CHƯƠNG 1: MỘT SỐ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ QUẢN TRỊ RỦI RO SVTH: Đoàn Thị Duyên Lớp: K47A2 6 Khóa luận tốt nghiệp Tr ường Đại học Th ương mại CỦA DOANH NGHIỆP THƯƠNG MẠI 1. Một số khái niệm cơ bản về quản trị rủi ro của doanh nghiệp thương mại 1. Khái niệm rủi ro Hiện nay, có rất nhiều quan điểm về rủi ro, thường thì các định nghĩa được phát biểu tùy theo quan điểm của từng người và từng ngành. Theo quan điểm của bảo hiểm: Rủi ro được định nghĩa là sự tổn thất ngẫu nhiên, là khả năng có thể gây tổn thất, là khả năng có thể xuất hiện một biến cố không mong đợi.
Theo quan điểm của các nhà đầu tư: Rủi ro nghĩa là không có được NPV và IRR như dự tính. Theo quan điểm truyền thống: Rủi ro là nh ững thi ệt h ại, m ất mát, nguy hiểm hoặc yếu tố liên quan đến nguy hiểm, khó khăn hoặc điều không chắc chắn có thể xảy ra cho con người. Theo quan điểm hiện đại: Rủi ro là khả năng sẽ xảy ra m ột k ết qu ả có lợi hay không có lợi từ mối nguy hiểm hiện hữu. Hay rủi ro là m ột đi ều ki ện trong đó khả năng một sự bất lợi sẽ xuất hiện so với dự đoán khi có biến cố xảy ra.
Nhìn chung, rủi ro được hiểu theo nghĩa không những chỉ là kh ả năng mà còn là tổn thất của chính bản thân nó, hoặc của một vật thể, hoặc của một chất có sự hiện diện của mối nguy hiểm. Khái niệm rủi ro trong kinh doanh Trong hoạt động của doanh nghiệp, rủi ro là khả năng x ảy ra s ự ki ện không mong đợi tác động ngược lại với thu nhập và vốn đầu tư. Thông th ường SVTH: Đoàn Thị Duyên Lớp: K47A2 7 Khóa luận tốt nghiệp Tr ường Đại học Th ương mại người ta cho rằng rủi ro là khả năng xuất hiện các kho ản thi ệt h ại tài chính. Các trường hợp rủi ro được khái quát bằng sự hiện diện của nh ững tình huống không chắc chắn, mà nguyên nhân chủ yếu có thể là do lạm phát, do biến động lãi suất, tỷ giá, giá cả hàng hóa, hoặc do đánh giá sai các khả năng tình huống xảy ra, hoặc do quyết định đầu tư không thích hợp, hoặc cũng có thể do các yếu tố chính trị, xã hội và môi trường kinh doanh thay đổi.
Như vậy, rủi ro trong kinh doanh là những sự kiện bất lợi, bất ngờ, gây khó khăn trờ ngại cho chủ thể trong quá trình thực hiện mục tiêu, tàn phá các thành quả đang có, bắt buộc các chủ thể phải chi phí nhiều hơn v ề nhân l ực, v ật l ực, thời gian trong quá trình phát triển của mình. Khái niệm quản trị rủi ro trong kinh doanh Quản trị rủi ro là quá trình bao gồm các hoạt động nhận dạng, phân tích, đo lường, đánh giá rủi ro, khắc phục các hậu qu ả c ủa r ủi ro đ ối v ới ho ạt đ ộng kinh doanh nhằm sử dụng tối ưu các nguồn lực trong kinh doanh. Mục tiêu chính của quản trị rủi ro là né tránh các t ổn th ất t ừ r ủi ro tai n ạn. Mục tiêu thứ hai là tối thiểu hóa tổn thất có thể xuất hiện và hậu quả của một tổn thất.
Có rất nhiều loại rủi ro hiện diện đối với một cá nhân hay m ột t ổ ch ức và chúng đều có thể nhận dạng được. Vấn đề chính là phải nhận dạng được nguyên nhân tiềm năng của tổn thất và các hậu quả tương t ự. Có nhiều loại rủi ro rất dễ nhận dạng và điều tiết. Bên cạnh đó, cũng có rất nhiều rủi ro rất khó nhận dạng và dẫn đến nhận dạng sai.
Một số loại tổn thất: SVTH: Đoàn Thị Duyên Lớp: K47A2 8 Khóa luận tốt nghiệp Tr ường Đại học Th ương mại - Tổn thất trực tiếp: là những tổn thất ban đầu về người và tài s ản khi r ủi ro xảy ra. - Tổn thất gián tiếp: là những tổn thất h ậu qu ả do t ổn th ất tr ực ti ếp gây nên. - Tổn thất pháp lý: thường liên quan đến các điều lu ật b ồi th ường cho người lao động hay do xúc phạm làm tổn thương đến người lao động. - Tổn thất nguồn nhân lực: liên quan đến vấn đề sức kh ỏe, ch ất xám…c ủa người lao động.
Từ những nhận dạng và phân tích đó, chúng ta cần đo lường, cần phải tính được tổng số thiệt hại từ rủi ro, có thể so sánh rủi ro hiện hữu với rủi ro t ương tự. Hoặc, xem xét mức độ rủi ro để có biện pháp giảm bớt và tài trợ rủi ro. Vai trò và ý nghĩa của quản trị rủi ro trong kinh doanh Như chúng ta đã biết, quản trị rủi ro có mối quan hệ mật thiết, chặt chẽ với quản trị chiến lược và quản trị tác nghiệp c ủa doanh nghi ệp. Nó xuất hiện trong suốt quá trình thực hiện các hoạt động quản trị chiến lược, quản tr ị tác nghi ệp nhằm hỗ trợ hai hoạt động này.
Vì vậy, quản trị rủi ro được coi là hoạt động giúp doanh nghiệp ổn định trong môi trường kinh doanh đầy sức cạnh tranh như hiện nay. Bên cạnh đó, nó giúp tổ chức thực hiện đúng các mục tiêu, sứ mạng của chiến lược kinh doanh ở bất kể giai đoạn nào. Đặc biệt hơn, quản trị rủi ro giúp nhà quản lý đưa ra quyết định đúng đắn. Bởi vì thông qua các quá trình: nhận dạng, phân tích, đo lường rủi ro, các nhà quản lý có thể đưa ra phương thức kiểm soát rủi ro phù h ợp nh ất.
Đi ều này làm SVTH: Đoàn Thị Duyên Lớp: K47A2 9 Khóa luận tốt nghiệp Tr ường Đại học Th ương mại tăng độ an toàn trong kinh doanh, góp phần giảm chi phí hoạt động kinh doanh chung, hạn chế được các tổn thất hay sai sót không đáng có xảy ra, nâng cao mức uy tín của doanh nghiệp trên thị trường và có thể giúp doanh nghiệp tìm ra nhiều cơ hội kinh doanh khả thi. Với các vai trò được nêu ở trên, chúng ta có thể thấy rõ hơn về ý nghĩa của quản trị rủi ro trong kinh doanh. Nó mang một ý nghĩa rất quan trọng, là một nhân tố tạo nên sự thành công cho bất kỳ kế hoạch hay chi ến l ược c ủa doanh nghiệp dù là ngắn hạn hay dài hạn. Bằng việc tiếp cận quan đi ểm hi ện đ ại v ề r ủi ro, các nhà quản trị hoàn toàn có thể sử dụng các biện pháp kiểm soát để tránh bỏ lỡ các cơ hội lớn từ chính rủi ro mang lại.
Các nội dung lý luận về quản trị rủi ro của doanh nghiệp thương mại 1.Phân loại rủi ro trong kinh doanh 1. Rủi ro thuần túy Rủi ro thuần túy: Tồn tại khi có một nguy cơ tổn thất nhưng không có cơ hội kiếm lời được. Ví dụ: người chủ một chiếc xe có rủi ro tổn thất tiềm ẩn liên quan đến một vụ đụng xe. Nếu có đụng xe người đó sẽ bị thiệt hại v ề tài chính.
Nếu không, người đó sẽ không có lợi gì cả, vì thế tình trạng tài chính của người đó vẫn không thay đổi. Rủi ro thuần túy bao gồm 4 nhóm: Rủi ro cá nhân: là những tổn thất tài sản của cá nhân dựa trên 4 m ối nguy hiểm như chết sớm, tuổi già, mất sức lao động, thất nghiệp. Rủi ro tài sản: là những tổn thất về tài sản do hư hỏng hay m ất mát. Nó được chia làm 2 nhóm: tổn thất trực tiếp và tổn thất gián tiếp.
SVTH: Đoàn Thị Duyên Lớp: K47A2 10 Khóa luận tốt nghiệp Tr ường Đại học Th ương mại Rủi ro pháp lý: tổng hợp giữa khả năng thiệt hại v ề tài sản hiện tại và tổn thất về thu nhập trong tương lai do hậu quả thiệt hại v ề tài sản gây nên, hay trách nhiệm pháp lý phát sinh trong trường hợp cố ý hay không c ố ý gây h ại hay xâm phạm quyền lợi của người khác. Rủi ro phát sinh do sự phá sản của người khác: khi một người nào đó đồng ý làm việc cho một tổ chức, người đó phải có trách nhiệm với bất kỳ tình huống nào mà tổ chức sẽ gặp phải. Khi một cá nhân hay t ổ ch ức đó bị phá sản chính là hậu quả của tổn thất về tài chính. Trong trường hợp này tổ ch ức có thể đưa vấn đề phá sản vào hợp đồng để xây dựng phương án thanh toán n ợ vay khi có sự cố xảy ra.
Rủi ro suy đoán Rủi ro suy đoán: tồn tại khi có một cơ hội kiếm lời được cũng như một nguy cơ tổn thất. Ví dụ: đầu tư vào 1 dự án vốn có thể có lợi nhuận hay có thể thất bại. Phân loại theo nhóm nguyên nhân: Rủi ro do thiếu kinh nghiệm và kỹ năng quản trị Rủi ro do kém khả năng cạnh tranh Rủi ro do sự thay đổi thị hiếu của khách hàng Rủi ro do lạm phát Rủi ro do điều kiện không ổn định của thuế Rủi ro do thiếu thông tin kinh tế Rủi ro do tình hình chính trị bất ổn. Phân loại theo nguồn gốc của rủi ro: SVTH: Đoàn Thị Duyên Lớp: K47A2 11 Khóa luận tốt nghiệp Tr ường Đại học Th ương mại Rủi ro từ môi trường kinh tế Rủi ro từ môi trường chính trị - pháp luật Rủi ro từ môi trường văn hóa – xã hội Rủi ro từ môi trường khoa học – công nghệ Rủi ro từ cơ sở hạ tầng Rủi ro từ môi trường tự nhiên Rủi ro do nhận thức con người.Nội dung quản trị rủi ro trong kinh doanh 1.
Nhận dạng rủi ro Khái niệm nhận dạng rủi ro Nhận dạng rủi ro là quá trình xác định liên tục và có hệ thống các loại rủi ro và bất định của một tổ chức. Các hoạt động nhằm phát triển thông tin về nguồn rủi ro, các yếu tố mạo hiểm, hiểm họa và các nguy cơ rủi ro. Cơ sở của nhận dạng rủi ro Nhận dạng rủi ro cần tập trung vào hai vấn đề: Nguồn rủi ro và nhóm đối tượng rủi ro. Nguồn rủi ro (phát sinh mối hiểm họa và mối nguy hiểm) thường được tiếp cận là ở yếu tố của môi trường hoạt động của doanh nghiệp.
Môi trường chung: Môi trường chính trị luật pháp; Môi trường kinh tế; Môi trường KH KTCN; Môi trường văn hóa- xã hội; Môi trường tự nhiên. Môi trường đặc thù: Khách hàng; Nhà cung cấp; Đối th ủ c ạnh tranh; Các c ơ quan hữu quan.