CHƯƠNG I: NHỮNG LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ PHÁP LUẬT ĐIỀU CHỈNH HỢP ĐỒNG MUA BÁN HÀNG HÓA.1 Khái quát chung về hợp đồng mua bán hàng hóa.1 Khái niệm về hợp đồng mua bán hàng hóa. Để có thể tồn tại và phát triển, các chủ thể trong xã hội tham gia vào các giao dịch nhất định thông qua việc trao đổi, dịch chuyển các lợi ích do mình tạo ra và nhận lại những lợi ich vật chất cần thiết từ các chủ thế khác nhằm thỏa mãn các nhu cầu chính đáng của mình. Một trong những phương thức cơ bản để thực hiện việc trao đổi lợi ích trong xã hội chính là sự thỏa thuận giữa các bên dựa trên các nguyên tắc tự do, tự nguyện, bình đẳng và được đặt dưới sự bảo trợ của luật pháp. Hiện tượng đó được định danh trong luật bằng thuật ngữ pháp lý: “Hợp đồng” Hợp đồng nói chung là một hành vi pháp lý, là sự thể hiện ý chí của các bên để làm phát sinh các quyền và nghĩa vụ.
Hợp đồng là loại hành vi pháp lý cơ bản và thông dụng nhất. Ý chí của cá nhân đóng vai trò quan trọng trong hợp đồng, khi sự thống nhất của các ý chí là thực chất và không trái pháp luật thì nó sẽ làm phát sinh các nghĩa vụ ràng buộc các bên. Hàng hoá theo nghĩa rộng được hiểu là sản phẩm lao động của con người, được tạo ra nhằm mục đích trao đổi để thoả mãn những nhu cầu mang tính xã hội. Nhu cầu của con người rất phong phú và biến thiên liên tục vì vậy hàng hoá luôn phát triển phong phú và đa dạng.
Theo định nghĩa của pháp luật hiện hành Việt Nam tại Điều 3 khoản 2 LTM 2005 thì “Hàng hoá bao gồm: Tất cả các loại động sản, kể cả bất động sản hình thành trong tương lai, những vật gắn liền với đất đai”. Cũng tại Điều 3 khoản 8 của Luật này cũng quy định: “Mua bán hàng hoá là hoạt động thương mại, theo đó các bên có nghĩa vụ giao hàng, chuyển quyền sở hữu hàng hoá cho bên mua và nhận thanh toán; bên mua có nghĩa vụ thanh toán cho bên bán, nhận hàng và quyền sở hữu hàng hoá theo đúng thoả thuận” Hợp đồng mua bán hàng hóa là một phương tiện quan trọng phục vụ cho nhu cầu tiêu dùng cũng như sản xuất kinh doanh giữa các chủ thể thuộc các thành phần kinh tế khác nhau, hiện nay, hoạt động mua bán hàng hoá được điều chỉnh chủ yếu bởi hai văn bản pháp luật quan trọng là BLDS 2005 và LTM 2005. Theo quy định của Điều 428 BLDS 2005 về hợp đồng mua bán tài sản thì: Hợp đồng mua bán tài sản là sự thỏa thuận giữa các bên, theo đó bên bán có nghĩa vụ giao tài sản cho bên mua và nhận tiền, còn bên mua có nghĩa vụ nhận tài sản và trả tiền cho bên bán. Theo điều 163 BLDS 2005 thì tài sản bao gồm : vật, tiền, giấy tờ có giá và các quyền tài sản.LTM 2005 không đưa ra định nghĩa về hợp đồng mua bán hàng hóa mà chỉ đưa ra khái niệm về hoạt động mua bán hàng hoá.
Hàng hóa theo quy định của LTM 2005 có thể là hàng 5 Luan van hóa hiện đang tồn tại hoặc hàng hóa sẽ có trong tương lai; hàng hóa có thể là động sản hoặc bất động sản được phép lưu thông thương mại. Từ hai định nghĩa trên có thể thấy hợp đồng mua bán hàng hóa theo quy định của LTM 2005 là một dạng cụ thể của hợp đồng mua bán tài sản. Bên cạnh đó cũng cần phân biệt hợp đồng mua bán hàng hoá với các hợp đồng khác, ví dụ như thuê mua tài sản, dịch vụ gắn liền với hàng hoá, gia công hàng hoá… Mua bán hàng hoá khác với quan hệ thuê mua tài sản, khi thuê tài sản, quyền sử dụng và chiếm hữu được chuyển cho người thuê nhưng quyền sở hữu lại không được người cho thuê chuyển giao cho người đi thuê, mua bán hàng hoá khác với các dịch vụ giao nhận hàng hoá, vì người giao nhận hàng hoá chỉ thực hiện chức năng trung gian. Căn cứ các điều khoản trên, có thể kết luận rằng “Hợp đồng mua bán hàng hoá là sự thỏa thuận giữa các bên, theo đó bên bán có nghĩa vụ giao hàng hóa cho bên mua và nhận tiền, còn bên mua có nghĩa vụ nhận hàng và trả tiền cho bên bán theo thời hạn, số lượng và phương thức thanh toán mà các bên đã thỏa thuận”.2 Đặc điểm Quan hệ mua bán hàng hoá được xác lập và thực hiện thông qua hình thức pháp lí là hợp đồng mua bán hàng hoá, có bản chất chung của hợp đồng dân sự, là sự thoả thuận nhằm xác lập, thay đổi hoặc chấm dứt các quyền và nghĩa vụ trong quan hệ mua bán.
Dù Luật Thương mại 2005 không đưa ra định nghĩa về hợp đồng mua bán hàng hoá song có thể các định bản chất pháp lí của hợp đồng mua bán hàng hoá được quy định trong Luật Thương mại năm 2005 trên cơ sở Điều 428 của Bộ luật dân sự năm 2005 về hợp đồng mua bán tài sản. Từ đó cho thấy hợp đồng mua bán hàng hoá trong thương mại là một dạng cụ thể của hợp đồng mua bán tài sản, tuy vậy, hợp đồng mua bán hàng hoá theo quy định của Luật Thương mại năm 2005 vẫn có những nét khác biệt, đặc thù so với hợp đồng mua bán tài sản theo quy định của Bộ luật dân sự năm 2005 Thứ nhất, về chủ thể của hợp đồng: Chủ thể trong hợp đồng mua bán hàng hoá chủ yếu là thương nhân. Thương nhân theo quy định của Luật Thương mại năm 2005 bao gồm tổ chức kinh tế được thành lập hợp pháp, cá nhân hoạt động thương mại một cách độc lập, thường xuyên và có đăng kí kinh doanh. Thương nhân là chủ thể của hợp đồng mua bán hàng hoá có thể là thương nhân Việt Nam hoặc thương nhân nước ngoài (trong hợp đồng mua bán hàng hoá quốc tế), ngoài chủ thể là thương nhân, các tổ chức, cá nhân không phải là thương nhân cũng có thể trở thành chủ thể của hợp đồng mua bán hàng hoá.
Hoạt động của chủ thể không phải là thương nhân và không nhằm mục đích lợi nhuận trong quan hệ hợp đồng mua bán hàng hoá chỉ phải tuân theo pháp luật thương mại khi chủ thể này lựa chọn áp dụng Luật Thương mại năm 2005.Trong khi đó, chủ thể của hợp đồng mua bán tài sản có thể là mọi tổ chức, cá nhân đầy đủ 6 Luan van năng lực, có nhu cầu mua bán tài sản, có sự mở rộng hơn rất nhiều so với chủ thể trong hợp đồng mua bán hàng hóa. Thứ hai, về đối tượng hợp đồng, hợp đồng mua bán hàng hoá theo quy định của Luật Thương mại năm 2005 có đối tượng là hàng hoá. Tuy nhiên không thể hiểu theo nghĩa thông thường, hàng hoá là sản phẩm lao động của con người, được tạo ra nhằm mục đích thoả mãn nhu cầu của con người hay chỉ bao gồm máy móc, thiết bị, nguyên liệu, nhiên liệu, vật liệu, hàng tiêu dùng, các động sản khác được lưu thông trên thị trường, nhà ở dùng để kinh doanh đưới hình thức cho thuê, mà còn là hàng hoá hiện đang tồn tại hoặc sẽ có trong tương lai, hàng hoá có thể là động sản hoặc bất động sản được phép lưu thông thương mại. Khoản 2 Điều 3 Luật Thượng mại năm 2005 quy định: “Hàng hóa bao gồm: a) Tất cả các loại động sản, kể cả động sản hình thành trong tương lai; b) Những vật gắn liền với đất đai”.
Còn hợp đồng mua bán tài sản trong dân sự có đối tượng gồm các loại tài sản quy định trong Điều 162 Bộ luật Dân sự 2005: “Vật, tiền, giấy tờ có giá và các quyền tài sản được phép giao dịch”. Đối tượng của hợp đồng mua bán tài sản được quy định trong Bộ luật dân sự năm 2005 được quy định mang tính chất khái quát, là những tài sản được phép lưu thông, bao gồm cả hàng hóa trong mua bán thương mại, hàng hóa trong hợp đồng mua bán hàng hoá chỉ là một bộ phận của các loại tài sản là đối tượng của hợp đồng mua bán tài sản trong dân sự. Thứ ba, về mục đích của hợp đồng: hợp đồng mua bán hàng hoá theo quy định của Luật Thương mại chủ yếu là để kinh doanh thu lợi nhuận cho các thương nhân. Chỉ phần nào đó phục vụ mục đích tiêu dùng và các mục đích khác cho cả thương nhân và những chủ thể không phải thương nhân tuỳ theo mong muốn và nhu cầu của họ trong từng thời điểm.
Trong khi đó, ở hợp đồng mua bán tài sản theo quy định của Bộ luật dân sự năm 2005, với sự đa dạng của số lượng các chủ thể tham gia nên không nhất thiết đặt ra mục đích thu lợi nhuận mà có thể nhằm nhiều mục đích khác nhau như thiết lập quyền sở hữu, tiêu dùng,… Thứ tư, về hình thức hợp đồng. Mặc dù cả Luật Thương mại năm 2005 và Bộ Luật dân sự năm 2005 đều quy định hình thức hợp đồng mua bán có thể được thể hiện dưới hình thức bằng lời nói, bằng văn bản hoặc bằng hành vi cụ thể của các bên gia kết. Tuy nhiên, trong thực tế hoạt động kinh doanh thương mại, đối tượng của hợp đồng thường là những hàng hóa có số lượng, khối lượng hoặc giá trị lớn và để đảm bảo lợi ích giữa các bên giao kết, tránh xảy ra tranh chấp không đáng có thì hình thức hợp đồng bằng văn bản được sử dụng là chủ yếu. 7 Luan van Thứ năm, về nội dung hợp đồng: Nội dung của hợp đồng mua bán hàng hoá theo quy định của Luật Thương mại năm 2005 cũng như trong hợp đồng mua bán tài sản trong Bộ luật dân sự năm 2005 cơ bản là các điều khoản do các bên thoả thuận, thể hiện quyền và nghĩa vụ của các bên trong quan hệ hợp đồng.
Tuy nhiên, nghĩa vụ của các bên trong giao kết hợp đồng mua bán hàng hóa quy định tại Khoản 8 Điều 3 Luật Thương mại năm 2005 “Mua bán hàng hoá là hoạt động thương mại, theo đó bên bán có nghĩa vụ giao hàng, chuyển quyền sở hữu hàng hóa cho bên mua và nhận thanh toán; bên mua có nghĩa vụ thanh toán cho bên bán, nhận hàng và quyền sở hữu hàng hoá theo thỏa thuận” có sự khác biệt so với quy định tại Điều 428 Bộ luật dân sự: “Hợp đồng mua bán tài sản là sự thoả thuận giữa các bên, theo đó bên bán có nghĩa vụ giao tài sản cho bên mua và nhận tiền, còn bên mua có nghĩa vụ nhận tài sản và trả tiền cho bên bán”.