Chương 1: Cơ sở lý luận và kinh nghiệm quốc tế về tiếp cận dựa vào hệ sinh thái ven biển nhằm thích ứng với biến đổi khí hậu Chương 2: Thực trạng và tiềm năng áp dụng tiếp cận dựa vào hệ sinh thái ven biển nhằm thích ứng với biến đổi khí hậu tại huyện Tiên Yên, Quảng Ninh Chương 3: Đề xuất giải pháp tiếp cận dựa vào hệ sinh thái ven biển nhằm thích ứng với biến đổi khí hậu tại huyện Tiên Yên, Quảng Ninh 6 CHƢƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ KINH NGHIỆM QUỐC TẾ VỀ TIẾP CẬN DỰA VÀO HỆ SINH THÁI VEN BIỂN NHẰM THÍCH ỨNG VỚI BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU 1. Một số khái niệm liên quan 1. Hệ sinh thái và dịch vụ hệ sinh thái 1. Hệ sinh thái Hệ sinh thái (Hệ sinh thái tự nhiên) được hiểu là một tổ hợp động của quần xã thực vật, động vật, vi sinh vật, và các điều kiện môi trường vô sinh xung quanh trong sự tương tác lẫn nhau như một đơn vị chức năng thông qua các dòng năng lượng và các chu trình vật chất.
Và hệ sinh thái là một hệ mở, luôn có sự liên hệ với các hệ khác xung quanh chúng. HST nói chung có 3 thuộc tính quan trọng có liên quan với nhau: tính dễ bị tổn thương, tính thích ứng và tính chống chịu. Tính dễ bị tổn thương là xu hướng của HST có thể bị tổn thương/thiệt hại do các tác động từ bên ngoài. Tổn thương là mức độ mà một hệ thống dễ bị tổn thương hoặc không thể đối phó với các tác động bất lợi của BĐKH, bao gồm các thay đổi khí hậu và hiện tượng thời tiết cực đoan (IPCC, 2001).
Tính chống chịu (resilience) theo nghĩa chung nhất có thể hiểu tính chống chịu là khả năng phục hồi/trở về trạng thái/hình dạng/kích thước ban đầu của một vật, một hệ thống, một tính trạng sau khi bị tác động từ bên ngoài. Tính thích ứng (adaptability): là thuộc tính của các HST có khả năng tự điều chỉnh để thích nghi với các thay đổi của môi trường sống. Tuy nhiên, sự tự điều chỉnh của các HST có giới hạn nhất định. Nếu sự thay đổi vượt qua giới hạn này, HST mất khả năng tự điều chỉnh và hậu quả là chúng bị suy thoái, thậm chí hủy hoại.
Hiện nay, Việt Nam tài nguyên thiên nhiên tập trung ở 3 HST chính là: HST trên cạn (HST rừng), HST đất ngập nước và HST biển. 7 Theo Công ước Ramsar thì hệ sinh thái đất ngập nước ven biển hết sức phong phú chiếm một phần không nhỏ của lãnh thổ bao gồm các vùng biển nông, ven biển, cửa sông, đầm phá, có thảm thực vật bao phủ, và các vùng nuôi trồng thủy sản. HST đất ngập nước ven biển có thể bao gồm các các bãi triều và triều lầy vùng cửa sông ven biển. Các bãi triều và triều lầy ở nước ta thường phát triển trên các vùng của sông, phân bố ở độ sâu 0 m hải đồ đến mực nước triều cao nhất.
Đây là vùng đất ngập mặn rộng, bao gồm các bãi triều bùn, bùn- cát, có thảm thực vật bao phủ. Hệ sinh thái ven biển là tập hợp các hệ sinh thái khu vực ven bờ biển với các đặc điểm khác nhau. Hệ sinh tháiven biển thường tồn tại gần cửa sông, trong vịnh, tại các đồng bằng ven biển và xung quanh đầm phá được bảo vệ. Nhìn chung, cấu trúc của vùng đất ngập nước vùng nhiệt đới thường bao gồm các dạng hệ sinh thái là HST rừng ngập mặn, thảm thực vật- cỏ biển, rạn san hô, vùng nước cửa sông, bãi cát ven bờ, và các đầm, ao vùng nuôi trồng thủy sản nước mặn.
Cụ thể như sau: a) Rừng ngập mặn RNM là một hệ sinh thái hở vì trong quá trình di chuyển lên xuống hàng ngày của nước triều vùng ven biển đã mang ra khỏi rừng ngập mặn từ 20-40% tổng chất hữu cơ dinh dưỡng của rừng trả lại cho đất mỗi năm. Các yếu tố về chế độ ngập nước, độ cao của đất ở vùng ven biển thì luôn có sự thay đổi theo thời gian, và RNM luôn phát triển theo hướng tiến dần ra biển. Tùy theo độ ngập khi triều thấp hay cao mà mọc lên những rừng Mắm, rừng Sú, rừng Đước vòi, Rừng Trang, rừng Vẹt…phù hợp. Và khi đất đã được bồi chặt, ít bị ngập triều thì trở thành loại đất phù sa không bị mặn thường xuyên, rất thích hợp cho sản xuất nông nghiệp.Tại các vùng cửa sông ven biển thường xuất hiện các rừng ngập mặn.
b) Hệ sinh thái thảm cỏ biển “Hệ sinh thái cỏ biển bao gồm các thực vật thủy sinh bậc cao và nhóm có hoa thích nghi sống chìm trong nước biển với môi trường độ muối cao, chịu được lực tác động của sóng gió,thủy triều và có khả năng thụ phấn, nảy mầm đều trong nước”. Rễ của cây bám vào trầm tích để lấy chất dinh dưỡng nuôi cây.“Thảm cỏ biển là hệ sinh thái có năng suất sinh học cao và là nguồn thức ăn quan trọng đối 8 với nhiều sinh vật, đặc biệt là rùa biển, cá biển”. Cỏ biển phân bố rộng ở nhiều vùng ven biển nhiệt đới và ôn đới ở độ sâu không lớn, nước trong và không có sóng mạnh. c) Rạn san hô “Rạn san hô được tạo thành nhờ sự phát triển của các loài san hô, chủ yếu là san hô cứng”, tùy thuộc vào địa hình, nhiệt độ, mức độ chịu sóng gió.
Sự thay đổi của mực nước biển có ảnh hưởng lớn đến sự phát triển. San hô tạo rạn cần đủ ánh sáng cho quan hợp của tảo cộng sinh trong nội bào của chúng, cần cả thức ăn lơ lửng trong nước biển và các chất dinh dưỡng vô cơ lấy từ sông. Đối với những rạn ở xa đất liền, chất dinh dưỡng chỉ đến qua dòng chảy bề mặt” ( Nguồn: Lê Diên Dực, 2012). Nhiệt độ nước biển giới hạn khả năng sinh trưởng và phát triển của rạn.
San hô là thức ăn cho nhiều loài cá và động vật không xương sống. Các rạn san hô được coi là HST có năng suất cao nhất và đa dạng nhất. Các rạn lớn tạo thành hang hốc là nơi cư trú cho nhiều loại cá con và các loài động vật không xương sống như giun, tôm…chúng mang lại giá trịkinh tế và lợi ích xã hội cho con người. Ngoài ra, đây là nơi trú ẩn, sinh trưởng của nhiều loài sinh vật đáy như sò, trai, hải quỳ, tảo, là bãi đẻ của rùa biển.
d) Vùng nước cửa sông Theo Pritchard, (1967), vùng nước cửa sông ven biển là một thủy vực nước lợ bán kín ven bờ nối liền với biển khơi. Vùng nước cửa sông thường không ổn định mà biến động, nơi này nước biển có pha trộn với dòng nước ngọt bắt nguồn từ nội địa. e) Bãi cát ven bờ “Vật liệu tạo bãi thường là cát trung, cát nhỏ bao gồm thạch anh, fenpat và một số khoáng vật màu. Cát được mài tròn và độ chọn lọc tốt”.
Kiểu đất ngập nước này thường xuất hiện tại các vùng cửa sông, người dân thường sử dụng vào việc nuôi ngao, nghêu. (Nguồn: Nguyễn Văn Thảo, 2015) f) Bãi triều lầy, các đầm ao nuôi trồng thủy sản nước mặn Vùng triều là vùng không ngập nước một khoảng thời gian trong ngày theo chu kỳ thủy triều, với các yếu tố tự nhiên thay đổi do nước và không khí chi phối. 9 Các bãi triều, bùn lầy chúng thường tồn tại gần cửa sông, trong vịnh hoặc xung quanh đầm phá. Chúng là những dải hẹp trên bờ biển dốc hoặc có khi rộng đến vài kilomet bề ngang.2 Dịch vụ hệ sinh thái “Theo định nghĩa của Đánh giá Hệ sinh thái thiên niên kỷ (Millennium Ecosystem Assesment, 2005, p.v) thì dịch vụ hệ sinh thái là “những lợi ích (trực tiếp hoặc gián tiếp) kinh tế mà con người hưởng thụ từ các chức năng của hệ sinh thái”.
Những lợi ích đó bao gồm dịch vụ cung cấp như thức ăn và nước; các dịch vụ điều tiết như điều tiết lũ, hạn hán; các dịch vụ hỗ trợ như: hình thành đất và chu trình dinh dưỡng; và các dịch vụ văn hóa như giải trí, tinh thần, tín ngưỡng và các lợi ích phi vật chất khác”. Dựa vào tính ĐDSH của các loài trong một HST mà chúng có những chức năng riêng biệt. HST mang đến những lợi ích trực tiếp cho con người, thường có giá trị kinh tế lớn, đặc biệt là trong lĩnh vực sản xuất nông lâm nghiệp và thủy sản; là cơ sở đảm bảo an ninh lương thực của đất nước; duy trì nguồn gen cho loài; cung cấp các vật liệu xây dựng và các nguồn nguyên liệu, dược liệu; cung cấp khoảng 80% lượng thủy sản khai thác từ vùng biển ven bờ và đáp ứng gần 40% lượng protein cho người dân.1: Các giá trị dịch vụ hệ sinh thái Dịch vụ điều tiết Dịch vụ văn hóa - Điều hòa không khí - Đa dạng văn hóa - Điều hòa đa dạng sinh học - Giá trị tinh thần và tín ngưỡng - Lưu trữ cacbon - Giá trị tri thức - Điều hòa khí hậu - Giá trị giáo dục - Tuần hoàn dinh dưỡng - Truyền cảm hứng - Xử lý chất thải - Mối quan hệ với xã hội - Bảo vệ tuyến đê ven bờ - Giá trị di sản văn hóa - Điều hòa dòng nước - Giá trị giải trí,thẩm mỹ, du lịch - Điều chỉnh chất lượng nước - Ổn định đất và chống xói mòn 10 Dịch vụ cung cấp Dịch vụ hỗ trợ - Nguồn thức ăn - Sự hình thành đất - Nhiên liệu khí đốt - Quá trình quang hợp - Nguồn gen - Sản xuất sơ cấp - Cung cấp nguồn nước sạch - Chu trình dinh dưỡng - Tuần hoàn nước Nguồn: UNEP, 2004; MEA, 2005 HST cung cấp các giá trị sử dụng và phi sử dụng cho đời sống con người và sự sống của môi trường sinh thái tự nhiên. Bản chất các chức năng của dịch vụ hệ sinh thái rất phức tạp và chúng có mối liên hệ chặt chẽ với nhau.
Nếu bị phá vỡ, thì mọi chức năng khác đều bị ảnh hưởng.1 đã chỉ ra 4 giá trị dịch vụ HST nói chung. Riêng đối với các HST ven biển thì giá trị dịch vụ hệ sinh thái đem lại rất phong phú đa dạng. Một số HST ven biển có năng suất sinh học cao Hệ sinh Rừng ngập mặn Rong biển-Thảm cỏ Rạn san hô thái biển Chức năng - Ngăn ngừa xói lở - Tích lũy và giữ bồi - Vùng đệm tự nhiên - Nơi sinh cư tích - Nơi sinh cư, vùng - Sản xuất thức ăn - Nơi sinh cư và sản thức ăn và giữ giống xuất giống - Sản xuất thức ăn - Sản xuất thức ăn Nguồn: IUCN, 2012 Bảng 1.2 kể tên một số HST ven biển đem lại những giá trị lợi ích cho con người.