Chương 1 Lý luận hàng hoá sức lao động của C.Mác trong điều kiện nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa 1. Lý luận chung về hàng hoá sức lao động của C. Điều kiện xuất hiện hàng hoá sức lao động Theo C.Mác: "Sức lao động hay năng lực lao động là toàn bộ những năng lực thể chất và tinh thần tồn tại trong mọi cơ thể, trong mọi con người đang sống và được người đó đem ra vận dụng mỗi khi sản xuất ra một giá trị sử dụng nào đó" [24, tr. Như định nghĩa này của C.Mác thì sức lao động đã xuất hiện từ lâu, cùng với sự xuất hiện của con người, từ khi con người biết tiến hành sản xuất để tạo ra tư liệu sinh hoạt cho bản thân.
Trải qua quá trình lâu dài, sức lao động ngày càng được hoàn thiện hơn, thể hiện trình độ phát triển của lực lượng sản xuất. ở mọi thời kỳ, mọi nơi có tiến hành sản xuất đều có sự tồn tại của sức lao động. Nhưng sức lao động trở thành hàng hoá lại là đặc thù của một thời kỳ phát triển lịch sử, "trạng thái của một xã hội trong đó người công nhân xuất hiện trên thị trường hàng hoá làm người bán sức lao động của bản thân mình, bỏ cách rất xa các trạng thái xã hội của thời kỳ nguyên thuỷ" [24, tr. Nếu không kể tới thời kỳ cộng sản nguyên thuỷ thì trong một thời gian dài, sức lao động cùng với người có sức lao động bị cột chặt vào chủ nô và địa chủ phong kiến.
Người nô lệ thì bị áp đặt lao động cưỡng bức, bị đối xử như một công cụ biết nói và chịu sự chi phối hoàn toàn về mọi mặt của chủ nô. Còn người nông dân tá điền, tuy không bị lệ thuộc hoàn toàn vào địa chủ, nhưng họ lại không được quyền tự do di chuyển, lựa chọn chủ đất làm thuê. Sức lao động trong thời kỳ phong kiến đã manh nha trở thành hàng hoá nhưng lại bị chặn bởi sự bóc lột siêu kinh tế, dưới bạo lực của địa chủ phong kiến trấn áp. Người lao động có sức lao động chỉ làm thuê cho một địa chủ và chịu sự áp đặt tiền công mà không có quyền định giá cả của nó.
Điều này đã làm cho sức lao động không phải được thuê mua mà là bị áp bức cung cấp, nên sức lao động không thể trở thành hàng hoá được. Quan hệ sản xuất phong kiến đã trở thành lực cản cho sự phát triển của lực lượng sản xuất. Lực lượng sản xuất càng phát triển càng làm cho xã hội phong kiến thêm bất ổn định và quan hệ sản xuất phong kiến phải nhường chỗ cho quan hệ sản xuất mới, tiên tiến hơn mà cơ sở cho sự ra đời của phương thức sản xuất đó chính là sản xuất hàng hoá giản đơn đã được chuẩn bị sẵn chính trong lòng xã hội phong kiến. Sự phát triển của phân công lao động xã hội đã làm cho kinh tế hàng hoá giản đơn phát triển nhanh hơn, chuyển sang nền kinh tế tư bản chủ nghĩa mà 7 nền tảng là chế độ lao động làm thuê và sự bóc lột sức lao động của các ông chủ tư sản.
Dưới tác động của quy luật giá trị, những người sản xuất nhỏ, lạc hậu, sản xuất với chi phí cao, sản phẩm ít phong phú. đã không thể tồn tại được trong nền kinh tế hàng hoá phát triển. Những người sử dụng kỹ thuật cao hơn, với lượng hao phí lao động cần thiết ít hơn nhưng vẫn bán hàng hoá theo giá cả thị trường sẽ trở nên giàu có. Lúc đó, những người sản xuất bị phân hoá thành các nhà tư bản do tích tụ được một lượng vốn lớn và những người vô sản do bị phá sản trong sản xuất và trở thành lao động làm thuê.
Sự phân chia xã hội thành những nhà tư bản và tầng lớp vô sản đã tạo ra một chế độ kinh tế mới mà nền tảng là chế độ lao động làm thuê. Lúc này trên thị trường xuất hiện một loại hàng hoá đặc biệt là hàng hoá sức lao động. Người bán là người lao động không có tư liệu sản xuất, còn người mua là nhà tư bản có vốn liếng, tư liệu sản xuất trong tay. Quá trình mua bán hàng hoá sức lao động diễn ra tạo điều kiện cho sức lao động kết hợp được với tư liệu sản xuất, tạo nên quá trình sản xuất.Mác viết: Sức lao động chỉ có thể xuất hiện trên thị trường với tư cách là hàng hoá khi nó được đưa ra thị trường và chỉ trong chừng mực nó được đưa ra thị trường, hay được chính người chủ của nó, tức bản thân người có sức lao động đó đem bán.
Muốn cho người chủ sức lao động ấy có thể đem bán được nó với tư cách là hàng hoá, thì người đó phải có khả năng chi phối được sức lao động ấy, do đó người ấy phải là kẻ tự do sở hữu năng lực lao động của mình, thân thể mình [24, tr. Như vậy, điều kiện đầu tiên để sức lao động trở thành hàng hoá là người chủ sở hữu sức lao động phải được tự do chi phối năng lực lao động của mình. Với tư cách là một người tự do có sức lao động, anh ta có quyền bán hoặc không bán sức lao động của mình, có quyền thoả thuận giá cả với người mua, có quyền lựa chọn loại công việc mình thích, thời gian cũng như điều kiện lao động khi ở trên thị trường. Với tư cách là người có sức lao động, "anh ta và người chủ tiền gặp nhau trên thị trường và quan hệ với nhau với tư cách là những người chủ hàng hoá bình đẳng với nhau, chỉ khác nhau ở chỗ một người thì mua, còn người kia thì bán, và vì thế cả hai đều là người bình đẳng về mặt pháp lý" [24, tr.
Tuy nhiên, được tự do về mặt thân thể không chưa đủ, mà người sở hữu sức lao động còn phải là người không có hoặc không đủ tư liệu sản xuất, hay nói cách khác là không có gì để đảm bảo cho nhu cầu sinh tồn của bản thân mình ngoài việc bán sức lao động. Điều kiện thứ hai này cho thấy rằng, người có sức lao động được tự do về thân thể, nếu có tư liệu sản xuất, họ sẽ tự sản xuất ra sản phẩm để mang đi bán chứ không bán sức lao động như C.Mác đã nói: Người chủ tiền phải tìm được người lao động tự do trên thị trường hàng hoá, 8 tự do theo hai nghĩa: theo nghĩa là một con người tự do, chi phối được sức lao động của mình với tư cách là một hàng hoá, với mặt khác anh ta không còn có một hàng hoá nào để bán, nói một cách khác là trần như nhộng, hoàn toàn không có những vật cần thiết để thực hiện sức lao động của mình [24, tr. Hai điều kiện trên thuộc về bản thân người sở hữu sức lao động, tạo ra cho họ quyền tự định đoạt việc bán sức lao động của mình. Điều kiện thứ ba để đảm bảo sức lao động là hàng hoá, đó là người lao động chỉ bán sức lao động của mình trong một thời gian nhất định.
Thời gian đó được người mua và người bán hàng hoá sức lao động thoả thuận trên thị trường và được thể hiện trên hợp đồng để nhằm đảm bảo tính pháp lý của nó.Mác đã nói: Người sở hữu sức lao động bao giờ cũng chỉ bán sức lao động đó trong một thời gian nhất định thôi, bởi vì anh ta bán đứt hẳn toàn bộ sức lao động ấy trong một lần thì anh ta bán cả bản thân anh ta, và từ chỗ là một người tự do, anh ta sẽ trở thành một người nô lệ, từ chỗ là một người chủ hàng hoá, anh ta sẽ trở thành một hàng hoá. Với tư cách là một con người, anh ta phải thường xuyên duy trì mối quan hệ đối với sức lao động của mình như là đối với vật sở hữu của mình và vì vậy như là đối với một hàng hoá của bản thân mình. Điều đó chỉ có thể thực hiện được trong chừng mực anh ta bao giờ cũng chỉ để cho người mua sử dụng hoặc tiêu dùng sức lao động của mình một cách nhất thời, trong một thời hạn nhất định thôi, do đó chỉ trong chừng mực là khi bán sức lao động, anh ta vẫn không từ bỏ quyền sở hữu về sức lao động ấy [24, tr. Điều kiện thứ tư là luôn tồn tại một lớp người sẵn sàng mua sức lao động trên thị trường - đó là các nhà tư bản.
Một loại hàng hoá đưa ra trên thị trường làm đối tượng cho quá trình trao đổi thì cần phải có chủ thể và khách thể của quá trình trao đổi. Chủ thể của việc bán sức lao động là người công nhân, còn khách thể là nhà tư bản. Quá trình trao đổi giữa lao động sống với lao động vật hoá đã làm xuất hiện người lao động ở phía này và nhà tư bản ở phía kia. Người công nhân cần có tư liệu sinh hoạt để đảm bảo sự sinh tồn của mình nên bắt buộc phải bán sức lao động để thoả mãn điều đó.
Nhưng nhà tư bản - những người có tiền, có tư liệu sản xuất, tư liệu sinh hoạt thì họ vẫn có đủ điều kiện để tự sản xuất ra và tiêu dùng tư liệu sinh hoạt mà không cần phụ thuộc ai thì điều gì đã bắt họ xuất hiện trên thị trường với tư cách là người mua sức lao động? Nhà tư bản cần mua sức lao động của người khác để làm tăng thêm số giá trị mà họ đã chiếm được. Việc người có tiền mua sức lao động và tư liệu sản xuất nhằm làm tăng thêm giá trị 9 chiếm được đó đã biến những người có tiền bình thường thành những người tư bản. Ở đây, sức lao động được mua không phải vì sự phục vụ của nó hay sản phẩm của nó nhằm thoả mãn những nhu cầu cá nhân của người mua nó. Mục đích của người mua là làm tăng thêm giá trị của tư bản, là sản xuất ra những hàng hoá chứa đựng nhiều lao động hơn số hắn trả, và do đó chứa đựng một phần giá trị mà hắn chẳng tốn kém gì nhưng vẫn được thực hiện khi bán hàng hoá.
Sức lao động chỉ có thể bán được chừng nào nó bảo tồn được tư liệu sản xuất với tư cách là tư bản, chừng nào nó tái sản xuất ra được giá trị của bản thân nó với tư cách là tư bản, và cung cấp được một nguồn tư bản phụ thêm dưới dạng lao động không công.