Chương I: Cơ sở lý thuyết về văn hóa doanh nghiệp và các yếu cần thiết dé triển khai thành công các giá trị văn hóa mới. — Chương 2: Thực trạng các yếu tố cần thiết đề triển khai thành công các giá trị văn hóa mới Vinamilk và các chương trình triển khai văn hóa tại đơn vị trong gần 2 năm vừa qua. — Chương 3: Đề xuất giải pháp và chương trình hành động trong I năm tới, tập trung hoàn thiện các yếu tố còn yếu và hoàn thiện các yếu tố khác. — Phần Kết luận CHUONG 1.
TONG QUAN VE VAN HOA DOANH NGHIEP VA CAC YEU TO CAN THIET DE TRIEN KHAI THANH CONG CAC GIA TRI VAN HOA MOI 1.1 Tống quan về văn hóa trong doanh nghiệp 1.1 Khái niệm về văn hóa doanh nghiệp Xuất hiện từ đầu những năm 1950s, giành được sự quan tâm của giới khoa học trong nhiều ngành nghề, và tới năm những năm đầu 1980s, văn hóa doanh nghiệp đã trở thành một xu hướng quản trị mới và chưa bao giờ giảm sức nóng (Barley et al., 1988; Salama & Easterby-Smith, 1994; Sadri, 2001; Sorensen, 2002). Văn hóa có thể được quan sát ở mọi nơi, mọi thời điểm và bao quanh mọi hoạt động của doanh nghiệp, gắn liền với lịch sử hình thành và phát triển của đơn vị (Schein, 1990). Văn hóa góp phần hình thành những thói quen về giải pháp xử lý vấn đề, khi những hành động trong quá khứ đã được chứng minh, và những kinh nghiệm này sẽ được hướng dẫn lại cho các thành viên mới gia nhập tổ chức (Lawrence, 1998; Schein, 2004). Một số tác giả tiếp cận dưới góc độ vai trò của văn hóa đối với việc hình thành các hành vi tương đồng trong tổ chức như: - _ Wilkins (1983): Văn hóa được thể hiện tốt nhất khi quan sát hành vi và tìm hiểu cảm nhận của các cá nhân trong một tổ chức.
- Cooke (1987, trang 34): Van héa chính là hành vi của các thành viên trong tô chức, được thừa nhận như là “hành vi chung”, phù hợp với đa số thành viên trong tổ chức. - Kotter and Heskett (1992): Van héa doanh nghiép là sự thể hiện những giá trị và cách hành xử chung, phổ biến trong doanh nghiệp, và có xu hướng lưu truyền theo thời gian. - Schein (1992): văn hóa của một doanh nghiệp là những quan điểm chung được chia sẻ và công nhận trong tô chức. - Cameron va Quinn (1999): Van hóa là những giá trị được công nhận, những quan điểm, mong đợi, hồi tưởng và các định nghĩa đang hiện diện trong doanh nghiệp Trên quan điểm cho rằng văn hóa mạnh hay yếu phụ thuộc vào sự ồn định của nhóm, thời gian, những trải nghiệm thực nghiệm của nhóm, bối cảnh của sự trải nghiệm và mức độ nhất quán của những quan điểm từ phía người sáng lập hoặc lãnh đạo cấp cao, Schein (1984) đã đề xuất ba cấp độ của văn hóa, bao gồm: Các cấu trúc hữu hình (Observable arifacts), các giá trị được coi trọng (Values) và các quan điểm (basic underlying assumptions).
Sự phân chia này được Schein đưa ra đầu tiên và được đông đảo giới học thuật chấp nhận cho tới ngày nay (Warrick, 2017) - Minh họa Hình 1. Cu thé: > Các cấu trúc hữu hình: Là tất cả những thứ hiện hữu, có thể ngửi thấy, nghe, nhìn. Như thiết kế văn phòng, đồng phục, trang trí bàn làm việc, màu sắc trang trí, bố trí bàn ghế, khoảng cách giữa các khu vực làm việc, khu việc riêng tư, cách mọi người giao tiếp với nhau, các quy trình,. Văn hóa ở mức độ này rất dễ miêu tả, nhưng lại rất khó giải thích (Schein, 2004).
Văn hóa được thể hiện ở cấu trúc hữu hình, nhưng cấu trúc hữu hình chưa chắc đã phản ánh đúng văn hóa, vì có nhiều trường hợp doanh nghiệp chỉ “cố tỏ ra vẻ” mà thôi (Schein, 2004). (2014) nhắn mạnh vai trò củng cố văn hóa của cấp độ này, giúp cho người mới và cộng đồng nhanh chóng nhận ra những giá trị văn hóa và doanh nghiệp muốn truyền tải. > Cac gid trị được coi trọng: Để giải thích vì sao doanh nghiệp lại có diện mạo và hành động như đã quan sát được, cần phải quan sát những giá trị đã chi phối hành vi. Schein (1990, trang 111) cho rằng giá trị có thê được thể hiện dưới nhiều hình thức, có thể là các “bảng tuyên bố giá trị”, “bảng hiệu, biểu ngữ”, “những câu chuyện được truyền tụng”, “số tay văn hóa”,.
Cac giá trị này khó quan sát, nhưng có thê thu thập được khi nói chuyện, thăm dò ý kiến của các nhân viên trong đơn vị. Đây là lời tuyên bố của doanh nghiệp về những giá trị mà doanh nghiệp coi trọng và hướng tới. Các giá trị tuyên bố về những cảm xúc, suy nghĩ và hành vi ĐỨNG, phân biệt rõ ràng với những cảm xúc, suy nghĩ và hành vi SAI. Hệ thống giá trị hướng dẫn những gì PHẢI làm, NÊN làm hoặc KHÔNG ĐƯỢC làm.
Các quan điểm: Mặc dù được tuyên bố thành lời, tuy nhiên những giá trị kể trên nhiều khi gặp phải trường hợp “bằng mặt không bằng lòng”. Bản chất sâu xa của văn hoa thé hiện ở cấp độ cao hơn — là các quan điểm của các cá nhân trong tổ chức. Những quan điểm chung sẽ dẫn tới sự đồng thuận trong các quyết định về chiến lược, hoạt động và lối hành xử (Schein, 2004). Cũng theo Schein (2004), quan điểm ban đầu xuất phát từ một hoặc một vài người, trải qua những hành vi trong quá khứ, các quan điểm này mang lại hiệu quả được đám đông mong đợi, những người còn lại sẽ hành xử theo kinh nghiệm đã được kiểm chứng.
Lâu dần những lối tư duy, hành xử này trở thành thói quen và đi vào tiềm thức, được cá nhân hóa trở thành quan điểm. Một doanh nghiệp có càng nhiều người có cùng quan điểm thì hành động của họ càng nhất quán — là một hình thức của văn hóa. Những người mới vào nếu có quan điểm khác, sẽ có thể bị xem như “người ngoại đạo”, có thể bị bài trừ, hoặc có khả năng tạo ra một quan điểm mới cho tổ chức này. Hiển hiện, dễ quan sát, miêu tả Các câu trúc hữu hình nhưng khó giải thích | | Được công bố công khai, có thể phát biểu thành lời nhưng chưa Các giá trị được coi trọng chắc phản ánh đúng bản chất của | t van hoa „ Khó quan sát, khó nắm bắt nhưng Cac quan diém chung thể hiện đúng bản chất của văn hóa.
Hình I—1 Các cấp độ văn hóa (Schenn, 1990, trang 111) Miroshnik and Victoria (2011) đã tổng hợp các nghiên cứu tiêu biểu về văn hóa doanh nghiệp trong bảng 1.1 Dưới đây: Bảng 1-1 Tổng hợp các nghiên cứu tiêu biéu vé van hóa doanh nghiệp Tác giả Hướng nghiên cứu | Phuong phép Kết quả chính nghiên cứu Ouchi and Nét văn hóa của các Í phân tích và Mang lại cái nhìn đài hạn về Jeager (1978) doanh nghiệp non- thảo luân mục tiêu và văn hóa của Western. doanh nghiép Hofstede Ban chat cua van : (1980); hóa và môi liên hệ ^- xzr. | Có môi quan hệ mật thiệt ma. Phân tích và Ai.
Roe Hofstede and | giữa văn hóa doanh thảo luân giữa văn hóa quôc gia và văn Minkow nghiệp và văn hóa. hóa của doanh nghiệp (2010) quôc gia Smircich Bản chất của văn — |Phântíchvà | Văn hóa xác định doanh ⁄ xa. nghiệp và văn hóa là một (1983) hóa thảo luận x R :A nguôn lực của doanh nghiệp Barney (1991) Van hoa là một Phân tích và | Văn hóa tạo nên lợi thê cạnh y nguôn lực thảo luận tranh cho doanh nghiệp Adler (1997) | Văn hóa và hiệu suất | Phân tích và _ | Văn hóa có ảnh hưởng đến thảo luận hiệu suât của doanh nghiệp Kotter and Mối quan hệ giữa ne Mo tnen van hoa mạnh có we, sk La x, | Khao sat thê tạo nên một doanh Haskett (1992) | văn hóa và hiệu suât on .wư k nghiệp vượt trội về hiệu suât Schwartz Bản chất của văn — | Phântíchvà | Nhân mạnh tâm quan trọng 2 2 TA của văn hóa trong doanh (1992) hóa thảo luận " nghiệp Schein (1992, | Bản chấtcủavăn 'Phântích và | Nhân mạnh tâm quan trọng Z a yn của văn hóa trong doanh 2010) hóa thảo luận " nghiệp Mối quanhệ giữa | Khảo sát, Có văn hóa mạnh và văn hóa Cameron and Í. nàa và hiệu suất |phântíhvà | YẾt bó.
Quinn (1999) | “8 cu phan te Văn hóa có thể quyết định của doanh nghiệp thảo luận +A k hiéu suat Mintzbug et al. | Van hoa va long vi_| Phan tich va ph pucng dat ban doa (2002) tha thao luan ụ nghiệp Martin (2002) Bản chất của văn hóa doanh nghiệp Phân tích và thảo luận Luôn có nhiêu văn hóa con đan xen nhau thay vì chỉ có một văn hóa đơn lẻ trong tổ chức (Nguồn: Miroshnik and Victoria, 2011) 10 Văn hóa được hình thành từ niềm tin, quan niệm của một người hay một nhóm người (Schein, 2004). Ban đầu lãnh đạo sẽ áp đặt những điều này lên nhóm và chọn các thành viên trên cơ sở sự giống nhau về suy nghĩ và giá trị mà họ cho là đúng dan dé di theo va ủng hộ họ. Lúc này văn hóa chưa hình thành.
Giai đoạn khởi nguyên chỉ đơn giản là sự tuân thủ. Nhưng khi những quyết định này dẫn đến “thành công”, thì các thành viên trong nhóm sẽ hình thành niềm tin củng cố các giá trị mà trước đó họ mới chỉ xem là giả thuyết. Nếu các hành vi tương tự vẫn mang lại kết quả khả quan, dần đần niềm tin và các giá trị sẽ được xác lập, quan trọng hơn, các giá trị này sẽ được lan truyền và chia sẻ rộng khắp. Lâu dần, các giá trị này vô thức trở thành quan điểm - là cấp độ cap nhất của ý thức và là tỉnh hoa của văn hóa (Schein, 2004).
Tóm lại, chúng ta có thể nghĩ văn hóa là việc học tập được chia sẻ tích lũy của một nhóm nhất định, bao gồm các yếu tố hành vi, cảm xúc và hợp tác của tổng số tâm lý của các thành viên nhóm. Đối với việc học tập được chia sẻ như vậy xảy ra, phải có một lịch sử kinh nghiệm và sự chia sẻ, đến lượt nó, hàm ý một số sự ôn định của tư cách trong nhóm. Khi một nhóm có một nền văn hóa, nó sẽ truyền các yếu tố của nền văn hóa này cho các thế hệ nhóm mới (Louis, 1980; Schein, 1968; Van Maanen, 1976; Van Maanen và Schein, 1979). Hành vi là kết quả phái sinh của văn hóa (Schein, 2004).
Trong một tổ chức, có thể có một văn hóa thống trị và nhiều văn hóa con (Schein, 2004).