CHƯƠNG 1. MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ VĂN HÓA DOANH NGHIỆP CỦA CÔNG TY LỮ HÀNH 1. Văn hóa doanh nghiệp- Những khái niệm cơ bản 1. Khái niệm về văn hóa doanh nghiệp Để hiểu được thế nào là văn hóa doanh nghiệp trước tiên chúng ta cần tìm hiểu khái niệm về văn hóa.
Văn hóa là khái niệm mang nội hàm rộng với rất nhiều cách hiểu khác nhau, liên quan đến mọi mặt đời sống vật chất và tinh thần của con người. Có rất nhiều định nghĩa khác nhau về văn hóa, mỗi định nghĩa phản ảnh một cách nhìn nhận và đánh giá khác nhau. Ngay từ năm 1952, hai nhà nhân loại học người Mỹ là Alfred Kroeber và Clyde Kluckhohn đã từng thống kê có tới 164 định nghĩa khác nhau về văn hóa trong các công trình nổi tiếng thế giới. Cho tới nay, người ta đã thống kê con số này đã lên tới hơn 400 định nghĩa.
Mỗi định nghĩa xuất phát từ những cứ liệu riêng, góc độ riêng, mục đích riêng phù hợp với vấn đề nghiên cứu. Trong phạm vi của đề tài này, người thực hiện muốn giới thiệu một số cách tiếp cận cũng như khái niệm về văn hóa được chấp nhận rộng rãi và bản thân người nghiên cứu thấy được thỏa mãn. Trước hết xin điểm qua một số khái niệm về văn hóa: Định nghĩa đầu tiên được chấp nhận rộng rãi là định nghĩa của nhà văn hóa xã hội học người Anh E.Taylor (1832 -1917) đưa ra: “Văn hóa là một chỉnh thể phức hợp bao gồm trí thức, tín ngưỡng, nghệ thuật, đạo đức, pháp luật, tập tục và bất kỳ năng lực, thói quen nào khác mà con người cần có với tư cách là một thành viên của xã hội ”. Tại Hội nghị quốc tế do Unessco chủ trì vào năm 1982 với gần 500 nhà nghiên cứu văn hóa thế giới đã đúc kết sự phức tạp và đa diện của văn 13 z hóa qua một định nghĩa súc tích: “Văn hóa là tổng thể những nét riêng biệt tinh thần và vật chất, trí tuệ và xúc cảm quyết định tính cách của một xã hội hay của một nhóm người trong xã hội.
Văn hóa bao gồm nghệ thuật và văn chương, những lối sống, những quyền cơ bản của con người, những hệ thống các giá trị, những tập tục và những tín ngưỡng. Văn hóa đem lại cho con người khả năng suy xét về bản thân. Chính văn hóa đã làm cho chúng ta trở thành những sinh vật đặc biệt nhân bản, có lý tính, có óc phê phán và dấn thân một cách có đạo lý. Chính nhờ văn hóa mà con người tự thể hiện, tự ý thức được bản thân, tự biết mình là một phương án chưa hoàn thành đặt ra để xem xét những thành tựu của bản thân, tìm tòi không biết mệt những ý nghĩa mới mẻ và sáng tạo nên những công trình vượt trội bản thân.” Trong cuốn từ điển bách khoa Việt Nam đã định nghĩa về văn hóa như sau: “Văn hóa là toàn bộ những hoạt động sáng tạo và những giá trị của nhân dân một nước, một dân tộc về mặt sản xuất vật chất và tinh thần.
Văn hóa biểu hiện trong lý tưởng sống, trong các quan niệm về thế giới và nhân sinh, tín ngưỡng, trong lao động và trong đấu tranh, trong tổ chức đời sống, tạo dựng xã hội, thể hiện lý tưởng thẩm mỹ.” Như vậy, có thể hiểu văn hóa là sản phẩm của con người, được tạo ra và phát triển trong quan hệ qua lại giữa con người và xã hội, và chính văn hóa lại tham gia vào việc tạo nên con người, duy trì sự bền vững và trật tự xã hội. Văn hóa là một hệ thống được định hình và phát triển trong quá trình lịch sử bao gồm nhiều yếu tố hợp thành như: hệ giá trị, tập quán, thói quen, lối ứng xử, chuẩn mực xã hội. Nó mang tính ổn định bền vững và có khả năng di truyền qua nhiều thế hệ. Văn hóa cũng chính là cái để chúng ta có thể phân biệt giữa cộng đồng này với cộng đồng khác, giữa tổ chức này với tổ chức khác.
Từ khái niệm về văn hóa kể trên đã có rất nhiều cách hiểu khác nhau về văn hóa doanh nghiệp 14 z Trong một xã hội rộng lớn, mỗi doanh nghiệp là một xã hội thu nhỏ được hình thành bởi sự liên kết giữa các thành viên trong cùng một tổ chức. Xã hội lớn có nền văn hóa lớn, xã hội nhỏ cũng cần xây dựng cho mình một nền văn hóa riêng biệt. Nền văn hóa ấy chịu ảnh hưởng và đồng thời cũng là bộ phận cấu thành nền văn hóa lớn. Theo Edgar Schein (2004):“Văn hóa doanh nghiệp gắn với văn hóa xã hội, là một bước tiến của văn hóa xã hội, là tầng sâu của văn hóa xã hội.
Văn hóa doanh nghiệp đòi hỏi vừa chú ý tới năng suất và hiệu quả sản xuất, vừa chú ý quan hệ chủ thợ, quan hệ giữa người với người. Nói rộng ra, nếu toàn bộ nền sản xuất đều được xây dựng trên một nền văn hóa doanh nghiệp có trình độ cao, nền sản xuất sẽ vừa mang bản sắc dân tộc, vừa thích ứng với thời đại hiện nay”. Vì vậy, văn hóa doanh nghiệp tất yếu sẽ được hình thành và phát triển như một yếu tố đặc trưng của doanh nghiệp đó trong quá trình hoạt động sản xuất, kinh doanh. Thuật ngữ “Văn hóa Doanh nghiệp” xuất hiện lần đầu tiên trên báo chí Mỹ vào khoảng thập niên 1960.
Đến đầu thập kỷ 90, người ta bắt đầu đi sâu nghiên cứu tìm hiểu về những nhân tố cấu thành cũng như những tác động to lớn của văn hóa đối với sự phát triển của một doanh nghiệp. Vì bản chất trừu tượng nên đã có rất nhiều khái niệm về văn hóa doanh nghiệp được đưa ra: Theo Eldrige và Crombie (2003): Nói đến văn hóa của một tổ chức là nói đến một hình thể duy nhất với các tiêu chuẩn, giá trị, tín ngưỡng, cách đối xử. được thể hiện qua việc các thành viên liên kết với nhau để làm việc. Nét đặc biệt của một tổ chức cụ thể nào đó được thể hiện ở lịch sử của nó với những ảnh hưởng của hệ thống cũ, lãnh đạo cũ trong việc xây dựng con người.
Điều này được chứng tỏ sự khác nhau giữa việc đi theo 15 z thói quen và luật lệ, hệ tư tưởng cũ và mới, cũng như những sự lựa chọn chiến lược của toàn tổ chức. Theo Tổ chức lao động quốc tế ILO (2002) “Văn hóa doanh nghiệp là sự trộn lẫn đặc biệt các giá trị, các tiêu chuẩn, thói quen và truyền thống, những thái độ ứng xử và lễ nghi mà toàn bộ chúng là duy nhất đối với một tổ chức đã biết.” Văn hóa doanh nghiệp tạo nên những sắc thái riêng mà một doanh nghiệp muốn vươn tới, tạo ra sự cam kế tự nguyện đối với những gì vượt ra ngoài phạm vi niềm tin và giá trị của mỗi cá nhân. Chúng giúp các thành viên mới nhận thức được ý nghĩa của các sự kiện và hoạt động của một doanh nghiệp. Như vậy, có thể nói văn hóa doanh nghiệp là toàn bộ các giá trị văn hóa được gây dựng nên trong suốt quá trình tồn tại và phát triển của một doanh nghiệp, trở thành các giá trị, các quan niệm và tập quán, truyền thống ăn sâu vào hoạt động của doanh nghiệp ấy và chi phối tình cảm, nếp suy nghĩ và hành vi của mọi thành viên của doanh nghiệp trong việc theo đuổi và thực hiện các mục đích.
Văn hóa doanh nghiệp là hệ thống những giá trị những tín ngưỡng, những thói quen, những quy phạm được chuẩn hóa mang tính đặc trưng của doanh nghiệp ấy; được biểu đạt thông qua cách sống, cách nghĩ, cách làm việc của thành viên trong tổ chức; được duy trì và phát triển trong suốt quá trình lịch sử phát triển của doanh nghiệp; được chia sẻ và định hướng hành vi cho mọi thành viên trong tổ chức đó. Đặc điểm và vai trò của văn hóa doanh nghiệp Văn hóa doanh nghiệp trong tổ chức gồm những đặc điểm sau: Thứ nhất: Văn hóa doanh nghiệp tồn tại khách quan Như chúng ta đã biết văn hoá tồn tại ngoài sự nhận biết của chúng ta, có con người, có gia đình, có xã hội là có văn hoá. Văn hóa doanh nghiệp 16 z là cả một quá trình hình thành và phát triển của doanh nghiệp được chia sẻ và truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác, không phụ thuộc vào ý muốn chủ quan của mỗi người. Văn hoá rất quan trọng, nó tồn tại độc lập với chúng ta.
Dù ta có nhận thức hay không nhận thức thì nó vẫn trường tồn. Nếu ta biết nhận thức nó, xây dựng nó thì nó lành mạnh, phát triển. Có thể có văn hoá đồi trụy đi xuống và văn hoá phát triển đi lên, văn hoá mạnh hay văn hoá yếu chứ không thể không có văn hoá. Đặc điểm chung của VHDN cũng như bất kỳ loại hình văn hoá khác là văn hoá tồn tại khi có một nhóm người cùng sống và làm việc với nhau.
Vì vậy, với tư cách là chủ doanh nghiệp hay nhà quản lý, bản thân chúng ta cần tác động tích cực đến văn hóa doanh nghiệp để nó mang lại những hiệu quả hoạt động tốt nhất cho doanh nghiệp. Thứ hai: Văn hoá doanh nghiệp mang tính bền vững Văn hóa doanh nghiệp là sản phẩm của những người cùng làm trong một doanh nghiệp và đáp ứng nhu cầu giá trị bền vững. Văn hoá doanh nghiệp được hình thành trong thời gian khá dài thông qua quá trình hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp ấy. Nó xác lập một hệ thống các giá trị được mọi người làm trong doanh nghiệp chia sẻ, chấp nhận, đề cao và ứng xử theo các giá trị chuẩn mực đó.
Điều này làm nên giá trị của doanh nghiệp: là sự khác biệt của một doanh nghiệp có văn hoá mạnh với một doanh nghiệp “phi văn hoá”. Giá trị văn hoá của doanh nghiệp có giá trị nội bộ, giá trị vùng, giá trị quốc gia, giá trị quốc tế. Văn hóa doanh nghiệp còn góp phần tạo nên sự khác biệt giữa các doanh nghiệp và được coi là truyền thống của mỗi doanh nghiệp. Doanh nghiệp càng tôn trọng và theo đuổi những giá trị chung cho cộng đồng càng rộng lớn bao nhiêu thì vai trò của nó càng lớn bấy nhiêu.
Thứ ba: Văn hoá doanh nghiệp mang tính hệ thống 17 z VHDN được xem xét mọi giá trị trong mối quan hệ mật thiết với nhau. Tính hệ thống cho phép phân biệt một nền văn hoá hoàn chỉnh với một tập hợp rời rạc các giá trị của VHDN. Bản thân các yếu tố văn hoá liên quan mật thiết với nhau trong những thời điểm lịch sử cũng như trong một thời gian dài.