CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ Ô NHIỄM NƯỚC SÔNG VÀ GIỚI THIỆU KHU VỰC SÔNG TRƯỜNG GIANG 1. Tổng quan về ô nhiễm nước sông và các nghiên cứu quản lý, bảo vệ chất lượng nước sông 1. Tổng quan về ô nhiễm nước sông 1. Tổng quan về ô nhiễm nước sông trên thế giới Ô nhiễm nước là sự thay đổi theo chiều xấu đi các tính chất vật lý – hóa học – sinh học của nước, với sự xuất hiện các chất lạ ở thể lỏng, rắn làm cho nguồn nước trở nên độc hại với con người và sinh vật, làm giảm độ đa dạng sinh vật trong nước.
Xét về tốc độ lan truyền và quy mô ảnh hưởng thì ô nhiễm nước là vấn đề đáng lo ngại hơn ô nhiễm đất. Ô nhiễm nước xảy ra khi nước bề mặt chảy qua rác thải sinh hoạt, nước rác công nghiệp, các chất ô nhiễm trên mặt đất, rồi thấm xuống nước ngầm [24]. Theo Hiến chương châu Âu về nước, ô nhiễm nước là sự biến đổi nói chung do con người đối với chất lượng nước, làm nhiễm bẩn nước và gây nguy hiểm cho con người, cho công nghiệp, nông nghiệp, nuôi cá, nghỉ ngơi, giải trí, cho động vật nuôi và các loài hoang dã [26]. Cụ thể hơn, hiện tượng ô nhiễm nước xảy ra khi các loại hóa chất độc hại, các loại vi khuẩn gây bệnh, virut, kí sinh trùng phát sinh từ các nguồn thải khác nhau như chất thải công nghiệp từ các nhà máy sản xuất, các loại rác thải của các bệnh viện, các loại rác thải sinh hoạt bình thường của con người hay hóa chất, thuốc trừ sâu, phân bón hữu cơ…sử dụng trong sản xuất nông nghiệp được đẩy ra các ao, hồ, sông, suối hoặc ngấm xuống nước dưới đất mà không qua xử lý hoặc với khối lượng quá lớn vượt quá khả năng tự điều chỉnh và tự làm sạch của các loại ao, hồ, sông, suối.
Trong khoảng hơn một thập kỷ trở lại đây các dòng sông trên toàn thế giới đang gặp phải vấn đề đáng báo động khiến cho các nhà khoa học, các chuyên gia môi trường và ngay cả những người làm công tác quản lý phải quan tâm đó là sự suy giảm chất lượng các con sông do hậu quả của sự phát triển kinh tế, xã hội. Cụ thể về sự ô nhiễm nguồn nước một số con sông được thống kê như sau: - Sông Nile: Nguồn nước sông Nile đang bị ô nhiễm do nguồn thải từ nông nghiệp, công nghiệp, các khu ô chuột và nhiều khu vực khác ở Cairo [20]. Theo ước tính có khoảng 24.000 doanh nghiệp công nghiệp ở Ai Cập, trong đó 700 là doanh nghiệp lớn. Ngành công nghiệp ở Ai 5 Cập sử dụng khoảng 638 triệu m3 nước /năm, trong đó có 549 triệu m3 nước/năm được thải vào hệ thống thoát nước.
Sông Nile cung cấp khoảng 65% nước và nhận hơn 57% lượng nước thải từ sản xuất công nghiệp tại Ai Cập [22]. Hoạt động công nghiệp của các nhà máy dọc hai bên bờ sông Nile không được kiểm soát hiệu quả đã gây ra sự cố tràn dầu, với chiều dài vết dầu loang khoảng 6km đoạn thuộc thành phố Edfu ở Aswan [25]. Trong năm 2012 tại phía Nam của ISNA xảy ra sự dò rỉ dầu do sự cố chìm tàu, vết dầu loang có chiều dài khoảng 1,5km. Ngoài ra các làng và thị trấn nằm trên bờ sông Nile tại Kafr El Sheikh Rashid và Giza Governorate bị nhiễm độc amoniac từ các nhà máy thuốc trừ sâu, sự rò rỉ chất thải từ các nhà máy này gây chết hàng chục tấn cá, gây ra các rủi ro về sức khỏe của người dân [21].
- Sông Hằng Sông Hằng là con sông nổi tiếng nhất Ấn Độ, dài 2.510 km, bắt nguồn từ dãy Hymalaya chảy theo hướng Đông Nam qua Bangladesh và chảy vào vịnh Bengal. Toàn bộ lưu vực sông chiếm diện tích đến 907.000 km2 và là một trong những khu vực phì nhiêu, có mật độ dân cao nhất thế giới. Sông Hằng được người Hindu rất coi trọng và sùng kính, là trung tâm của những truyền thống xã hội và tôn giáo của đất nước Ấn Độ. Lưu vực sông Hằng gần như tạo ra một vùng đất liền thứ ba của Ấn Độ và là một trong 12 vùng dân cư trên thế giới phụ thuộc vào sông.
Đây cũng là nơi sinh sống của hơn 140 loài cá, 90 loài động vật lưỡng cư và loài cá heo sông Hằng. Hiện sông Hằng được coi là một trong những con sông bị ô nhiễm nhất trên thế giới do ảnh hưởng nặng nề của nền công nghiệp hóa chất, rác thải công nghiệp, rác thải sinh hoạt chưa qua xử lý, phong tục hỏa táng một phần thi thể rồi thả trôi sông, rác thải trực tiếp từ các bệnh viện do thiếu lò đốt… Chất lượng nước đang trở nên xấu đi nghiêm trọng. Cùng với sự mất đi khoảng 30-40% lượng nước do những đập nước đang làm cho sông Hằng trở nên khô cạn và có nguy cơ biến mất. Các nghiên cứu cũng phát hiện ra các kim loại độc trong nước sông khá cao như Hg (nồng độ từ 65-520ppb), Pb (10-800ppm), Cr (10- 200ppm) và Ni (10-130ppm).
Hiện nay, Chính phủ Ấn Độ đang có kế hoạch cải tạo và bảo vệ con sông này [23]. - Sông Volga Kết quả nghiên cứu của Moiseenko và cs., 2011 [26] cho thấy, nước sông Volga bị ô nhiễm kim loại nặng, hàm lượng nhiều kim loại nặng vượt mức cho phép của MPC (Tiêu 6 chuẩn thủy sản năm 1999) do nước thải ô nhiễm của các nhà máy, công nghiệp tại lưu vực sông, hàm lượng Al dao động từ 31,7 – 820,5 µg/l, tại vùng hạ lưu vượt mức cho phép 2,74 lần, hàm lượng Sr dao động từ 101,1 – 521,3 µg/l, tại vùng hạ lưu vượt mức cho phép 1,30 lần, hàm lượng Mn dao động từ 27,7 – 101,6 µg/l, vượt mức cho phép khoảng 2,77 – 10,16 lần, hàm lượng Cu dao động từ 1,70 – 2,21 µg/l, vượt mức cho phép 1,70 – 2,21 lần, hàm lượng V dao động từ 1,21 – 2,35 µg/l, vượt mức cho phép từ 1,21 -2,35 lần. Một số chất hữu cơ độc hại cũng vượt mức cho phép như Dioctyl cebacate tại vùng thượng lưu khoảng 3,9 µg/l, vượt mức cho phép 3,9 lần, hàm lượng Dibutyl phthalate khoảng 2,8 – 32,1µg/l, vượt mức cho phép 2,8 – 32,1 lần, hàm lượng Dioctyl phthalate khoảng 1,1 – 18,6 µg/l, tại vùng thượng lưu và trung lưu vượt mức cho phép khoảng 1,1 – 1,9 lần, dẫn xuất của 1,3-dioxan tại vùng trung lưu là 27,6 µg/l, vượt mức cho phép khoảng 2,8 lần, thuốc trừ sâu cơ clo tại vùng trung lưu là 0,01 µg/l, có dấu hiệu ô nhiễm. Các chất hữu có trong nước chủ yếu là do chất thải của các doanh nghiệp hóa dầu ở thượng nguồn Gorkovskoe Reservoir gần thành phố Yaroslavl.
- Sông Hoàng Hà Sông Hoàng Hà là con sông dài thứ 2 ở Trung Quốc, có vai trò rất quan trọng đối với người dân nước này. Đây chính là nguồn cung cấp nước lớn nhất cho hàng triệu người dân ở phía Bắc Trung Quốc nhưng hiện giờ đã bị ô nhiễm nặng nề bởi sự cố tràn dầu và các chất thải công nghiệp. Một đường ống dẫn dầu bị vỡ của Công ty dầu khí quốc gia Trung Quốc với hơn 1.500 lít dầu đã tràn vào đất canh tác và một phụ lưu của sông Hoàng Hà làm ô nhiễm nước sông trên diện rộng gây chết nhiều loài sinh vật. Tổng quan về ô nhiễm nước sông ở Việt Nam Nước ta có mạng lưới sông khá dày đặc, có tới 2.372 con sông có chiều dài từ 10km trở lên và có dòng chảy thường xuyên, trong đó 13 hệ thống sông lớn có diện tích lưu vực trên 10.
Lưu vực của 13 hệ thống sông lớn chiếm hơn 80% diện tích lãnh thổ; sông liên quốc gia chiếm 10 trong 13 hệ thống sông này. Lưu vực của 9 hệ thống sông chính gồm sông Hồng, sông Thái Bình, sông Bằng Giang – Kỳ Cùng, sông Cả - La, sông Thu Bồn, sông Ba, sông Đồng Nai, Cửu Long chiếm tới 93% tổng diện tích lưu vực sông toàn quốc gia và xấp xỉ 80% diện tích quốc gia. Sự phát triển kinh tế theo hướng đẩy mạnh sản xuất công nghiệp đã làm gia tăng chất thải và các hóa chất độc hại. Với một quốc gia đang phát triển như nước ta vấn đề chất thải 7 đang là một thách thức, đặc biệt là chất thải lỏng là vấn đề quan trọng và cấp thiết đối với nước ta hiện tại vì nước thải đã xả thải trực tiếp vào các dòng sông mà không qua xử lý.
Qua thời gian, nguy cơ ô nhiễm ngày càng tăng dần, có thể nói rằng tình trạng ô nhiễm trên những dòng sông ở Việt Nam ngày càng nặng nề. Hầu hết sông ngòi Việt Nam đã bị giảm chất lượng nước, đặc biệt ở những nơi có phát triển trọng điểm. Nhiều dòng sông là nơi giặt giũ tắm rửa, nước sông được sử dụng như nước sinh hoạt gia đình làm thay đổi hiện trạng nước sông [7]. Tình trạng này đang gây ra những ảnh hưởng đến sức khỏe của người dân, làm tăng nguy cơ ung thư, sảy thai và dị tật bẩm sinh, dẫn đến suy giảm nòi giống.
Tại một số địa phương của Việt Nam, khi nghiên cứu các trường hợp ung thư, viêm nhiễm ở phụ nữ, đã thấy 40-50% là do từ sử dụng nguồn nước ô nhiễm.Sông Đồng Nai Hình 1. Sông Thị Vải Thống kê và đánh giá của Bộ Y tế và Bộ Tài nguyên môi trường trung bình mỗi năm ở Việt nam có khoảng 9.000 người tử vong vì nguồn nước và điều kiện vệ sinh kém và gần 20.000 trường hợp mắc bệnh ung thư mới phát hiện, mà một trong những nguyên nhân chính là sử dụng nguồn nước ô nhiễm [6]. Theo khảo sát của Trung tâm Quan trắc môi trường Quốc gia – Tổng cục Môi trường (Bộ Tài nguyên và Môi trường) cho thấy hiện trạng môi trường nước mặt lục địa nhiều nơi bị ô nhiễm nghiêm trọng. Miền Bắc tập trung đông dân cư (đặc biệt là Đồng bằng sông Hồng) lượng nước thải đô thị lớn hầu hết của các thành phố đều chưa được xử lý và xả trực tiếp vào các kênh mương và chảy thẳng ra sông.
Ngoài ra một lượng lớn nước thải công nghiệp, làng nghề cũng là áp lực lớn đối với môi trường nước. Sông Hồng tiếp nhận một lượng nước thải công nghiệp và sinh hoạt không nhỏ từ thượng nguồn Trung Quốc. 8 Hơn nữa, mỗi ngày, hàng trăm mét khối nước thải của nhà máy hóa chất, thuốc trừ sâu, giấy, dệt…khoảng 168.đêm xả xuống hạ lưu đã làm nước sông Hồng ngày càng xấu đi theo cả không gian và thời gian. Ở Hà Nội các sông như sông Tô Lịch, sông Sét, sông Lừ có màu đen và hôi thối [12].