Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu và cơ sở lý luận về văn hóa doanh nghiệp Chương 2: Phương pháp và thiết kế nghiên cứu Chương 3: Thực trạng văn hóa doanh nghiệp của Công ty TNHH Vàng bạc đá quý Bảo Tín Minh Châu 16 z Chương 4: Định hướng và giải pháp phát triển văn hóa doanh nghiệp tại Công ty TNHH Vàng bạc đá quý Bảo Tín Minh Châu 17 z CHƢƠNG 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VÀ CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ VĂN HÓA DOANH NGHIỆP 1. Tổng quan tình hình nghiên cứu 1. Tình hình nghiên cứu trên thế giới Nghiên cứu về Văn hóa kinh doanh và Văn hóa doanh nghiệp bắt đầu nhận được sự chú ý ở nước ngoài từ đầu những năm 1980 và 1990 của thế kỷ XX, nhất là sự thành công của các Công ty Nhật Bản. Kể từ đó đã có nhiều công trình nghiên cứu khác nhau được thực hiện, tạo ra sự phát triển mới về lý luận Văn hóa doanh nghiệp.
Trong số các công trình nổi bật tạo cơ sở nghiên cứu sâu về Văn hóa kinh doanh, Văn hóa doanh nghiệp có thể kể đến G.Hofstede (1994); John Kotter (1992); về Đạo đức kinh doanh (Farrell, O. 2002) như là những nền tảng lý luận vững chắc để nghiên cứu sâu về Văn hóa kinh doanh [25]. Nhiều công trình nghiên cứu về vai trò của các nhân tố văn hóa như lễ hội, tập quán, truyền thống, hệ thống các giá trị của công ty, văn hóa của người lãnh đạo doanh nghiệp… trong hoạt động kinh doanh mà điển hình là các nghiên cứu của P. Black (2003), “Creating The Influence Needed For Strategic Success”, nghiên cứu này chỉ ra rằng từ văn hóa tổ chức có thể tạo ra được các ảnh hưởng cần thiết cho thành công chiến lược.
Gabrielle O’Donovan (2006), “How To Plan, Implement And Measure A Successful Culture Change Programme”, đây có thể được coi là một cuốn cẩm nang thực tiễn về thiết kế, xây dựng văn hóa doanh nghiệp, nó chỉ ra rằng văn hóa doanh nghiệp là tài sản vô hình nhưng có thể đo lường được và nêu ra các bước thực hiện. Tình hình nghiên cứu tại Việt Nam Trong nước, cũng có nhiều nhà nghiên cứu, giảng viên đã có các đề tài nghiên cứu cấp bộ, cấp nhà nước, cấp trường đại học về văn hóa doanh nghiệp và doanh nhân.TS Phùng Xuân Nhạ (2011) đã hoàn thành xuất sắc đề tài nghiên cứu khoa học cấp nhà nước về “Nhân cách doanh nhân và văn hóa doanh nghiệp”; PGS.TS Đỗ Minh Cương (2009) “Văn hóa doanh nghiệp: một số vấn đề và giải pháp”; PGS.TS Dương Thị Liễu “Nghiên cứu, đề xuất các giải pháp khai thác, phát huy giá trị văn hóa kinh doanh trong các doanh nghiệp trên địa bàn Hà Nội”…và các cơ sở lý luận về văn hóa doanh nghiệp. Các nghiên cứu trong nước hiện nay chủ yếu đề cập đến các vấn đề như: lý luận về văn hóa doanh nghiệp, nghiên cứu về văn hóa doanh nghiệp của một số tập đoàn tiêu biểu, vùng miền hoặc đặc trưng của một vài quốc gia. Một số nghiên cứu khác có đưa ra những giải pháp, gợi ý chính sách xây dựng văn hóa doanh nghiệp của Việt Nam như của Nguyễn Hoàng Ánh (2004), Đỗ Minh Cương (2001, 2009), Trần Quốc Dân (2008).
Một số nghiên cứu khác phân tích ảnh hưởng của việc xây dựng và phát triển Văn hóa kinh doanh tới đạo đức kinh doanh và hoạt động kinh doanh như Nguyễn Hoành Ánh (2004), Nguyễn Mạnh Quân (2003) [5-6, 9-11, 18, 20-23], Nguyễn Mạnh Quân (2007). Tác giả Lê Minh Phụng (2008) trình bày thực trạng Văn hóa doanh nghiệp tại Việt Nam và một số giải pháp cần phải thực hiện kịp thời trong giai đoạn hiện nay. Theo tác giả, Văn hóa doanh nghiệp có vai trò rất quan trọng trong sự phát triển của mỗi loại hình doanh nghiệp. Do đó nếu thiếu văn hóa doanh nghiệp thì khó có thể đứng vững và tồn tại được trên thị trường ở bất kỳ thời điểm, hay hình thái kinh tế xã hội nào.
Ngày nay ở Việt Nam cũng như trên thế giới, nguồn nhân lực của doanh nghiệp là con người mà văn hóa doanh nghiệp là sự liên kết và nhân lên nhiều lần các giá trị của tựng nguồn 19 z lực riêng lẻ tổng hợp lại. Không những thế, văn hóa doanh nghiệp còn thể hiện qua phong cách của người lãnh đạo đứng đầu các vị trí của doanh nghiệp và tác phong làm việc của nhân viên. Bởi vậy, đối tác khi quan hệ thì ngoài việc quan tâm tới lợi nhuận của Công ty họ còn đánh giá doanh nghiệp qua văn hóa của doanh nghiệp đó. Bên cạnh đánh giá những mặt tích cực các công trình nghiên cứu đã cho rằng: văn hóa công sở và văn hóa doanh nghiệp của nước ta còn có những mặt hạn chế nhất đinh.
Đó là một nền văn hóa được xây dựng trên nền tảng dân trí thấp, môi trường làm việc có nhiều bất cập, dẫn đến có những cái nhìn ngắn hạn, chưa có quan niệm đúng đắn về cạnh tranh và hợp tác, chưa có tính chuyên nghiệp, còn bị ảnh hưởng bởi các tàn dư của nền kinh tế bao cấp, chưa có cơ chế dùng người thỏa đáng với từng vị trí làm việc, có sự bất cập trong giáo dục và đào tạo. Thực tế, văn hóa doanh nghiệp còn có những yếu tố khác chi phối, nhất là phải đặc biệt coi trọng và lấy con người làm gốc; Xây dựng quan niệm hướng thị trường, xem khách hàng là trên hết; Hướng tới vấn đề an sinh xã hội; Xây dựng tinh thần trách nhiệm xã hội [32]. Phân tích văn hóa làm sáng tỏ sự phát sinh năng động các tiểu nhóm trong các tổ chức, hiểu được các công nghệ mới tương tác với tổ chức như thế nào, cần thiết cho việc quản lý xuyên qua các đường biên quốc gia và dân tộc. Vấn đề này được đề cập đến trong một số nghiên cứu của: Nguyễn Văn Dung, Phan Đình Quyền, Lê Việt Hưng (2010) qua cuốn sách “Văn hóa tổ chức và lãnh đạo” [12].
Cuốn sách này thể hiện quan hệ của Văn hóa tổ chức với lãnh đạo, là một khái niệm có thể giải thích nhiều hiện tượng trong tổ chức, và còn giúp các nhà lãnh đạo vận dụng để tạo ra tổ chức hiệu quả hơn. Phân tích văn hóa sẽ làm sáng tỏ sự phát sinh năng động các tiểu nhóm (Subcultures) trong các tổ chức, hiểu được các công nghệ mới tương tác với tổ chức thế nào, cần thiết cho việc quản lý xuyên qua các đường biên quốc gia và dân tộc… 20 z Tuy nhiên, với sự thay đổi của bối cảnh mới, còn nhiều nội dung về văn hóa doanh nghiệp chưa được nghiên cứu đầy đủ. Đặc biệt việc đi sâu vào từng bộ phận doanh nghiệp, các đặc trưng riêng của các lĩnh vực, trong đó có các doanh nghiệp mỹ nghệ vàng bạc đá quý… còn ít được đề cập. Vấn đề này ở Việt Nam vẫn còn nhiều khoảng trống cần phải đầu tư nghiên cứu sâu sắc hơn.
Các khái niệm cơ bản và vai trò 1. Văn hóa Văn hóa là khái niệm có nhiều cách hiểu tùy vào cách tiếp cận của người nghiên cứu. Là một lĩnh vực đa dạng và phức tạp, vì vậy khó có thể thống nhất được một khái niệm đầy đủ và chính xác về văn hóa. Nên việc cùng tồn tại nhiều khái niệm văn hóa khác nhau càng làm vấn đề được hiểu biết một cách phong phú và toàn diện hơn.
Theo Chủ tịch Hồ Chí Minh: “Văn hóa là toàn bộ những giá trị vật chất và tinh thần do loài người tạo ra trong lịch sử của mình trong mối quan hệ với con người, với tự nhiên và với xã hội” [3,tr. Năm 2002, UNESCO phát triển định nghĩa về văn hóa: “Văn hóa nên được đề cập đến như là một tập hợp của những đặc trưng về tâm hồn, vật chất, tri thức và xúc cảm của một xã hội hay một nhóm người trong xã hội và nó chứa đựng, ngoài văn học nghệ thuật, cả cách sống, phương thức chung sống, hệ thống giá trị, truyền thống và đức tin. Herriot: “Văn hóa là cái còn lại sau khi người ta quên đi tất cả, là cái vẫn còn thiếu sau khi người ta đã học tất cả”[1,tr.TS Đỗ Minh Cương: “Văn hóa là nguồn lực nội sinh của con người, là kiểu sống và bảng giá trị của các tổ chức, cộng đồng người, trung tâm là các giá trị chân - thiện - mỹ”[1,tr.TS Bùi Xuân Phong: “Văn hóa là toàn bộ những hoạt động vật chất và tinh thần mà loài người đã sáng tạo ra trong lịch sử của mình trong quan hệ với con người, với tự nhiên và với xã hội, được đúc kết lại thành hệ giá trị và chuẩn mực xã hội. Nói tới văn hóa là nói tới con người, nói tới việc phát huy những năng lực bản chất của con người, nhằm hoàn thiện con người, hoàn thiện xã hội.
Có thể nói văn hóa là tất cả những gì gắn liền với con người, ý thức con người để rồi lại trở về với chính nó”[4,tr.TSKH Trần Ngọc Thêm: “Văn hóa là một hệ thống hữu cơ những giá trị vật chất và tinh thần do con người sáng tạo và tích lũy qua quá trình hoạt động thực tiễn, trong mối quan hệ với môi trường tự nhiên và xã hội của mình”[6,tr. Một cách khái quát thì văn hóa là toàn bộ những hoạt động vật chất và tinh thần mà loài người đã sáng tạo ra trong lịch sử của mình trong quan hệ với con người, với tự nhiên và xã hội, được đúc kết lại thành hệ giá trị và chuẩn mực xã hội. Nói tới văn hóa là nói tới con người, nói tới việc phát huy những năng lực bản chất của con người, nhằm hoàn thiện con người, hoàn thiện xã hội. Có thể nói văn hóa là tất cả những gì gắn liền với con người, ý thức con người để rồi lại trở về với chính nó.
Ngoài ra còn rất nhiều các khái niệm, định nghĩa khác nhau của nhiều nhà nghiên cứu mà các khái niệm đã được đưa ra ở trên là những khái niệm về văn hóa theo phạm vi nghiên cứu rộng nhất. Văn hóa doanh nghiệp Xã hội rộng lớn có một nền văn hóa lớn mà doanh nghiệp là một bộ phận của xã hội. Do đó trong mỗi doanh nghiệp sẽ tồn tại những hệ thống hay chuẩn mực về giá trị đặc trưng, hình tượng, phong cách được doanh nghiệp tôn trọng và truyền từ thành viên này sang thành viên khác, từ lớp cũ đến lớp mới, trở thành những giá trị, những quan niệm và tập quán, truyền thống ăn 22 z sâu vào hoạt động của doanh nghiệp ấy và chi phối tình cảm, nếp suy nghĩ và hành vi của mọi thành viên của doanh nghiệp trong việc theo đuổi và thực hiện các mục đích.