Chương I : Tổng quan về ảnh hưởng của biến động dân số đến phát triển kinh tế - xã hội 1.1 Một số khái niệm về dân số và biến động dân số 1.1 Dân số Dân số bao gồm toàn bộ số người sinh sống trong phạm vi một lãnh thổ nhất định: một vùng, một nước, một nhóm nước hoặc cả thế giới (toàn cầu). Quy mô dân số biểu thị khái quát tổng số dân của một vùng, một nước hay của các khu vực khác nhau trên thế giới (giáo trình dân số học) Còn theo pháp lệnh dân số năm 2003 (Pháp lệnh số 03/2003/PL-UBTVQH11 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội ngày 9/1/2003 về dân số), dân số là tập hợp người sinh sống trong một quốc gia, khu vực, vùng địa lý kinh tế hoặc một đơn vị hành chính. Quy mô dân số là số người sống trong một quốc gia, khu vực, vùng địa lý kinh tế hoặc một đơn vị hành chính tại thời điểm nhất định.2 Biến động dân số Khái niệm: Biến động dân số là sự thay đổi số lượng dân số của một quốc gia, khu vực, vùng địa lý kinh tế hoặc một đơn vị hành chính theo thời gian do tác động của ba quá trình sinh, tử và di dân. Biến động dân số được chia làm 2 loại: biến động dân số tự nhiên và biến động dân số cơ học Khảo sát sự biến động dân số nhằm mục đích tìm hiểu quá trình phát triển dân số của một quốc gia, một địa phương để biết dân số của vùng lãnh thổ đó thay đổi như thế nào: theo chiều hướng tăng, theo chiều hướng giảm, không tăng, không giảm hay phát triển quá nhanh dẫn đến bùng nổ dân số.
Từ đó, đưa ra các giải pháp để cân bằng sự phát triển dân số với sự phát triển kinh tế - xã hội 1.1 Biến động dân số tự nhiên Là sự chênh lệch giữa mức sinh và mức tử của dân số một quốc gia, khu vực, vùng địa lý kinh tế hoặc một đơn vị hành chính trong một thời kỳ nhất định. Hoàng Kiên Thành – Kinh tế và quản lý đô thị 48 4 Ảnh hưởng của biến động dân số đến phát triển kinh tế - xã hội tỉnh Lào Cai 1.2 Biến động dân số cơ học Là sự chênh lệch giữa xuất cư và nhập cư do quá trình di dân của một quốc gia, khu vực, vùng địa lý kinh tế hoặc một đơn vị hành chính trong một thời kỳ nhất định. Di dân là sự di chuyển dân số từ quốc gia này đến cư trú ở quốc gia khác, từ đơn vị hành chính này tới cư trú ở đơn vị hành chính khác mang đặc trưng thay đổi nơi cư trú, theo những chuẩn mực không gian và thời gian nhất định. Di dân có 2 loại: di dân quốc tế và di dân trong nước.
*Di dân quốc tế bao gồm (theo hội nghị dân số thế giới ở Mêhicô): -Di dân hợp quy tắc -Di dân không hợp quy tắc -Hiện tượng “chảy máu chất xám” -Người tị nạn Ngoài ra còn có phân loại khác như : theo đặc trưng địa lý (di dân trong khu vực và liên khu vực, di dân trong châu lục và liên châu lục); theo đặc trưng phát triển (di dân giữa các nước phát triển, giữa các nước đang phát triển, giữa các nước phát triển –đang phát triển). *Di dân trong nước bao gồm: -Theo cấp hành chính: Mỗi nước có những quy định phân cấp hành chính riêng. Ở nước ta chính thức có 3 cấp: tỉnh (thành phố), huyện (quận, thị xã), xã (phường, thị trấn). Vùng và miền không phải cấp hành chính song cũng được quan tâm nghiên cứu di dân.
Ở cấp xã, di chuyển trong nội bộ xã nói chung không phải là di dân nhưng sự di chuyển mang ý nghĩa đặc thù khai phá đất mới, lập thôn mới lại được coi là di dân. -Theo trình độ phát triển: đặc trưng rõ nhất là phân chia thành thị, nông thôn. Như vậy sẽ có 4 kiểu di dân: (1)Nông thôn – Nông thôn (2)Nông thôn – Thành thị (3)Thành thị – Thành thị (4)Thành thị – Nông thôn Về hình thức, đây chỉ là những cặp hoán vị của 2 phạm trù. Song nội dung phản ánh thực trạng xu hướng vận động phát triển của lịch sử di dân.
Khi chưa chưa phát triển Hoàng Kiên Thành – Kinh tế và quản lý đô thị 48 5 Ảnh hưởng của biến động dân số đến phát triển kinh tế - xã hội tỉnh Lào Cai thì (1) là hình thức di dân chủ yếu. Quá trình công nghiệp hóa – hiện đại hóa tạo nên hình thức (2). Sau đó sự phát triển mạnh mẽ hình thành nhiều đô thị mới nên (3) là hình thức chủ yếu. Cuối cùng khi sự phát triển đạt đến mức cao nhất định thì xu hướng (4) chiếm ưu thế.
Các xu hướng lịch sử này hiện đang chi phối hầu như tất cả các quốc gia, vùng và địa phương.3 Các yếu tố gây ra biến động dân số Phương trình cơ bản của biến động dân số Ba quá trình sinh, tử và di dân kết hợp lại sẽ tạo nên phương trình căn bản của biến động dân số: Pt = P0 + B - D + I - O Trong đó: - Pt là dân số ở thời điểm t cần khảo sát. - Po là dân số ở thời điểm gốc. - B, D, I, O lần lượt là số trẻ em được sinh ra, số người chết, số người nhập cư, số người xuất cư trong thời kỳ (0, t).1 Mức sinh và các yếu tố ảnh hưởng Sinh sản là yếu tố cơ bản ảnh hưởng đến quá trình biến động tự nhiên dân số. Nó không chỉ ảnh hưởng đến quy mô cơ cấu, tốc độ tăng dân số mà còn ảnh hưởng lớn đến quá trình phát triển kinh tế - xã hội.
Mức sinh chịu sự tác động của nhiều yếu tố, nhưng vẫn diễn ra theo một xu hướng nhất định. Để điều tiết mức sinh phải biết xu hướng biến động và những yếu tố ảnh hưởng đến nó. Trong dân số học, sinh sản chỉ sự sinh sản của phụ nữ, liên quan tới số trẻ đẻ ra mà một phụ nữ thực sự có. Có hai cách tiếp cận nghiên cứu mức sinh : mức sinh theo thời kỳ và mức sinh theo đoàn hệ (thế hệ).
Nói chung, phân tích theo thời kỳ đơn giản hơn, hay được dùng hơn. *Các yếu tố ảnh hưởng đến mức sinh : Mức sinh sản không chỉ phụ thuộc vào khả năng sinh sản của các cặp vợ chồng mà chịu ảnh hưởng bởi một loạt các yếu tố khác như : tuổi kết hôn, thời gian chung sống của các cặp vợ chồng, ý muốn về số con, trình độ phát triển kinh tê – xã hội, địa vị của người phụ nữ, việc sử sụng các biện pháp tránh thai. Như vậy mức sinh chịu ảnh hưởng của nhiều biến số trực tiếp hoặc gián tiếp. Ta có thể chia thành 3 loại bao gồm: Hoàng Kiên Thành – Kinh tế và quản lý đô thị 48 6 Ảnh hưởng của biến động dân số đến phát triển kinh tế - xã hội tỉnh Lào Cai những biến số trung gian (nhân tố quyết định gần); những biến số liên quan đặc tính và hoàn cảnh gia đình; biến số môi trường.
-Những biến số trung gian (nhân tố quyết định gần): Theo Davis và Blake, 2 nhà nghiên cứu đã tạo ra 1 hệ thống biến số có vai trò trung gian giữa các biến số hành vi và mức sinh, cho rằng có 3 loại biến số trung gian cần thiết cho tái sinh sản là : +Xác suất giao hợp (tuổi kết hôn). +Xác suất thụ thai nếu có quan hệ tình dục (biện pháp tránh thai. +Xác suất thụ thai dẫn đến sinh con sống (sẩy thai, nạo thai. Còn Bongaarts, nhà nghiên cứu dân số học đã trình bày một cách hệ thống các biến số trung gian, ảnh hưởng của chúng đối với tình trạng mức sinh cao và mức sinh thấp, cho rằng có 4 loại biến số trung gian là : +Tỷ lệ dân số trong quan hệ tình dục.
+Tỷ lệ người quan hệ sử dụng biện pháp tránh thai và độ hiệu quả của những biện pháp đó. +Độ phổ biến nạo thai trong dân số. +Khoảng thời gian trung bình cho con bú của dân số. -Những biến số liên quan đặc tính gia đình và hoàn cảnh gia đình: Trong nhóm này có nhiều loại biến số : tuổi, mức chết, ngân sách của gia đình, những chi phí và thuận lợi có con, địa vị phụ nữ, thu nhập và sở thích.
+Tuổi là 1 trong những biến số quan trọng nhất giải thích mức sinh của cá nhân trong phạm vi vi mô. Cơ cấu tuổi là 1 trong những biến số quan trọng nhất khi giải thích mức sinh phạm vi vĩ mô. Tại cả 2 phạm vi, tuổi liên quan đến kết hôn, ly hôn, góa, tuổi dậy thì, bắt đầu khả năng sinh đẻ, tần suất giao hợp, xác suất thụ thai và mãn kinh. +Mức chết ảnh hưởng tới mức sinh thông qua 1 số cơ chế.
Thứ nhất, ảnh hưởng đến số người sống trong tuổi sinh đẻ qua cơ cấu tuổi – giới tính. Thứ hai, mức chết trẻ sơ sinh và trẻ em có thể ảnh hưởng đến mức sinh qua cơ chế sinh học và hành vi. +Ngân sách, tài sản và thời gian của gia đình cũng ảnh hưởng đến mức sinh. Ngân sách giới hạn những hàng hóa mua được.
Quỹ thời gian là số giờ hoặc ngày có Hoàng Kiên Thành – Kinh tế và quản lý đô thị 48 7 Ảnh hưởng của biến động dân số đến phát triển kinh tế - xã hội tỉnh Lào Cai thể làm việc. Do đó yêu cầu khi có con đòi hỏi có cả vật chất và sử dụng thời gian. Yêu cầu có những chi phí và thuận lợi khi có con trong một gia đình có thể ảnh hưởng đến mức sinh. +Địa vị người phụ nữ, theo nhiều nhà nghiên cứu là nhân tố quyết định chủ chốt ảnh hưởng đến mức sinh.
Địa vị người phụ nữ có thể ảnh hưởng đến mức sinh thông qua tuổi kết hôn, những lựa chọn sinh con trong hôn nhân và mức sinh tự nhiên. Trình độ học vấn, sự tham gia vào lực lượng lao động, khả năng quyết định trong gia đình và tình trạng sức khỏe là những nhân tố hay được nghiên cứu khi nói đến địa vị phụ nữ và mức sinh. Hai nhân tố quan trọng nhất là trình độ học vấn và công việc. Sự khác biệt mức sinh của các nước đang phát triển và cac nước phát triển đều cho thấy 1 quan hệ nghịch giữa trình độ học vấn của người mẹ và mức sinh.
Quan hệ này mạnh nhất ở lứa tuổi trẻ và rõ nhất ở những bậc học cao. Trình độ học vấn ảnh hưởng nhiều đến biến số trung gian tuổi kết hôn và việc sử dụng biện pháp tránh thai.