Chương I NHỮNG VẤN ĐÈ LÝ LUẬN CHUNG VÈ VĂN HÓA ỨNG XỬ VÀ TONG QUAN VE CÁC DOANH NGHIỆP TƯ NHÂN TREN DIA BAN QUAN DONG DA 1. Những vấn đề về văn hóa 1. Văn hóa Hiện nay, có rất nhiều các khái niệm khác nhau về văn hóa, liên quan đến mọi mặt của đời sống con người. Mỗi một khái niệm văn hóa được tiếp cận và nhìn nhận từ nhiều góc độ khác nhau.
Vì vậy, có nhiều khái niệm văn hóa khác nhau càng làm cho chúng ta hiểu biết vấn đề phong phú và toàn diện hơn. Khái niệm văn hóa nhằm để chỉ, trước nhất là các sản phẩm liên quan đến hoạt động. trí tuệ và nghệ thuật sáng tạo, như: âm nhạc, kịch nghệ, múa, hội họa, điêu khắc, văn học, điện ảnh, di san; thứ hai là văn hóa mang tính nhân học, nghĩa là văn hóa còn bao gồm lối sống, truyền thống và các hệ thống giá trị Raymon William trong tác phẩm của ông có tên là “Biểu đạt văn hóa: Những từ ngữ cơ bản” (1985) cho rằng: “Văn hóa” có ba nghĩa: Thứ nhất, văn hóa dùng để chỉ một quá trình phát triển chung về trí tuệ, tâm hồn và mỹ học; thứ hai, văn hóa được dùng để chỉ một phương thức sống đặc biệt của một dân tộc, một giai đoạn thời gian hay một nhóm người nhất định; và thứ ba, văn hóa dùng dé chỉ những công trình, tác phẩm và những hoạt động, đặc biệt là hoạt động trí tuệ và nghệ thuật. Herder (1744 -1803) - nhà triết học khai sáng, nhà văn, nhà nghiên cứu văn học Đức, dựa trên những cơ sở khoa học về sự tiền bộ trong tự nhiên đã phát triển quan niệm về sự tiến bộ trong lịch sử và sự vận động của xã hí đến chủ nghĩa nhân đạo.
Ông gọi văn hóa là quá trình hình thành con người, là sự nắm bắt và sử dụng kinh nghiệm, truyền thống, cho nên cần gắn văn hóa với việc giáo dục tính nhân văn và lối sống của dân tộc. Chỉ trong quá trình hình thành văn hóa, con người mới trở thành con người theo đúng nghĩa của nó. Và 16 luỹ qua quá trình hoạt động thực tiễn, trong sự tương tác giữa con người với môi trường tự nhiên và xã hội” [34, tr. Với các đặc trưng của nó là tính hệ thống, tính giá trị, tính nhân sinh và tính lịch sử.
Chủ tịch Hồ Chí Minh định nghĩa: Vì lẽ sinh tồn cũng như mục đích của cuộc sống, loài người mới sáng tạo và phát minh ra ngôn ngữ, chữ viết, đạo đức, pháp luật, khoa học, tôn giáo, văn học, nghệ thuật, những công cụ cho sinh hoạt hàng ngày về mặc, ăn, ở và các phương thức sử dụng. Toàn bộ sáng tạo và phát minh đó tức là văn hóa [23, tr. Nói theo nghĩa rộng, văn hoá là tắt cả những giá tri tinh than va vat chat mà con người đã sáng tạo ra trong quá trình lịch sử của mình, là cái biểu hiện trình độ của xã hội trong một giai đoạn lịch sử nhất định, là dòng chảy liên tục kết nối quá khứ, hiện tại và tương lai GS.TS Đình Quang cũng đã nêu một khái niệm khá gần với cách tiếp cận trên: “Văn hoá - cái chìa khoá giải thích thế giới, phát triển các khả năng. biểu hiện giao lưu sáng tạo và điều tiết những quan hệ ứng xử”.Văn hoá là tất cả những gì con người sáng tạo nên theo dòng chảy của thời gian và sự khác biệt về không gian.
Trong quá trình phát triển và tiếp biến với các nền văn hoá khác, những giá trị phủ hợp với thời đại sẽ được giữ lại và tiếp tục phát huy, ngược lại những giá trị không phù hợp sẽ tự biến mắt hoặc trở thành những. Nhưng tắt cả những giá trị văn hoá độc đáo ấy chỉ được hình thành khi có sự giao tiếp, ứng xử khéo léo, trao đổi qua lại giữa con người với con người, giữa con người với tắt cả các thành phần khác trong tự nhiên và xã hội, nhằm mục đích phát triển bản thân, xây dựng các mối quan hệ, lao động sáng tạo và xây dựng một thế giới ngày càng tốt đẹp hơn.Bản chất của văn hoá là quá trình chuẩn mực hoá nhu cầu con người, từ những hình ảnh, biểu tượng, ngôn ngữ. để xây dựng nên mối quan hệ giữa con người với nhau: cha con, vợ chồng, làng xóm, bạn bè, đồng nghiệp. Thông qua sự giao tiếp và đặc 17 biệt là ứng xử, bản chất con người được hình thành rõ nét và đây cũng chính là cơ sở, là cái nôi để hình thành nên văn hóa.
Nguyên Thủ tướng Phạm Văn Đồng cũng từng viết: Nói tới văn hóa là nói tới một lĩnh vực vô cùng phong phú và rộng lớn, bao gồm tắt cả những gì không phải là tự nhiên mà có liên quan đến con người trong môt quá trình tồn tại, phát triển, quá trình con người làm nên lịch sử. cốt lõi của sức sống dân tộc là văn hóa với nghĩa bao quát và đẹp nhất của nó, bao gồm cả hệ thống giá trị: tư tưởng và tình cảm, đạo đức với phẩm chat, trí tuệ và tài năng, sự nhạy cảm và sự tiếp thu cái mới từ bên ngoài, ý thức bảo vệ tài sản và bản lĩnh các cộng đồng dân tộc, sức đề kháng và sức chiến đấu. để bảo vệ mình và không ngừng lớn mạnh [ 12, tr.16] Như vậy, văn hóa là phạm trù rất rộng. Từ các định nghĩa trên đều chỉ ra một số đặc điểm chung của văn hóa như sau: -Văn hóa là toàn bộ giá trị do con người tao ra trong quá trình lịch ste bằng lao động của mình trên cả hai lĩnh vực vật chất và tỉnh thần; văn hóa còn có nghĩa hẹp hơn là một lĩnh vực hoạt động: có khi chỉ là văn học nghệ thuật và hẹp hơn nữa là nói về học thức (trình độ văn hóa).
-Bản chất của văn hóa là quá trình chuẩn mực hóa như cẩu của con người,từ những hình ảnh, biểu tượng, ngôn ngữ. dé xây dung nên mối quan hệ giữa con người với nhau: cha con, vợ chẳng, làng xóm, bạn bè, đẳng nghiệp. Thông qua sự giao tiếp và đặc biệt là ứng xử, bản chất con người được hình thành 16 nét va đây cũng chính là cơ sở, là cái nôi để hình thành nên văn hóa. -Các giá trị Văn hóa do con người sáng tạo ra nhằm làm cho cuộc sống của con người tốt đẹp hơn.
1 Khái niệm văn hóa ứng xử 1. Ứng xử 18 Ứng xử được dịch từ tiếng Anh (Behaviour) đó là cách xử sự, đối xử, cư xử. Ứng xử là một biểu hiện của sự giao tiếp, giữa con người với con người, giữa con người với tự nhiên, giữa cá nhân với công đồng xã hội. Đồng thời nó là sự phản ứng của người này trước sự tác động của người khác trong một tỉnh huống nhất định, một hoàn cảnh nhất định được thẻ hiện qua thái độ, hành vi, cử chỉ, cách nói năng của con người nhằm đạt kết quả tốt trong mối quan hệ giữa.
con người với nhau. Con người chúng ta sống giữa các mối quan hệ xã hội đa dạng, phức tạp. Các mối quan hệ này có ảnh hưởng đến sự hình thành, phát triển nhân cách và xu hướng hành động của họ. Chính cuộc sống đòi hỏi mỗi người phải có cách ứng xử đúng đắn, thể hiện qua phép lịch sự trong quá trình giao tiếp.
với các đối tác khác nhau. Cách ứng xử của mỗi cá nhân trong sự giao tiếp xã hội, được gắp với nền văn minh của từng thời đại và đặc điềm văn hóa của từng, dân tộc, khu vực dân cư. Các biểu hiện của cách ứng xử mang tính dân tộc, tính giai cấp, tính giới, tuôi tác. Nó chịu ảnh hưởng của nghề nghiệp, địa vị xã hội và cũng mang đặc điểm cá tính của mỗi con người.
Phép lịch sự trong việc ứng xử chính là một sự tổng hợp các nghỉ thức được biểu hiện ra trong cách giao tiếp, nhưng không phải là những ứng xử một cách máy móc mà là những việc làm, lời ăn tiếng nói linh hoạt, nhiều vẻ, gắn với từng hoàn cảnh, từng môi trường cụ thể và tùy theo đối tác gặp gỡ liên quan đến những quy ước nhất định, chịu ảnh hưởng của những đặc điểm văn hóa dân tộc, vùng miền. Trong cuốn Tâm lý học ứng xử của tác giả Lê Thị Bừng viết: Ứng xử là sự phản ứng của con người đối với sự tác động của người khác đến mình trong một tình huống cụ thể nhất định. chỗ con người không chủ động trong giao tiếp mà chủ động trong phản ứng có sự lựa chọn, có tính toán, thể hiện qua thái độ, hành vi, cử chỉ, cách nói năng - tùy thuộc vào trỉ thức, kinh nghiệm và nhân cách của mỗi người nhắm dạt kết quả giao tiếp cao nhất [4, tr25]. “Theo tác giả Trần Thúy Anh: 19 Thế ứng xử, trước hết là sự thể hiện triết lý sống của một công đồng.
người, và đã mặc nhiên trở thành quan niệm sống, quan niệm lý giải cuộc sống. Và mặt khác cũng trở thành lối ứng xử, nếp sống, lối hành động của cả một cộng đồng người. Thế ứng xử đo đó quy định các mối quan hệ giữa con người với con người, giữa con người với môi trường tự nhiên. Đó chính là tính xã hội nhân văn của bản thân các quan hệ này [2, tr.15] “Trong thời buổi cơ chế thị trường hiện nay, cuộc sống ngoài xã hội diễn ra vô cùng phức tạp, đa dạng.
Nếu có cách đối nhân xử thể đúng đắn, có phép lịch sự trong giao tiếp thì chúng ta sẽ có nhận thức đúng đắn về đạo đức tư cách lối sống của mình, Điều này giúp chúng ta ngày càng trưởng thành lên và có kinh nghiệm sống ngày càng phong phú. Cách ứng xử là thể hiện vốn sống của mỗi cá nhân, sự hiểu biết mỗi người về các mối quan hệ xã hội người với người. Mọi ứng xử của con người đều xuất phát từ cái tâm, cái tình. Một cái tâm thiện sẽ giúp ta luôn vui vẻ, độ lượng trong ứng xử với người thân, bạn bè, tôn trọng bản ngã của họ, luôn mong muốn họ tiến bộ, hạnh phúc thành công.
ứng xử chính là cách biểu hiện ra bên ngoài của cái tâm, và trong mỗi chúng ta cũng đều tồn tại “cái tâm”, cho dù cái tâm ấy có thể còn hạn chế hoặc đang dn đi vì một vải lý do khách quan hay chủ quan nào đó Vấn đẻ đặt ra cho các nhà quản lý doanh nghiệp là phải khơi gợi nó, giúp các thành viên tìm ra điểm mạnh của mình bằng các chuẩn mực giá tri, văn hóa ứng xử của tổ chức, tạo.