CHƯƠNG 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ CHI PHÍ VÀ ƯỚC LƯỢNG CHI PHÍ CỦA DOANH NGHIỆP 1. LÝ LUẬN VỀ CHI PHÍ SẢN XUẤT KINH DOANH 1. Khái niệm và ý nghĩa của chi phí 1. Khái niệm Dù ở đâu sản xuất kinh doanh diễn ra cũng đều kèm theo chi phí như hình với bóng.
Trong điều kiện nguồn lực khan hiếm, các doanh nghiệp phải trả tiền cho đầu vào: nguyên liệu, thiết bị,…Các doanh nghiệp muốn có lãi phải luôn nhận thức được thực tế này khi đặt ra mục tiêu cho các hoạt động của mình bởi mỗi khoản chi phí không hợp lí sẽ làm giảm lợi nhuận đi bằng đúng khoản đó. Vì vậy, phân tích chi phí trước hết là khái niệm chi phí rất quan trọng. Một số quan điểm về chi phí: Phan Thế Công – Ninh Thị Hoàng Lan (2014, tr.165) cho rằng “chi phí sản xuất là toàn bộ phí tổn để phục vụ cho quá trình sản xuất kinh doanh mà doanh nghiệp phải bỏ ra, phải gánh chịu trong một thời kì nhất định. Ví dụ như các chi phí để mua nguyên nhiên vật liệu, chi phí để trả lương cho người lao động, chi phí cho bộ phận quản lí, chi phí khấu hao máy móc.
Nguyễn Văn Dần (2007) cho rằng chi phí sản xuất là những phí tổn mà doanh nghiệp đã bỏ ra (gánh chịu) để sản xuất và tiêu thụ hàng hóa, dịch vụ. Trên phương diện này, chi phí của doanh nghiệp có thể hiểu là toàn bộ các hao phí về lao động sống cần thiết, lao động vật hóa và các chi phí khác mà doanh nghiệp phải chi ra trong quá trình hoạt động sản xuất kinh doanh, biểu hiện bằng tiền và tính cho một kỳ nhất định. Như vậy, bản chất của chi phí trong hoạt động của doanh nghiệp luôn được xác định là những phí tổn (hao phí) về tài nguyên, vật chất, về lao động và gắn liền với mục đích kinh doanh. Phan Thế Công – Ninh Thị Hoàng Lan (2014, tr.166) đã viết “Chi phí kế toán là toàn bộ các khoản chi được thực hiện bằng một số tiền cụ thể mà các doanh nghiệp phải bỏ ra để sản xuất kinh doanh, các chi phí kế toán sẽ được hạch toán trong sổ sách kế toán.Chi phí này còn được gọi là chi phí hiện.Còn chi phí kinh tế là toàn bộ các chi phí cơ hội của tất cả các nguồn lực được đưa vào trong sản xuất.Nó bao gồm cả chi phí cơ hội hiện (chi phí hiện) và chi phí cơ hội ẩn (chi phí ẩn)”.
Vì vậy có thể thấy rằng chi phí kinh tế luôn lớn hơn chi phí kế toán Việc nghiên cứu và nhận thức chi phí còn phụ thuộc vào góc độ nhìn nhận khác nhau như: 6 Luan van Trên góc độ kế toán tài chính, chi phí được nhìn nhận như những khoản phí tổn phát sinh gắn liền với hoạt động của doanh nghiệp để đạt được 1 sản phẩm, lao vụ, dịch vụ nhất định. Chi phí được xác định bằng tiền của những hao phí về lao động sống cần thiết và lao động vật hóa… trên cơ sở chứng từ, tài liệu bằng chứng chắc chắn. Trên góc độ kế toán quản trị, chi phí còn được nhận thức theo phương thức nhận diện thông tin ra quyết định. Chi phí có thể là phí tổn thực tế gắn liền với hoạt động sản xuất kinh doanh hàng ngày khi tổ chức thực hiện, kiểm tra, ra quyết định; chi phí có thể là phí tổn ước tính để thực hiện dự án, phí tổn mất đi khi lựa chọn phương án, bỏ qua cơ hội kinh doanh.
Nói tóm lại, chi phí sản xuất kinh doanh là biểu hiện bằng tiền của toàn bộ các hao phí về lao động sống và lao động vật hóa mà doanh nghiệp bỏ ra có liên quan đến hoạt động sản xuất kinh doanh trong một thời kỳ nhất định (tháng, quý, năm). Hay nói cách khác, chi phí là biểu hiện bằng tiền của toàn bộ quá trình sản xuất và tiêu thụ sản phẩm. Ý nghĩa Chi phí sản xuất kinh doanh là điều kiện cần cho các hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp. Để thực hiện các hoạt động của mình doanh nghiệp phải sử dụng các yếu tố vật chất như: nhà xưởng, kho tàng, cửa hàng, trang thiết bị, tiền lương lao động,.Tất cả các yếu tố này có được là nhờ có chi phí.Như vậy, nếu không có chi phí thì doanh nghiệp không thể tồn tại và hoạt động được.
Chi phí sản xuất kinh doanh là cơ sở để xác định giá thành và giá bán sản phẩm của doanh nghiệp.Nó được sử dụng để phân tích và đánh giá hiệu quả trong hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp. Nó có quan hệ chặt chẽ với doanh thu, lợi nhuận. Chi phí có ý nghĩa quan trọng đối với việc ra quyết định của nhà quản trị. Nó giúp các nhà quản trị có những quyết định đúng đắn để lựa chọn những phương án mang lại hiệu quả sử dụng chi phí cao nhất.
Chi phí sản xuất kinh doanh không chỉ là mối quan tâm của doanh nghiệp mà còn là mối quan tâm của người tiêu dùng và của cả xã hội. Giảm được chi phí là tăng lợi nhuận cho doanh nghiệp, tăng khả năng cạnh tranh về giá cho sản phẩm, tăng lợi ích cho người tiêu dùng và tăng phúc lợi xã hội. Phân loại chi phí Tùy theo mục đích nghiên cứu chúng ta có thể phân loại chi phí của doanh nghiệp thành nhiều tiêu thức phân loại khác nhau, mỗi tiêu thức khác nhau lại có thể phân chi phí ra thành nhiều loại khác nhau. Dưới đây chúng ta sẽ nghiên cứu một số tiêu thức phân loại cơ bản nhằm phục vụ cho quá trình quản lí chi phí doanh nghiệp.
Theo mục đích của kế hoạch hóa Chi phí chuẩn Chi phí chuẩn còn gọi là chi phí định mức là chi phí được xác định trước do kết quả của công tác thống kê và kế hoạch. Nó được sử dụng như một số liệu dự báo ngắn hạn, hoặc được xem như là một mục tiêu phấn đấu của doanh nghiệp trong kinh doanh.Trong quản lí nó đưuọc xem như là một cái gốc để so sánh, phân tích đánh giá kết quả hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp. Chi phí thực hiện Chi phí thực hiện là chi phí phát sinh thực tế trong một thời kì nhất định, là những khoản thực chi thực trả của doanh nghiệp.Nếu chi phí chuẩn là số được phép chi thì chi phí thực hiện là số đã chi, bởi vậy trong quản lí người ta thường so sánh giữa chi phí thực hiện với phí chuẩn để đánh giá chất lượng quản lí chi phí. Theo tác động của chi phí đến hoạt động kinh doanh Chi phí trực tiếp Chi phí trực tiếp là những khoản chi phí phát sinh gắn liền với một sản phẩm hoặc một nghiệp vụ kinh doanh nhất định.
Các khoản chi phí này được hạch toán trực tiếp vào giá thành sản phẩm hoặc nghiệp vụ kinh doanh đó như chi phí lao động trực tiếp, chi phí nguyên vật liệu trực tiếp để tạo ra sản phẩm,… Chi phí gián tiếp Chi phí gián tiếp là các khoản chi phí phát sinh có liên quan đến nhiều sản phẩm, hoặc nhiều nghiệp vụ kinh doanh khác nhau. Thông thường, trước khi tính các khoản nghiệp vụ kinh doanh phải tiến hành phân bổ theo một nguyên tắc nhất định được xác định trước như chi phí nguyên vật liệu gián tiếp, chi phí lao động gián tiếp, chi phí quảng cáo, chi phí điện nước… 1. Theo tính chất biến động của chi phí so với khối lượng hàng hóa tiêu thụ Chi phí cố định (TFC) Chi phí cố định là những khoản chi phí không biến đổi trong một thời kì nhất định cho dù khối lượng hàng hóa tiêu thụ có tăng hay giảm. Đây là các khoản mà doanh nghiệp phải chi, phải trả, phải thanh toán trong một thời kì nhất định mà không bị ràng buộc bởi khối lượng hàng hoá tiêu thụ trong thời kì đó.
Đó là chi phí khấu hao tài sản cố định, chi phí trả lương theo thời gian, tiền thuê nhà, tiền điện nước, bưu điện phí,… Chi phí biến đổi (TVC) 8 Luan van Chi phí biến đổi là những khoản chi phí biến động cùng chiều với khối lượng hàng hóa tiêu thụ, bao gồm chi phí mua hàng, chi phí vận chuyển, tiền lương trả cho nhân viên bán hàng theo doanh số,… 1. Theo mục đích hạch toán và lên phương án phân phối thu nhập của doanh nghiệp Chi phí khấu hao tài sản cố định Chi phí khấu hao tài san cố định mà các tài sản cố định đó được sử dụng cho hoạt động sản xuất kinh doanh để tạo ra doanh thu trong kỳ theo chế độ quản lí, sử dụng và tính khấu hao hiện hành. Chi phí về nguyên nhiên vật liệu Chi phí về nguyên liệu, vật liệu, năng lượng, hàng hóa thực tế đã sử dụng vào sản xuất kinh doanh, dịch vụ có liên quan đến doanh thu tính thu nhập chịu thuế trong kỳ, căn cứ vào mức tiêu hao hợp lí và giá thực tế xuất kho. Chi phí tiền lương, tiền công Chi phí về tiền lương tiền công, tiền ăn giữa ca, các khoản mang tính chất tiền lương, tiền công mà doanh nghiệp phải trả theo chế độ quy định (Bao gồm cả khoản có tính chất lương trả cho người lao động tham gia vào hoạt động kinh doanh của doanh ngiệp).
Riêng tiền lương, tiền công của chủ doanh nghiệp tư nhân, chủ hộ cá thể và thu nhập của sáng lập viên công ty mà họ không trực tiếp tham gia điều hành sản xuất kinh doanh không được tính vào chi phí của doanh nghiệp. Chi phí khoa học, công nghệ Chi phí về ngiên cứu khoa học công nghệ, chi sáng kiến cải tiến, tài trợ cho giáo dục,y tế, đào tạo lao động theo chế độ quy định. Chi phí dịch vụ mua ngoài Chi phí dịch vụ mua ngoài như điện, nước, điện thoại, sửa chữa tài sản cố định, kiểm toán, bảo hiểm tài sản, chi trả tiền sử dụng các tài liệu kỹ thuật, bằng sáng chế (Không thuộc tài sản cố định), chi trả dịch vụ kỹ thuật. Chi phí tài chính Chi phí chi trả lãi vay vốn cho sản xuất kinh doanh Chi phí khác Các khoản trích nộp hình thành nguồn chi phí quản lí cấp trên theo chế độ quy định, kinh phí công đoàn, trích nộp bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bảo hộ lao động, chi trả cho lao động nữ (Theo quy định của pháp luật).
Các chỉ tiêu phân tích chi phí trong doanh nghiệp 9 Luan van 1. Chi phí ngắn hạn Tổng chi phí (TC) Tổng chi phí cố định (TFC) là toàn bộ chi phí cố định đã bỏ ra trong hoạt động sản xuất kinh doanh.