Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu

Quá trình đô thị hóa nhanh chóng tại Thủ đô Hà Nội mang lại sự phát triển về kinh tế, nâng cao mức sống và dân trí, song cũng đặt ra áp lực nặng nề lên hệ thống cơ sở hạ tầng kỹ thuật và xã hội. Tình trạng xây dựng thiếu đồng bộ khiến hệ thống đường bộ, cầu cống, nhà ở xuống cấp. Phần lớn các tuyến phố lớn có vỉa hè không đạt tiêu chuẩn kỹ thuật hoặc bị sử dụng sai mục đích như kinh doanh dịch vụ ăn uống, trông giữ phương tiện trái phép, gây ảnh hưởng tiêu cực đến cảnh quan, trật tự an toàn giao thông và vệ sinh môi trường.

Trong phần tổng quan tài liệu, tác giả điểm qua các công trình nghiên cứu trước đó:

  • Đề tài của tác giả Nguyễn Bích Ngân: “Thực trạng và một số giải pháp nhằm tăng cường công tác quản lý, kinh doanh vỉa hè trên địa bàn Quận Hai Bà Trưng” – tập trung vào vai trò của các nhà quản lý trong việc tăng cường công tác quản trị hoạt động kinh doanh vỉa hè.
  • Đề tài của tác giả Lưu Thế Phong: “Chống lấn chiếm lòng đường, vỉa hè góp phần tăng cường an toàn giao thông đô thị” – nhấn mạnh nguyên nhân do sự gia tăng phương tiện giao thông cá nhân và sự tụt hậu của cơ sở hạ tầng.
  • Đề tài của tác giả Bùi Hoàng Lưu: “Vấn đề lấn chiếm vỉa hè, lòng đường trong quá trình đô thị hóa” – tập trung vào sự phát triển của các chợ tự phát tại các khu đô thị mới và đề xuất loại bỏ mô hình này.

Tác giả Nguyễn Thị Trang xác định khoảng trống nghiên cứu: các đề tài trước đây chủ yếu tiếp cận đơn lẻ ở một khía cạnh nguyên nhân, chưa làm rõ một cách toàn diện hệ thống các hành vi vi phạm và mức độ ảnh hưởng đa chiều của chúng. Do đó, chuyên đề “Một số giải pháp nhằm hạn chế tình trạng vi phạm vỉa hè, lòng đường trên địa bàn quận Hai Bà Trưng, Hà Nội” được thực hiện nhằm giải quyết các nhiệm vụ cụ thể.

Mục tiêu nghiên cứu bao gồm:

  1. Hệ thống hóa cơ sở lý thuyết về giao thông đô thị, vỉa hè và lòng đường đô thị.
  2. Đánh giá thực trạng vi phạm vỉa hè, lòng đường trên địa bàn quận Hai Bà Trưng giai đoạn 2011 – 2014.
  3. Đề xuất hệ thống giải pháp và kiến nghị nhằm hạn chế tình trạng lấn chiếm vỉa hè, lòng đường.

Câu hỏi nghiên cứu của đề tài gồm 4 nội dung:

  1. Tình trạng vi phạm vỉa hè, lòng đường trên địa bàn quận Hai Bà Trưng diễn ra như thế nào?
  2. Các hành vi vi phạm vỉa hè, lòng đường cụ thể trên địa bàn quận gồm những gì?
  3. Nguyên nhân chủ quan và khách quan nào dẫn đến tình trạng vi phạm?
  4. Những giải pháp nào có tính khả thi nhằm hạn chế tình trạng vi phạm vỉa hè, lòng đường?

Phạm vi nghiên cứu:

  • Phạm vi nội dung: Thực trạng vi phạm vỉa hè, lòng đường, các bất cập trong công tác quản lý đô thị và các giải pháp khắc phục.
  • Phạm vi không gian: Địa bàn quận Hai Bà Trưng, thành phố Hà Nội.
  • Phạm vi thời gian: Thu thập và phân tích dữ liệu trong giai đoạn 2011 – 2014.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp

Chuyên đề sử dụng hệ thống khái niệm, văn bản quy phạm pháp luật và phương pháp nghiên cứu chuyên ngành Quản lý Đô thị:

Khung khái niệm và văn bản quản lý nhà nước:

  • Khái niệm đô thị theo Thông tư liên bộ số 31/TTLB ngày 20/11/1990 của Liên Bộ Xây dựng và Ban Tổ chức Cán bộ của Chính phủ.
  • Khái niệm giao thông đô thị, giao thông tĩnh, chức năng của vỉa hè (dành cho người đi bộ, hạ tầng ngầm, cây xanh, chiếu sáng) và lòng đường (dành cho phương tiện giao thông).
  • Quyết định số 46/2009/QĐ-UBND ngày 15/01/2009 của UBND TP. Hà Nội về quản lý hoạt động bán hàng rong.
  • Nghị định số 59/2006/NĐ-CP ngày 12/06/2006 của Chính phủ quy định chi tiết Luật Thương mại về hàng hóa, dịch vụ cấm kinh doanh, hạn chế kinh doanh và kinh doanh có điều kiện.
  • Quyết định số 20/2008/QĐ-UBND ngày 16/04/2008 và Quyết định số 15/2013/QĐ-UBND ngày 09/05/2013 của UBND TP. Hà Nội về quản lý, khai thác, sử dụng hệ thống đường đô thị.
  • Quyết định số 1/2000/QĐ-UB ngày 14/02/2000 và Quyết định số 165/2003/QĐ-UB ngày 02/12/2003 của UBND TP. Hà Nội về quy hoạch mạng lưới bãi đỗ xe công cộng đến năm 2020.
  • Quyết định số 11/2011/QĐ-UBND ngày 02/03/2011 và Quyết định số 55/2009/QĐ-UBND ngày 17/03/2009 của UBND TP. Hà Nội về bảo đảm trật tự, an toàn và vệ sinh môi trường trong thi công công trình.
  • Điều 35, Điều 36 Luật Giao thông đường bộ và Điều 25, Điều 28 Nghị định số 11/2010/NĐ-CP.

Phương pháp nghiên cứu thực hiện:

  • Phương pháp thống kê: Áp dụng phương pháp điều tra chọn mẫu trên các tuyến phố tiêu biểu của quận Hai Bà Trưng nhằm thu thập dữ liệu về các vụ việc lấn chiếm.
  • Phương pháp phân tích - tổng hợp: Xử lý số liệu thứ cấp, liên kết các hiện tượng thực tế với các khía cạnh kinh tế, văn hóa, trật tự xã hội và môi trường để đưa ra nhận xét khoa học.

Nguồn dữ liệu:

  • Báo cáo tổng kết công tác quản lý trật tự đô thị, khai thác và sử dụng hè phố qua các năm (2011 – 2014) của Phòng Quản lý đô thị quận Hai Bà Trưng.
  • Báo cáo An toàn giao thông giai đoạn 2011 – 2014 của Sở Giao thông Vận tải TP. Hà Nội.

Nội dung chính theo từng chương

Chương I – Khái quát chung về các vi phạm vỉa hè, lòng đường đô thị

Chương I trình bày cơ sở lý luận về vỉa hè, lòng đường và phân tích tổng quan các dạng vi phạm:

  • Tiêu chuẩn thiết kế kỹ thuật vỉa hè: Mặt cắt ngang tối thiểu dành cho người đi bộ phải từ 1 – 1,25m. Vỉa hè rộng từ 3m trở lên bắt buộc phải bố trí bồn gốc cây xanh và diện tích thu nước mưa; kết cấu gạch lát, bó vỉa phải đồng bộ, có ram dốc cho xe lăn và gạch dẫn hướng cho người khiếm thị.
  • Các hành vi vi phạm: Tự ý đào bới, xây dựng; họp chợ, kinh doanh buôn bán trái phép; lắp đặt biển quảng cáo, đường dây vi phạm chỉ giới; đổ rác thải, xả nước thải; lập điểm trông giữ xe không phép; xây dựng công trình lấn chiếm hành lang an toàn giao thông.
  • Phân loại vi phạm:
    • Theo đối tượng: Vi phạm do cá nhân, hộ gia đình (lấn chiếm sinh hoạt, bày bán lưu động, xây bậc thềm) và vi phạm do tổ chức, chính quyền (cắt xén vỉa hè mở rộng mặt đường cơ giới, bố trí hạ tầng kỹ thuật tùy tiện, đào đường thi công chậm tiến độ).
    • Theo mục đích: Kinh doanh lưu động (bán hàng rong theo quy định tại Quyết định 46/2009/QĐ-UBND) và kinh doanh cố định (mở rộng quán ăn, sạp báo, bãi đỗ xe không phép).
  • Tác động tiêu cực: Làm suy giảm diện tích đi bộ, đẩy người đi bộ xuống lòng đường gây nguy cơ tai nạn và ùn tắc giao thông; gây mất mỹ quan và trật tự công cộng khi diễn ra cảnh truy đuổi, chống đối lực lượng chức năng; xả rác, nước thải gây ô nhiễm môi trường và hư hỏng kết cấu hạ tầng.
  • Bài học kinh nghiệm:
    • TP. Hồ Chí Minh: Tình trạng chiếm dụng vỉa hè cho hoạt động mưu sinh phi chính thức tồn tại kéo dài; các biện pháp hành chính như thu gom, phạt tiền, kẻ vạch chưa mang lại hiệu quả bền vững nếu không giải quyết bài toán việc làm và thói quen tiêu dùng.
    • TP. Đà Nẵng: Từ tháng 3/2013 thực hiện phân cấp quản lý vỉa hè cho hộ dân mặt tiền trên 23 tuyến phố chính; cho phép hộ dân tự sửa chữa hư hỏng nhỏ dưới $1\text{ m}^2$, sử dụng tạm một phần vỉa hè có thu phí nếu bảo đảm chừa lại 1,5 – 2m cho người đi bộ.
    • Thái Lan (Bangkok): Áp dụng quan điểm phát triển vị nhân sinh, coi kinh doanh vỉa hè là mạng lưới phân phối dịch vụ thiết yếu và nét văn hóa du lịch; thực hiện quản lý qua cơ chế đăng ký, thu thuế, kiểm soát vệ sinh nghiêm ngặt và cấm triệt để tại các khu vực hành chính quan trọng.

Chương II – Đánh giá thực trạng vi phạm vỉa hè, lòng đường trên địa bàn Quận Hai Bà Trưng

Chương II phân tích chi tiết hiện trạng hạ tầng giao thông và tình hình vi phạm trên địa bàn quận Hai Bà Trưng (diện tích tự nhiên $9{,}627\text{ km}^2$, hơn 3.300 doanh nghiệp với 70% thuộc lĩnh vực thương mại - dịch vụ):

  • Hạ tầng giao thông động và tĩnh:
    • Năm 2014, toàn quận có 213.698 xe máy (chiếm 82% tổng lượng phương tiện), ô tô chiếm 13%, còn lại là xe buýt và xe đạp. Chi phí đi lại và tính cơ động khiến người dân phụ thuộc vào xe cá nhân.
    • Toàn quận có $127.060\text{ m}^2$ đất bến bãi đỗ xe nhưng hệ thống bãi đỗ công cộng hợp pháp chỉ đáp ứng được 8 – 10% nhu cầu, 90 – 92% phương tiện phải đỗ tại cơ quan, trường học hoặc bãi xe không phép. Diện tích mặt đường khu trung tâm là $854.154\text{ m}^2$ trên tổng chiều dài 63,16 km; tỷ lệ diện tích đường quy đổi bình quân chỉ đạt 9 – 11 $\text{m}^2/\text{phương tiện}$ (thấp hơn Đà Nẵng: 17 $\text{m}^2$, TP.HCM: 13 $\text{m}^2$, Singapore: 25 $\text{m}^2$). Quỹ đất dành cho giao thông tĩnh ước đạt 4,6 ha (0,53% diện tích tự nhiên, thấp hơn mức quy chuẩn 3,6%).
  • Thực trạng mạng lưới đường: Khu vực phía Bắc mật độ đường cao nhưng lòng đường nhỏ hẹp, phố ngắn; khu vực phía Nam tỷ lệ diện tích đất giao thông chỉ đạt khoảng 5%.
  • Thực trạng lấn chiếm kinh doanh và họp chợ: Toàn quận có 15 chợ cóc, chợ tạm (13 chợ lấn chiếm lòng đường, 2 chợ lấn vỉa hè, 8 chợ lấn chiếm cả lòng đường lẫn vỉa hè, tiêu biểu như chợ tạm Trường Chinh, Nguyễn Công Trứ).
Năm Số trường hợp vi phạm (vụ) Diện tích vi phạm ($\text{m}^2$)
2011 2.801 1.340
2012 2.252 1.020
2013 2.855 1.276
2014 2.716 1.154

Nguồn: Báo cáo tổng kết hàng năm của Phòng Quản lý đô thị Quận Hai Bà Trưng

Số liệu vi phạm buôn bán hàng rong trên 5 tuyến phố trọng điểm năm 2014:

Tuyến phố Số lượng hàng rong (trường hợp) Mặt hàng chủ yếu Diện tích bị lấn chiếm ($\text{m}^2$)
Phố Huế 418 Hàng ăn uống, quần áo, giày dép 220
Nguyễn Công Trứ 219 Hoa quả, quần áo, giày dép 180
Kim Ngưu 114 Cây cảnh, hoa quả 95
Thanh Nhàn 190 Hàng ăn uống 120
Giải Phóng 230 Cây cảnh, hoa quả, thú nuôi 370
Tổng cộng 1.171 — 985

Nguồn: Báo cáo công tác khai thác, sử dụng hè phố trên địa bàn Quận Hai Bà Trưng năm 2014

  • Vi phạm do thi công cơ sở hạ tầng kỹ thuật: Tình trạng đào bới kéo dài, thiếu biển cảnh báo gây tai nạn (vụ xe taxi lọt hố sâu 2m tại phố Nguyễn Công Trứ tháng 12/2014; đường Lê Đại Hành bị đào xới 2 lần với chiều dài hơn 800m; ngã tư Phố Huế - Hàn Thuyên thi công 2 tháng làm vỡ ống cấp nước sạch sinh hoạt vào tháng 3/2015).
  • Công tác phát triển vỉa hè và xử lý vi phạm:
Chỉ tiêu 2011 2012 2013 2014
Diện tích lòng đường ($\text{km}^2$) 610 720 850 920
Diện tích vỉa hè ($\text{km}^2$) 40 52 68 88
Tỷ lệ diện tích vỉa hè / lòng đường (%) 6,6 — — 9,6
Số vụ vi phạm bị xử lý (vụ) 2.801 2.252 2.855 2.716
Tổng tiền phạt nộp NSNN (tỷ đồng) 17,09 — — 20,09
Số vụ vi phạm do hàng rong (vụ) 1.128 1.150 1.340 1.421
Tỷ lệ hàng rong / tổng số vi phạm (%) 40 50 47 52

Nguồn: Báo cáo Sở GTVT Hà Nội và Phòng Quản lý đô thị Quận Hai Bà Trưng (2011 – 2014)

  • Nguyên nhân tồn tại:
    • Chủ quan: Hệ thống văn bản quy phạm còn chồng chéo; chế tài xử phạt thiếu cụ thể; cán bộ quản lý cấp cơ sở kiêm nhiệm, thiếu chuyên môn; ý thức người dân còn tư tưởng sở hữu không gian vỉa hè trước cửa nhà.
    • Khách quan: Áp lực tăng dân số cơ học và di cư lao động; nguồn lực ngân sách cho hạ tầng giao thông tĩnh còn hạn chế.

Chương III – Giải pháp hạn chế vi phạm vỉa hè, lòng đường trên địa bàn Quận Hai Bà Trưng

Chương III căn cứ vào định hướng quản lý của thành phố (Quyết định 15/2013/QĐ-UBND: chỉ cho phép sử dụng tạm vỉa hè tại các tuyến phố đặc thù theo danh mục; phải để lại lối đi bộ tối thiểu 1,5m; cấm kinh doanh trước cơ quan, bệnh viện, trường học; thi công hạ tầng ngầm chỉ được tập kết vật liệu từ 22h00 đến 6h00) và dự báo năm 2015 Hà Nội tiếp nhận khoảng 42.890 người nhập cư (>40% là lao động phổ thông) để đề xuất 5 nhóm giải pháp:

  1. Hoàn thiện cơ chế chính sách và phân định thẩm quyền:
    • Thành lập cơ quan/bộ phận chuyên trách quản lý vỉa hè, lòng đường trực thuộc UBND quận.
    • Phân công rõ trách nhiệm: Phòng Quản lý đô thị chịu trách nhiệm tham mưu, thẩm định cấp phép sử dụng tạm thời và phối hợp triển khai đoàn kiểm tra liên ngành theo Quyết định số 966/QĐ-UB ngày 02/03/2013; Phòng Kế hoạch và Đầu tư xây dựng quy hoạch hạ tầng dài hạn, phối hợp thi công ngầm đồng bộ (điện lực, viễn thông, cấp thoát nước); Phòng Tài nguyên và Môi trường bố trí hệ thống thùng rác phân loại trên các tuyến phố có hoạt động thương mại.
  2. Nâng cao hiệu quả thanh tra, kiểm tra và siết chặt chế tài:
    • Áp dụng ký cam kết đối với các hộ kinh doanh; trường hợp tái phạm đề xuất xử phạt tăng gấp 10 lần mức phạt ban đầu, xử lý hình sự nếu cố tình vi phạm nhiều lần liên tiếp.
    • Đối với đơn vị thi công hạ tầng đào đường, quy định rõ thời hạn hoàn trả mặt bằng; nếu chậm tiến độ áp dụng mức phạt tiền lũy kế theo từng ngày kéo dài và quy trách nhiệm trực tiếp cho Ban Quản lý dự án, Chủ đầu tư.
  3. Quy hoạch và phát triển mạng lưới bãi đỗ xe đô thị:
    • Rà soát toàn bộ quỹ đất trống, đẩy nhanh tiến độ thu hút đầu tư các bãi đỗ xe ngầm (Công viên Thống Nhất, Công viên Tuổi Trẻ) và bãi đỗ xe cao tầng (khu vực Nhà máy nước Lương Yên, góc Trần Nhân Tông – Nguyễn Đình Chiểu).
    • Ngừng chuyển đổi công năng các khu đất quy hoạch bến bãi đỗ xe sang mục đích thương mại.
  4. Xây dựng mô hình liên kết các nhóm bán hàng rong:
    • Quy hoạch các khu vực kinh doanh tập trung có kiểm soát cho người bán hàng rong cùng ngành hàng; UBND quận xem xét cho thuê mặt bằng với chính sách ưu đãi về giá và thời hạn.
    • Hướng dẫn các hộ bán rong chuyển đổi thành mô hình tổ hợp/cổ đông đồng sở hữu điểm kinh doanh hợp pháp nhằm bảo đảm an sinh xã hội.
  5. Đẩy mạnh công tác tuyên truyền và giáo dục cộng đồng:
    • Tổ chức tuyên truyền sâu rộng đến từng tổ dân phố; đưa nội dung bảo vệ hành lang an toàn giao thông vào chương trình sinh hoạt ngoại khóa của học sinh cấp I, cấp II.
    • Tổ chức các hội thi tìm hiểu pháp luật trật tự đô thị, vẽ tranh biếm họa, diễn kịch từ cấp phường đến cấp quận.

Kết quả và đóng góp

  • Tổng hợp bức tranh định lượng chi tiết về thực trạng lấn chiếm hè phố tại quận Hai Bà Trưng qua chuỗi số liệu 2011 – 2014, ghi nhận mức xử phạt vi phạm hành chính đạt 20,09 tỷ đồng vào năm 2014.
  • Làm rõ cơ cấu phương tiện cá nhân (xe máy chiếm 82%) và sự thiếu hụt đất giao thông tĩnh (quỹ đất bãi đỗ xe chỉ đạt 0,53% diện tích tự nhiên) là nguyên nhân cốt lõi dẫn đến việc vỉa hè bị biến thành bãi giữ xe.
  • Chỉ ra sự gia tăng của nhóm vi phạm do bán hàng rong (tăng từ 40% năm 2011 lên 52% năm 2014 trong tổng số vụ vi phạm) cùng thực trạng hoạt động của 15 chợ cóc, chợ tạm trên địa bàn quận.
  • Đề xuất hệ thống giải pháp mang tính quản lý đô thị: chuyển từ quản lý hành chính đơn thuần sang tích hợp quy hoạch bãi đỗ xe, phân định thẩm quyền phòng ban chức năng, áp dụng phạt lũy kế đối với công trình chậm hoàn trả mặt bằng và mô hình kinh doanh hợp tác xã cho người bán hàng rong.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

  • Hạn chế: Dữ liệu thực nghiệm của chuyên đề tập trung trong phạm vi quận Hai Bà Trưng từ năm 2011 đến 2014; phương pháp thu thập số liệu chọn mẫu ở một số tuyến phố trọng điểm chưa bao quát toàn bộ hệ thống ngõ, ngách trên địa bàn.
  • Hướng mở rộng: Nghiên cứu sinh kế của lao động phi chính thức trên vỉa hè gắn với quy hoạch kinh tế đêm; đánh giá tác động của công nghệ quản lý giao thông tĩnh thông minh (smart parking) đối với trật tự hè phố đô thị.

Giá trị tham khảo

  • Tài liệu tham khảo cho sinh viên chuyên ngành Kinh tế đô thị, Quản lý đô thị, Quy hoạch không gian, Quản lý nhà nước về hạ tầng kỹ thuật.
  • Cung cấp nguồn số liệu thực tiễn và khung phân loại hành vi vi phạm cho cán bộ quản lý trật tự đô thị cấp quận, huyện, phường và các cơ quan tham mưu chính sách trật tự an toàn giao thông.

Câu hỏi thường gặp

1. Tỷ lệ phương tiện giao thông cá nhân trên địa bàn quận Hai Bà Trưng năm 2014 là bao nhiêu? Theo Báo cáo An toàn giao thông năm 2014 của Sở GTVT Hà Nội được trích dẫn trong đề tài, toàn quận có 213.698 xe máy (chiếm 82% tổng lượng phương tiện), ô tô chiếm 13%, phần còn lại là phương tiện giao thông công cộng và xe đạp.

2. Quỹ đất dành cho giao thông tĩnh tại quận Hai Bà Trưng đạt mức nào so với quy chuẩn xây dựng? Tổng diện tích bãi đỗ xe trên địa bàn quận ước tính đạt khoảng 4,6 ha, tương đương 0,53% tổng diện tích đất tự nhiên, thấp hơn nhiều so với quy chuẩn xây dựng Việt Nam (đòi hỏi tỷ lệ đất giao thông tĩnh trong đô thị phải đạt 3,6%). Hệ thống bãi đỗ xe được cấp phép chỉ đáp ứng 8 – 10% nhu cầu thực tế.

3. Trên địa bàn quận Hai Bà Trưng năm 2014 có bao nhiêu chợ cóc, chợ tạm vi phạm lòng đường, vỉa hè? Toàn quận có 15 chợ cóc, chợ tạm; trong đó có 13 chợ lấn chiếm lòng đường, 2 chợ lấn chiếm vỉa hè và 8 chợ lấn chiếm đồng thời cả lòng đường lẫn vỉa hè.

4. Tuyến phố nào có số lượng người bán hàng rong và diện tích vi phạm vỉa hè lớn nhất trong khảo sát năm 2014? Khảo sát 5 tuyến phố chính cho thấy Phố Huế có số lượng người bán hàng rong lớn nhất với 418 trường hợp (chiếm $220\text{ m}^2$), trong khi tuyến đường Giải Phóng có diện tích vỉa hè, lòng đường bị lấn chiếm lớn nhất với $370\text{ m}^2$ (230 trường hợp).

5. Tác giả đề xuất chế tài xử phạt cụ thể như thế nào đối với các đơn vị đào đường thi công chậm tiến độ? Tác giả đề xuất UBND quận ấn định thời hạn thi công bắt buộc; nếu công trình kéo dài quá hạn, đơn vị thi công phải chịu mức phạt tiền bổ sung tính lũy kế theo từng ngày chậm trễ, đồng thời quy trách nhiệm trực tiếp cho Ban Quản lý dự án và Chủ đầu tư.

Kết luận

Chuyên đề thực tập của sinh viên Nguyễn Thị Trang đã phản ánh thực trạng vi phạm và những bất cập trong quản lý vỉa hè, lòng đường tại quận Hai Bà Trưng giai đoạn 2011 – 2014. Qua việc phân tích dữ liệu thống kê từ Sở GTVT và UBND quận, nghiên cứu làm rõ các nguyên nhân xuất phát từ sự thiếu hụt hạ tầng giao thông tĩnh, áp lực sinh kế phi chính thức và sự phối hợp thiếu đồng bộ giữa các cơ quan chức năng. Hệ thống 5 nhóm giải pháp được đề xuất hướng tới việc kết hợp đồng bộ giữa quy hoạch hạ tầng, chế tài xử phạt lũy kế, tổ chức liên kết ngành hàng và phân định thẩm quyền quản lý đô thị.