pháp và quy tắc mà các thành viên của doanh nghiệp thu nhận được trong quá trình giải quyết vấn đề thích ứng bên ngoài và thống nhất bên trong doanh nghiệp” (Edgar H. Schein, 2016, Organizational Culture and Leadership). Chúng ta có thể coi văn hóa doanh nghiệp như một nguồn vốn phát triển của doanh nghiệp và nó đóng một vai trò quan trọng trong việc tạo ra hiệu quả cao trong hoạt động kinh doanh, sản xuất.
So với các nguồn vốn khác như nhân lực, tài chính, tài sản… thì VHDN cũng không hề kém cạnh và đồng thời là một yếu tố quan trọng trong quá trình phát triển bền vững của mỗi công ty. Từ những phân tích trên có thể hiểu:“Bất kì những biểu trưng trực quan hay phi trực quan nào tạo nên bản sắc riêng cho doanh nghiệp, được doanh nghiệp chọn lọc và sử dụng trong và ngoài hoạt động kinh doanh đều được coi là văn hóa doanh nghiệp”. Được hình thành thì các yếu tố chỉ có riêng của mỗi doanh nghiệp, VHDN sẽ mang các tính chất như: Tính thực chứng; tính tập thể; tính độc đáo; tính thực tiễn và tính quy phạm. Khái niệm về phát triển văn hóa doanh nghiệp Phát triển hiểu đơn giản là một sự vật, sự việc vận động liên tục theo xu hướng đi lên từ cái thấp đến cái cao hơn, từ cái kém hoàn thiện đến cái hoàn thiện.
Một món đồ mới ra mắt để thay thế phiên bản cũ trước đó hay sự thay đổi của con người từ lạc hậu cho tới văn minh hơn đều được coi là phát triển. Luan van 11 Nếu áp dụng sự phát triển vào văn hóa, ta có thể nhận thấy được nó không phải là sự phát triển đơn lẻ từ vật này đến vật khác, sự việc ngày đến sự việc khác như đã nêu ở trên. Các hoạt động văn hóa xuất hiện ở đa lĩnh vực, có thể kể đến các lĩnh vực cơ bản như: giáo dục, kỹ thuật, khoa học, nghệ thuật, công nghệ. Việc phát triển văn hóa ngoài sự phát triển trong các lĩnh vực này còn có sự phát triển ở cả con người, môi trường sống, đời sống văn hóa của các dân tộc… Những điều này phải đi cùng nhau theo xu hướng tiến bộ và phát triển đồng thời cả chiều rộng và chiều sâu.
Chính vì vậy phát triển VHDN cũng không hề đơn giản, phải dựa trên các giá trị chuẩn mực để có thể cấu thành nên văn hóa doanh nghiệp, từ đó làm cho chúng có tính hệ thống hơn, thăng hoa hơn để VHDN trở thành một “yếu tố cốt lõi” giúp thể hiện được toàn bộ uy tín và hình ảnh của doanh nghiệp trong mắt khách hàng, từ đó nâng cao được năng lực kinh doanh của chính mình. Có thể hiểu đơn giản: Việc một doanh nghiệp duy trì và bảo tồn những nét văn hóa truyền thống tốt đẹp và càng ngày càng tiếp tục học hỏi, tiếu thu và hoàn thiện những giá trị văn hóa mới được coi là phát triển văn hóa doanh nghiệp 1.3 Cấu trúc và các cấp độ của văn hóa doanh nghiệp 1.1 Cấp độ của văn hóa doanh nghiệp Cấp độ văn hóa được dùng để chỉ mức độ cảm nhận của các giá trị văn hoá trong doanh nghiệp, các cấp độ này có thể hữu hình hoặc không hữu hình và có rất nhiều cách tiếp cận để đi từ hiện tượng đến bản chất của một nền văn hoá, giúp cho chủ doanh nghiệp hiểu một cách đầy đủ và sâu sắc những bộ phận cấu thành chính yếu trong văn hóa doanh nghiệp của mình. Từ xưa đến nay các nhà nghiên cứu đã phân tích, nghiên cứu và tìm ra rất nhiều phương thức để tiếp cận và biểu diễn ra các cấp độ văn hóa doanh nghiệp. Tiêu biểu nhất là Edgar H.
Schein đã có một cách tiếp cận độc đáo là đi từ hiện tượng đến bản chất của một nền văn hóa, từ những cái mà mắt thường có thể nhìn đến những cái không thể nhìn thấy được mà chỉ có thể cảm nhận được qua sự quan sát bằng giác quan. Schein đã chia văn hóa doanh nghiệp thành 2 cấp độ là tính hữu hình và vô hình hoặc tính trực quan và phi trực quan được minh họa như sau: Luan van 12 (Nguồn: Mô hình văn hóa doanh nghiệp của Edgar H. Sơ đồ các cấp độ văn hóa doanh nghiệp 1.2 Các cấp độ hữu trình của văn hóa doanh nghiệp theo Edgar H.Schein Về kiến trúc: Thiết kế bên trong và bên ngoài của một công ty được sử dụng như một dạng biểu tượng về hình ảnh, tạo sự thân thuộc và ấn tượng cho khách hàng được gọi chung là kiến trúc. Có thể phân chia kiến trúc làm hai dạng đó là kiến trúc nội thất và kiến trúc ngoại thất.
Mặt tiền toàn nhà, thiết kế trụ sở, hình dạng cổng, bảng hiệu… được coi là kiến trúc ngoại thất. Hầu hết các doanh nghiệp đã phát triển mạnh trên thị trường đều đầu tư khá nhiều vào kiến trúc ngoại thất, họ muốn khách hàng thấy được sự khác biệt, sự thành công hay sức mạnh của bản thân doanh nghiệp. Bản thân chúng ta có thể nhận thấy các công trình to lớn của công ty, nhà thờ, trường học…ở các quốc gia lớn trên thế giới như Mỹ, Nga, Trung Quốc… hay các nước ở Châu Âu. Các công trình này đều chú trọng đến từng chi tiết bên ngoài và thể hiện nét đặc trưng rất riêng.