CHƯƠNG I - CƠ SỞ LÍ LUẬN VỀ HẠ TẦNG KỸ THUẬT ĐÔ THỊ VÀ QUẢN LÝ HẠ TẦNG KĨ THUẬT ĐÔ THỊ 1. Tổng quan về đô thị 1. Khái niệm đô thị Theo thông tư số 34/2009/TT-BXD quy định chi tiết một số nội dung của Nghị định 42/2009/NĐ-CP của chính phủ về phân loại đô thị đã định nghĩa : «Đô thị là khu vực tập trung dân cư sinh sống với mật độ cao và chủ yếu hoạt động trong lĩnh vực kinh tế phi nông nghiệp, là trung tâm chính trị, hành chính, kinh tế, văn hóa hoặc chuyên ngành, có vai trò thúc đẩy sự phát triển KT-XH của quốc gia hoặc một vùng lãnh thổ , một địa phương bao gồm nội thành, ngoại thành của thành phố; nội thị, ngoại thị của thị xã, thị trấn ». Phân loại đô thị Theo Nghị định số 42/2009/NĐ-CP của Chính phủ về việc phân loại đô thị, đô thị ở Việt Nam được chia làm 6 loại: đô thị đặc biệt, đô thị loại I, đô thị loại II, đô thị loại III, đô thị loại IV, đô thị loại V.
Đô thị loại đặc biệt: - Quy mô dân số toàn đô thị từ 5 triệu người trở lên. - Mật độ dân số khu vực nội thành từ 15.000 người/km2 trở lên. - Tỷ lệ lao động phi nông nghiệp tối thiểu đạt 90% so với tổng số lao động. Đô thị loại I: - Quy mô dân số đô thị + Đô thị trực thuộc Trung ương có quy mô dân số trên toàn đô thị từ 1 triệu người trở lên; + Đô thị trực thuộc tỉnh có quy mô dân số trên toàn đô thị từ 500 nghìn người trở lên.
- Mật độ dân số bình quân khu vực nội thành + Đô thị trực thuộc Trung ương từ 12.000 người/km2 trở lên; + Đô thị trực thuộc tỉnh từ 10.000 người/km2 trở lên. - Tỷ lệ lao động phi nông nghiệp khu vực nội thành tối thiểu đạt 85% so với tổng số lao động. Đô thị loại II: - Quy mô dân số toàn đô thị phải đạt từ 300 nghìn người trở lên. - Trong trường hợp đô thị loại II trực thuộc Trung ương thì quy mô dân số toàn đô thị phải đạt trên 800 nghìn người.
- Mật độ dân số khu vực nội thành. - Đô thị trực thuộc tỉnh từ 8.000 người/km 2 trở lên, trường hợp đô thị trực thuộc Trung ương từ 10.000 người/km2 trở lên. - Tỷ lệ lao động phi nông nghiệp khu vực nội thành tối thiểu đạt 80% so với tổng số lao động. Đô thị loại III: - Quy mô dân số toàn đô thị từ 150 nghìn người trở lên - Mật độ dân số khu vực nội thành, nội thị từ 6.000 người/km2 trở lên.
- Tỷ lệ lao động phi nông nghiệp khu vực nội thành, nội thị tối thiểu đạt 75% so với tổng số lao động. Đô thị loại IV: - Quy mô dân số toàn đô thị từ 50 nghìn người trở lên. - Mật độ dân số khu vực nội thị từ 4.000 người/km2 trở lên. - Tỷ lệ lao động phi nông nghiệp trong khu vực nội thị tối thiểu đạt 70% so với tổng số lao động.
Đô thị loại V: - Quy mô dân số toàn đô thị từ 4 nghìn người trở lên. - Mật độ dân số bình quân từ 2.000 người/km2 trở lên. - Tỷ lệ lao động phi nông nghiệp tại các khu phố xây dựng tối thiểu đạt 65% so với tổng số lao động. Một số vấn đề về quản lý hạ tầng kỹ thuật đô thị 1.
Khái niệm về hạ tầng kỹ thuật và quản lý hạ tầng kỹ thuật đô thị a. Hạ tầng kỹ thuật đô thị Cơ sở hạ tầng đô thị hay kết cấu hạ tầng đô thị là toàn bộ các công trình xây dựng phục vụ cho nhu cầu sản xuất và đời sống của cộng đồng dân cư đô thị, bao 7 gồm hai nhóm công trình (phân theo chức năng) là cơ sở hạ tầng kỹ thuật và cơ sở hạ tầng xã hội. Hạ tầng kỹ thuật đô thị là hệ thống các công trình cần thiết phục vụ cho sự phát triển chung của một đô thị, phản ánh trình độ phát triển, mức tiện nghi sinh hoạt của người dân đô thị và được xác định theo những tiêu chí cơ bản: chỉ tiêu cấp nước sinh hoạt, chỉ tiêu cấp điện sinh hoạt, mật độ đường phố, đặc điểm giao thông, chiếu sáng,… Hạ tầng kỹ thuật đô thị là tiêu chí quan trọng trong việc đánh giá mức độ phát triển của một đô thị và cũng là tiêu chí không thể thiếu để xếp hạng đô thị. Đây cũng là yếu tố quan trọng nhất để thúc đẩy sự phát triển và thành công của nhiều lĩnh vực kinh tế.
Là một đô thị, cơ sở hạ tầng có thể hoàn chỉnh, đồng bộ hoặc chưa hoàn chỉnh, đồng bộ nhưng phải có quy hoạch phát triển chung cho tương lai. Quản lý hạ tầng kỹ thuật đô thị Quản lý hạ tầng kỹ thuật đô thị là sự tổ chức, xây dựng và thực hiện cơ chế, chính sách nhằm duy trì, phát triển đồng bộ và khai thác có hiệu quả các công trình hạ tầng kĩ thuật trên địa bàn. Thực chất của vấn đề quản lý này là xây dựng và áp dụng những chính sách, biện pháp để lên kế hoạch cho công tác quản lý, nhằm mục đích duy trì, tổ chức khai thác cung cấp dịch vụ, xây dựng mới và cung cấp các công trình hiện có, đồng thời xây dựng và phát triển hệ thống hạ tầng kỹ thuật trong quá trình phát triển đô thị. Bên cạnh đó, quản lý cơ sở hạ tầng kỹ thuật cũng là việc thực hiện chức năng quản lý của Nhà Nước.
Phân loại hệ thống hạ tầng kĩ thuật đô thị Hệ thống các công trình hạ tầng kỹ thuật đô thị bao gồm: hệ thống giao thông, thông tin liên lạc, cung cấp năng lượng, chiếu sáng công cộng, cấp thoát nước, xử lý chất thải, nghĩa địa, nghĩa trang, cây xanh công viên và các công trình khác. Đây là những cơ sở vật chất, những công trình phục vụ cho cuộc sống hàng ngày của người dân đô thị, và cũng là những công trình mang tính chất dịch vụ công cộng. Hệ thống công trình giao thông Các công trình giao thông đô thị chủ yếu bao gồm: Mạng lưới đường như: đường thủy, đường bộ, đường sắt, đường hàng không. 8 Các công trình đầu mối kĩ thuật giao thông như: cầu, hầm, quảng trường, bến bãi, cảng hàng không, nhà ga, bến xe, cảng thủy.
Hệ thống cấp thoát nước Các công trình cấp nước chủ yếu gồm: Các công trình cấp nước mặt hoặc nước ngầm Các công trình đầu mối: Trạm xử lý cấp nước, trạm bơm, các công trình giếng khoan, đài phun nước. Các công trình thoát nước bao gồm: Sông, ao, hồ điều hòa, đê đập Cống, rãnh, kênh mương, máng thoát nước Trạm bơm cố định hoặc lưu động Công trình xử lý nước thải. Hệ thống công trình cấp điện và chiếu sáng Các công trình cấp điện và chiếu sáng chủ yếu gồm: Nhà máy phát điện: thủy điện, nhiệt điện, máy phát điện chạy dầu Trạm biến áp, tủ phân phối, tủ điều khiển, Hệ thống đường dây, cáp dẫn điện, Cột và đèn chiếu sáng. Hệ thống thông tin liên lạc Hệ thống thông tin liên lạc bao gồm: công trình đầu mối và mạng lưới phục vụ nhằm đáp ứng các yêu cầu giao tiếp qua nhiều phương tiện giữa các cá thể trong cộng đồng.
Hệ thống thông tin liên lạc nhằm phục vụ các dịch vụ như: dịch vụ thư tín, bưu kiện, bưu điện chuyển phát. Liên quan nhiều đến sự quản lý đó là: điện thoại, điện tín hữu tuyến, điện thoại không dây, các dịch vụ Internet… Các công trình trong hệ thống thông tin liên lạc: công trình đầu mối, cột và tháp truyền thu, phát sóng, thiết bị thu phát sóng, mạng lưới đường dây,… 1. Hệ thống cây xanh, mặt nước Cây xanh, mặt nước là diện tích không thể thiếu với mục đích nâng cao sinh hoạt văn hóa, đời sống tinh thần cho cộng đồng dân cư, mà còn là yếu tố kỹ thuật, yếu tố môi trường không thể thiếu được đối với các đô thị Việt Nam ở miền nhiệt 9 đới. Cây xanh, mặt nước là hạ tầng xã hội nhưng lại chiếm vai trò quan trọng trong hạ tầng kĩ thuật.
Các hệ thống công trình hạ tầng khác a. Hệ thống thu gom và xử lý rác thải Chất thải bao gồm 3 loại là: chất thải rắn, chất thải khí và chất thải lỏng. Đối với chất thải rắn: loại này được thu gom từ các ngôi nhà, các công trình, vận chuyển đến nơi tập kết và xử lý. Mục đích của việc xử lý là không làm ô nhiễm môi trường đất, môi trường nước và môi trường không khí.
Đối với chất thải lỏng: được xem xét trong hệ thống thoát nước. Đối với chất thải khí: được xem xét trong việc xử lý các nguồn gây ô nhiễm không khí. Hệ thống công trình ngầm Hệ thống công trình ngầm đô thị rất phát triển, nó được đánh giá là thành phần kĩ thuật quan trọng trong hệ thống các công trình hạ tầng kĩ thuật đô thị. Hệ thống các công trình ngầm được phân thành: Công trình công cộng ngầm và phần ngầm của các công trình cây dựng như: hầm đỗ xe, tầng hầm của các tòa nhà, bể chứa nước lớn bố trí ngầm, hầm phục vũ lưu trữ, phục vụ khi có chiến tranh,… Các công trình giao thông ngầm: hầm đường bộ, tàu điện ngầm,… Công trình hạ tầng kĩ thuật ngầm như các công trình đường ống cấp nước, cấp năng lượng, thoát nước, công trình đường dây cấp điện, thông tin liên lạc; hào, tynel kĩ thuật, và các công trình đầu mối hạ tầng kĩ thuật được xây dựng ngầm.
Nghĩa trang Nghĩa trang là nơi an táng người chết tập trung theo các hình thức táng khác nhau, thuộc các đối tượng khác nhau như nghĩa trang liệt sĩ, nghĩa trang nhân dân, nghĩa trang làng, nghĩa trang công giáo… các nghĩa trang này được xây dựng và quản lý theo quy hoạch. Hệ thống biển báo, tín hiệu Hệ thống biển báo, tín hiệu là nơi truyền đạt các lệnh, là nơi cung cấp thông tin những điều cần phải làm, phải biết đối với những hoạt động nhất định. Hệ thống 10 biển báo có mối liên hệ với hầu hết các hạ tầng kĩ thuật như: giao thông, năng lượng, cấp thoát nước… 1.