chương 1: Qua tìm hiểu và thực tập tại công ty cho thấy tình hình hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp phát triển rất tốt và đều đặn qua các năm. Các chỉ tiêu đưa ra đều được thực hiện và đạt kết quả tốt. Doanh nghiệp đang dần dần chiếm được sự tín nhiệm của khách hàng và các nhà đầu tư, đó cũng chính là nỗ lực tích cực hoạt động của cán bộ công nhân viên tại doạnh nghiệp và ban quản lý điều hành tốt công việc. Và điều đó cũng nói lên chiến lược kinh doanh tại doanh nghiệp có hiệu quả.
Nhu cầu sử dụng những sản phẩm ngày càng lớn đối với các doanh nghiệp nhà đầu tư.và các dịch vụ của công tyđáp ứng tốt cho nhu cầu của khách hàng. 12 CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ MARKETING 2.1 Một số khái niệm cơ bản 2.Khái niệm về Marketing * Vai trò của Marketing trong hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp: Để hiểu được vai trò Marketing quan trọng như thế nào đối với doanh nghiệp, trước tiên cần phải hiểu rõ khái niệm về Marketing. Marketing có rất nhiều định nghĩa , tùy theo góc độ nhìn nhận khác nhau mà từ đó marketing được hình thành và tồn tại. Định nghĩa của Philip kotler: “Marketing là một dạng hoạt động của con người nhằm thỏa mãn nhu cầu và mong muốn của họ thông qua trao đổi”.
Theo CIM (UK’s Chartered Institute of Marketing): “Marketing là quá trình quản trị nhận biết , dự đoán và đáp ứng nhu cầu khách hàng một cách có hiệu quả và có lợi” Theo AMA (American Marketing Association, 1985): “ Marketing là tiến trình hoạch định và thực hiện sáng tạo, đánh giá, xúc tiến và phân phối những ý tưởng, hàng hóa và dịch vụ để tạo ra sự trao đổi để thõa mãn những mục tiêu của các nhân và tổ chức”. Theo Groross (1990): “Marketing là hoạt động thiết lập , duy trì và cũng cố lâu dài những mối quan hệ với khách hàng một cách có lợi để đáp ứng mục tiêu của hai bên. Điều này được thực hiện bằng sự trao đổi giữa các bên và thõa mãn những điều hứa hẹn”. (Nguồn: “Principle of Marketing”, Frances Brassington & Stephen Pettitt, 1997) “Marketing là tiến trình qua đó các cá nhân và nhóm có thể đạt được những nhu cầu và mong muốn bằng việc sáng tạo và trao đổi sản phẩm và giá trị giữa các bên”.
13 Marketing hỗn hợp (marketing mix) là tập hợp các công cụ tiếp thị được doanh nghiệp sử dụng để đạt được trọng tâm tiếp thị trong thị trường mục tiêu. Thuật ngữ lần lần đầu tiên được sử dụng vào năm 1953 khi Neil Borden, là chủ tịch của hiệp hội Marketing Hoa Kỳ lấy ý tưởng công thức thêm một bước nữa và đặt ra thuật ngữ Marketing hỗn hợp. Một nhà tiếp thị nổi tiếng, E. Jerome McCarthy, đề nghị phân loại theo 4P năm 1960, mà nay đã được sử dụng rộng rãi.
Khái niệm 4P được giải thích phần lớn trong sách giáo khoa về marketing và trong các lớp học. Tiếp thị hỗn hợp (Marketing Mix) là tập hợp các công cụ tiếp thị được doanh nghiệp sử dụng để đạt được trọng tâm tiếp thị trong thị trường mục tiêu. 4P là một khái niệm trong marketing, đó là: Product (Sản phẩm): Một đối tượng hữu hình hoặc một dịch vụ vô hình đó là khối lượng sản xuất hoặc sản xuất trên quy mô lớn với một khối lượng cụ thể của đơn vị. Sản phẩm vô hình là dịch vụ như ngành du lịch và các ngành công nghiệp khách sạn hoặc mã số các sản phẩm như nạp điện thoại di động và tín dụng.
Ví dụ điển hình của một khối lượng sản xuất vật thể hữu hình là những chiếc xe có động cơ và dao cạo dùng một lần. Một khối lượng chưa rõ ràng nhưng phổ biến dịch vụ sản xuất là một hệ thống điều hành máy tính. Price (Giá cả): Giá bán là chi phí khách hàng phải bỏ ra để đổi lấy sản phẩm hay dịch vụ của nhà cung cấp. Nó được xác định bởi một số yếu tố trong đó có thị phần, cạnh tranh, chi phí nguyên liệu, nhận dạng sản phẩm và giá trị cảm nhận của khách hàng với sản phẩm.
Việc định giá trong một môi trường cạnh tranh không những vô cùng quan trọng mà còn mang tính thách thức. Nếu đặt giá quá thấp, nhà cung cấp sẽ phải tăng số lượng bán trên đơn vị sản phẩm theo chi phí để có lợi nhuận. Nếu đặt giá quá cao, khách hàng sẽ dần chuyển 14 sang đối thủ cạnh tranh. Quyết định về giá bao gồm điểm giá, giá niêm yết, chiết khấu, thời kỳ thanh toán,.
Place (Phân phối): đại diện cho các địa điểm mà một sản phẩm có thể được mua. Nó thường được gọi là các kênh phân phối. Nó có thể bao gồm bất kỳ cửa hàng vật lý cũng như các cửa hàng ảo trên Internet. Việc cung cấp sản phẩm đến nơi và vào thời điểm mà khách hàng yêu cầu là một trong những khía cạnh quan trọng nhất của bất kỳ kế hoạch marketing nào.
Promotions (xúc tiến thương mại hoặc hỗ trợ bán hàng): hỗ trợ bán hàng là tất cả các hoạt động nhằm đảm bảo rằng khách hàng nhận biết về sản phẩm hay dịch vụ của bạn, có ấn tượng tốt về chúng và thực hiện giao dịch mua bán thật sự. Những hoạt động này bao gồm quảng cáo, catalog, quan hệ công chúng và bán lẻ, cụ thể là quảng cáo trên truyền hình, đài phát thanh, báo chí, các bảng thông báo, đưa sản phẩm vào phim ảnh, tài trợ cho các chương trình truyền hình và các kênh phát thanh được đông đảo công chúng theo dõi, tài trợ cho các chương trình dành cho khách hàng thân thiết, bán hàng qua điện thoại, bán hàng qua thư trực tiếp, giới thiệu sản phẩm tận nhà, gởi catalog cho khách hàng, quan hệ công chúng.Vai trò của marketing Thúc đẩy tiến trình phát triển và đổi mới sản phẩm. Đóng vai trò trung tâm trong việc dịch chuyển thông tin khách hàng thành các sản phẩm dịch vụ mới. Định vị sản phẩm trên thị trường.
Marketing có vai trò hướng dẫn, chỉ đạo và phối hợp các hoạt động sản xuất kinh doanh là cơ sở để lập kế hoạch kinh doanh và chỉ đạo các hoạt động kinh doanh. 15 Giúp khảo sát thị trường , hoạt động sản xuất tiêu thụ, đáp ứng nhu cầu của khách hàng một cách thiết thực. Giúp giải quyết tốt mối quan hệ giữa doanh nghiệp và thị trường. Marketing chính là biện pháp cụ thể hóa kế hoạch kinh doanh tại doanh nghiệp.
Kích thích sự nghiên cứu và cải tiến sản xuất.Chức năng của Marketing Nghiên cứu thị trường, phân tích tiềm năng nhu cầu tiêu dùng, dự đoán triển vọng. Tăng cường khả năng thích nghi của các doanh nghiệp trong điều kiện thị trường biến động thường xuyên. Thõa mãn ngày càng cao nhu cầu tiêu dùng của quần chúng Kết nối các hoạt động sản xuất của doang nghiệp với thị trường làm tăng cường hiệu quả hoạt động khinh doanh. Khái niệm thị trường Thị trường bao gồm tất cả các khách hàng hiện tại và tiềm ẩn cùng có một nhu cầu hay mong muốn cụ thể, sẳn sàng và có khả năng tham gia trao đổi để thõa mãn nhu cầu hay mong muốn đó.
Như vậy theo khái niệm này quy mô thị trường sẽ phụ thuộc vào lượng người có cùng mong muốn, nhu cầu, lượng thu nhập, lượng tiền mà họ sẵn sàng bỏ ra để mua sản phẩm hàng hóa nhằm thõa mãn nhu cầu, mong muốn đó. Quy 16 mô thị trường không phụ thuộc vào số người đã mua hàng cũng không phụ thuộc vào số người có nhu cầu và mong muốn khác nhau.Khái niệm sản phẩm. Sản phẩm là những vật thể hữu hình hay vô hình (dịch vụ, ý tưởng) có khả năng thõa mãn những nhu cầu nhất định. Một sản phẩm trở thành hàng hóa khi nó được bán trên thị trường với mức giá theo quy định chung.
Bên cạnh đó, một sản phẩm gồm 3 thành phần cơ bản: Thành phần cốt lõi thể hiện qua công dụng hay lợi ích của sản phẩm Thành phần sản phẩm hiện thực thể hiện qua đặc điểm của sản phẩm như là nhãn hiệu, kiểu dáng, đóng gói. Thành phần bổ sung thể hiện qua những dịch vụ cộng thêm như lắp đặt, giao hàng, bảo hành… Người bán phải chú ý đến các lợi ích hay dịch vụ có khả năng thõa mãn nhu cầu hay ước muốn của khách hàng chứ không phải bán những đặc tính vật chất của sản phẩm. Khái niệm về khách hàng Khách hàng là cá nhân hay tổ chức bất kỳ trong chuỗi phân phối và quyế định, mà hành động hoặc sự quan tâm của họ có thể ảnh hưởng đến việc mua các sản phẩm và dịch vụ của bạn. *Phân loại khách hàng: có 2 loại Khách hàng nội bộ: Những người làm việc trong các bộ phận khác nhau của tổ chức.
Những con người làm việc tại các chi nhánh khác nhau của tổ chức. 17 Khách hàng bên ngoài: Doanh nghiệp hoặc người làm kinh doanh, bao gồm nhà cung cấp, ngân hàng, đối thủ cạnh tranh. Tổ chức chính phủ, cơ quan nhà nước, tổ chức từ thiện. Khái niệm về nhu cầu, mong muốn.
Nhu cầu: Nhu cầu của con người là một trạn thái cảm giác thiếu hụt một sự thõa mãn cơ bản nào đó. Người ta cần có thức ăn, quần áo, nơi ở, sự an toàn, giải trí, của cải.và một vài thứ khác nữa để tồn tại. Mong muốn: Mong muốn là sự ao ước có được những thứ cụ thể để thõa mãn những nhu cầu sâu xa hơn. Mong muốn của con người không ngừng phát triển và được định hình bởi cac lực lượng và định chế xã hội, như nhà thờ, trường học, gia đình và các doanh nghiệp kinh doanh.
Khái niệm Marketing dịch vụ. Dịch vụ ra đời và phát triển theo quy luật phát triển của xã hội. Chính sự tăng trưởng thường xuyên của mức sống người dân bao gồm cà việc tiêu dùng cá nhân kéo theo việc tăng về nhu cầu dịch vụ. Do vậy làm cho sản phẩm dịch vụ tồn tại ở rất nhiểu ngành khác nhau.
Mặt khác, Marketing dịch vụ là sự phát triển lý thuyết chung áp dụng vào lĩnh vực dịch vụ. Vì thế, cho đến nay việc định nghĩa Marketing dịch vụ có rất nhiều quan diểm khac nhau. Philip Kotler đưa ra một số ý tưởng vể Marketing dịch vụ “Marketing dịch vụ đòi hỏi các giải pháp nâng cao chất lượng , năng suất sản phẩm dịch vụ, tác động làm thay đổi cầu, tác động vào việc định giá cũng như phân phối, giao tiếp”.