Chương 1. Cơ sở lý luận và pháp luật về tổ chức và hoạt động của Thanh tra Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Chương 2. Thực trạng tổ chức và hoạt động của Thanh tra Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu Chương 3. Hoàn thiện về tổ chức và đổi mới hoạt động của Thanh tra Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu.
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ PHÁP LUẬT TỔ CHỨC VÀ HOẠT ĐỘNG CỦA THANH TRA SỞ NÔNG NGHIỆP VÀ PHÁT TRIỂN NÔNG THÔN 1. Khái quát về tổ chức của Thanh tra Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn 1. Khái niệm Ngày 23/11/1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã ký Sắc lệnh số 64-SL thành lập Ban Thanh tra Đặc biệt, đây cũng chính là văn kiện pháp lý, đặt nền móng đầu tiên cho việc xây dựng hệ thống tổ chức thanh tra của Việt Nam ngày nay. Trải qua nhiều giai đoạn phát triển, quy định về Thanh tra sở xuất hiện lần đầu tiên tại Pháp lệnh số 33-LCT/HĐNN8 ngày 23/3/2990 của Hội đồng Nhà nước (còn gọi là Pháp lệnh thanh tra năm 1990).
Theo đó, Thanh tra sở “là tổ chức thanh tra của cơ quan chuyên môn thuộc UBND tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương và cấp tương đương thực hiện quyền thanh tra trong phạm vi quản lý Nhà nước của sở và quản lý công tác thanh tra đối với các cơ quan, đơn vị do sở quản lý trực tiếp [10]”. Mặc dù hiện nay khái niệm về Thanh tra Sở đã có sự thay đổi, theo đó Thanh tra Sở được định nghĩa là “cơ quan của sở”, tuy nhiên về mặt bản chất Thanh tra Sở vẫn được xem là một tổ chức thanh tra. Đồng thời, thuật ngữ “tổ chức” theo tiếng Hy Lạp cổ là “organon” là “hình thức tập hợp, liên kết các thành viên trong xã hội nhằm đáp ứng yêu cầu, nguyện vọng, lợi ích của các thành viên, cùng nhau hành động vì mục tiêu chung [9]”. Trong lĩnh vực quản lý nhà nước, một số nhà nghiên cứu lại cho rằng “tổ chức là một hệ thống những hoạt động hay nỗ lực của hai hay nhiều người được kết hợp với nhau một cách có ý thức [35]”.
Như vậy tổ chức thanh tra có thể hiểu là hệ thống liên kết các cá nhân làm việc trong cơ quan chuyên môn của UBND cấp tỉnh, hoạt động và 9 phối hợp với nhau nhằm thực hiện chức năng giám sát, kiểm tra để đảm bảo việc quản lý nhà nước có hiệu quả. Trong lĩnh vực hành chính thì Sở là “cơ quan chuyên môn thuộc UBND được tổ chức ở cấp tỉnh, là cơ quan tham mưu, giúp UBND thực hiện chức năng Quản lý nhà nước về ngành, lĩnh vực ở địa phương và thực hiện các nhiệm vụ, quyền hạn theo sự phân cấp, ủy quyền của cơ quan nhà nước cấp trên [8]”. Mặt khác, trên phương diện quản lý nhà nước về nông nghiệp thì Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn là “cơ quan chuyên môn thuộc UBND cấp tỉnh, thực hiện chức năng tham mưu, giúp UBND cấp tỉnh quản lý nhà nước về: nông nghiệp; lâm nghiệp; diêm nghiệp; thủy sản; thủy lợi; phòng, chống thiên tai; phát triển nông thôn; chất lượng, an toàn thực phẩm đối với nông sản, lâm sản, thủy sản và muối; các dịch vụ công thuộc ngành nông nghiệp và phát triển nông thôn theo quy định của pháp luật [2]”. Từ các vấn đề lý luận trên, có thể định nghĩa: “Tổ chức của Thanh tra Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn là cơ quan thanh tra thuộc sở, là tập hợp của các cá nhân là Chánh Thanh tra, Phó Chánh thanh tra, thanh tra viên và công chức khác thuộc Thanh tra Sở để thực hiện nhiệm vụ theo quy định pháp luật và do Giám đốc Sở giao nhằm đảm bảo hiệu quả quản lý nhà nước trong lĩnh vực nông nghiệp và phát triển nông thôn”.
Nội dung tổ chức 1. Địa vị pháp lý Về mặt địa vị pháp lý, Thanh tra Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn “là cơ quan của sở, thực hiện nhiệm vụ thanh tra trong phạm vi mà sở được giao tham mưu, giúp UBND cấp tỉnh thực hiện quản lý nhà nước; thực hiện nhiệm vụ tiếp công dân, giải quyết khiếu nại, tố cáo và phòng, chống tham nhũng, tiêu cực theo quy định của pháp luật [16]”, “có con dấu và tài khoản 10 riêng [7]” và là một trong 15 cơ quan thanh tra chuyên ngành có phạm vi quản lý rộng và yêu cầu quản lý chuyên ngành phức tạp được thành lập theo quy định của Chính phủ. Trong lĩnh vực thanh tra hành chính, Thanh tra Sở có thẩm quyền tiến hành thanh tra đối với các cơ quan, tổ chức, đơn vị trực thuộc Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn; trong lĩnh vực thanh tra chuyên ngành, Thanh tra Sở có thẩm quyền thanh tra về nông nghiệp; lâm nghiệp; diêm nghiệp; thủy sản; thủy lợi; phòng, chống thiên tai; phát triển nông thôn; chất lượng, an toàn thực phẩm đối với nông sản, lâm sản, thủy sản và muối. Ngoài ra Thanh tra Sở còn phải thực hiện nhiệm vụ khác về giải quyết khiếu nại, tố cáo và phòng, chống tham nhũng theo quy định của pháp luật hoặc do Giám đốc Sở giao.
Cơ cấu tổ chức Sơ đồ 1. Tổ chức của Thanh tra Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Thanh tra Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Chánh Thanh tra Phó Chánh thanh tra Thanh tra viên Công chức khác Nguồn: Luật Thanh tra năm 2022 Thanh tra Sở là một bộ phận cấu thành của Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn. Theo đó Thanh tra Sở có “Chánh Thanh tra, Phó Chánh Thanh tra, Thanh tra viên và các công chức khác. Chánh Thanh tra Sở do Giám đốc sở bổ nhiệm, miễn nhiệm, cách chức, điều động, luân chuyển hoặc biệt phái, sau khi tham khảo ý kiến của Chánh Thanh tra cấp tỉnh [16]”.
Nhân sự Theo quy định, Thanh tra Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn của “Thành phố Hà Nội và Thành phố Hồ Chí Minh cần có ít nhất 07 biên chế; riêng đối với các tỉnh loại I cần ít nhất 06 biên chế, và các tỉnh loại II và III cần ít nhất 05 biên chế [5]”. Sự khác biệt về số lượng biên chế công chức trong Thanh tra Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn giữa các địa phương phản ánh những đặc thù về quy mô, tính chất và mức độ hoạt động của ngành nông nghiệp và phát triển nông thôn tại từng khu vực. Các tỉnh thành phố lớn như Hà Nội và Thành phố Hồ Chí Minh thường có yêu cầu quản lý nhà nước phức tạp hơn so với các tỉnh khác. Vì vậy, nhu cầu về công tác thanh tra, kiểm tra, giám sát tại đây cũng cao hơn, yêu cầu về số lượng và chất lượng đội ngũ công chức Thanh tra Sở cũng tương ứng lớn hơn.
Các tỉnh loại I, với quy mô nền nông nghiệp và phát triển nông thôn tương đối lớn, cũng cần lực lượng Thanh tra Sở đông hơn so với các tỉnh loại II và III. Điều này nhằm đáp ứng yêu cầu về công tác thanh tra, kiểm tra, giám sát trong những lĩnh vực như nông nghiệp; lâm nghiệp; diêm nghiệp; thủy sản; thủy lợi; phòng, chống thiên tai; phát triển nông thôn,…. Mối quan hệ Thanh tra Sở đóng vai trò là một cơ quan chuyên môn và chịu sự chỉ đạo, điều hành của Giám đốc Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn. Trong mối quan hệ với các cơ quan thanh tra cấp trên, Thanh tra Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn đóng vai trò là cơ quan cấp dưới, chịu sự hướng dẫn về tổ chức, nghiệp vụ đối với những công tác hoạt động thanh tra hành chính nhà nước, giải quyết khiếu nại, tố cáo và phòng, chống tham nhũng của Thanh tra tỉnh; chịu sự hướng dẫn về kiến thức chuyên môn nghiệp vụ chuyên ngành của Thanh tra Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn.
Trong những mối quan hệ với các 12 đơn vị trực thuộc sở và các cơ quan, các tổ chức, những cá nhân chịu sự quản lý về từng ngành, lĩnh vực thì Thanh tra Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn là cơ quan thực hiện các nhiệm vụ, quyền hạn theo quy định, thực hiện nhiệm vụ khác do Giám đốc Sở giao nhằm bảo đảm công tác quản lý hành chính nhà nước đối với tất cả những lĩnh vực thuộc phạm vi mà quản lý của Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn. Khái quát về hoạt động của Thanh tra Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn 1. Khái niệm Theo từ điển Oxford thì hoạt động là “activity” chỉ mối quan hệ qua lại giữa con người và thế giới (khách thể) để tạo ra sản phẩm cả về phía thế giới và cả về phía con người (chủ thể). Một số nhà nghiên cứu lại cho rằng “hoạt động là sự kiện mà một chủ thể bằng cách tham gia, chiếm lĩnh để quản trị một sự vật, sự việc cụ thể [36]”.
Bên cạnh đó, thuật ngữ thanh tra (tiếng Anh là Inspect) xuất phát từ nguồn gốc La tinh (Inspectare) có nghĩa là “nhìn vào bên trong”, chỉ một sự kiểm tra, xem xét từ bên ngoài đối với hoạt động của một số đối tượng nhất định. Theo Từ điển tiếng Việt “thanh tra là kiểm soát, xem xét tại chỗ việc làm của địa phương, cơ quan, xí nghiệp [11]”. Hiện nay, trong phương diện quản lý nhà nước, Quốc hội đã thống nhất định nghĩa đối với thuật ngữ thanh tra, theo đó “thanh tra là hoạt động xem xét, đánh giá, xử lý theo trình tự, thủ tục do pháp luật quy định của cơ quan thực hiện chức năng thanh tra đối với việc thực hiện chính sách, pháp luật, nhiệm vụ, quyền hạn của cơ quan, tổ chức, cá nhân [16]”. Mặc khác ngoài thực hiện các nhiệm vụ, quyền hạn liên quan đến lĩnh vực thanh tra, thì Thanh tra Sở phải “thực hiện nhiệm vụ tiếp công dân, giải quyết khiếu nại, tố cáo và phòng, chống tham nhũng, tiêu cực theo quy định của pháp luật [16]”.
13 Từ những vấn đề lý luận trên, có thể định nghĩa “Hoạt động của Thanh tra Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn là hoạt động thanh tra, tiếp công dân, giải quyết khiếu nại, tố cáo và phòng, chống tham nhũng, tiêu cực theo quy định pháp luật đối với việc thực hiện chính sách, nhiệm vụ của các đối tượng thuộc phạm vi quản lý, nhằm đề xuất giải pháp cải thiện quản lý nhà nước trong lĩnh vực nông nghiệp; lâm nghiệp; diêm nghiệp; thủy sản; thủy lợi; phòng, chống thiên tai; phát triển nông thôn; chất lượng, an toàn thực phẩm đối với nông sản, lâm sản, thủy sản và muối;. Nội dung hoạt động 1.