Đặt vấn đề Việt Nam là một nước nông nghiệp, hơn 70% dân số nước ta sống bằng nông nghiệp. Trong đó ngành chăn nuôi chiếm một vị trí quan trọng. Để đưa ngành chăn nuôi thành ngành chủ lực, đáp ứng nhu cầu, thịt, trứng, sữa nhất là thịt lợn xuất khẩu. Nhà nước, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn đã đẩy mạnh phát triển đàn gia súc cả về số lượng và chất lượng con giống nhằm mục đích nâng cao sản lượng và chất lượng sản phẩm đáp ứng được yêu cầu của thị trường quốc tế.
Chăn nuôi lợn là ngành chăn nuôi chính, chiếm tỉ trọng cao trong cơ cấu chăn nuôi của nước ta. Trước đây năng suất chăn nuôi còn thấp do người dân chỉ biết nuôi lợn nội và chăn nuôi theo quy mô nhỏ lẻ. Được sự tư vấn và đầu tư của các công ty chăn nuôi trong và ngoài nước, hình thức chăn nuôi tập trung đang ngày càng phát triển. Các trang trại chăn nuôi quy mô từ vài chục đến vài trăm con, những trang trại gia công lên đến hơn nghìn con lợn nái sinh sản cũng như lợn thịt thương phẩm được phát triển ngày càng nhiều.
Những năm trở lại đây, nước ta chú trọng nhập một số giống lợn cao sản từ nước ngoài để nhân giống, lai tạo, cải tạo giống mới phục vụ sản xuất. Tuy nhiên, các giống lợn này chủ yếu được nhập từ các nước Châu Âu nên khi về Việt Nam khả năng thích nghi kém đặc biệt là lợn nái. Mặt khác trong quá trình sinh đẻ lợn nái dễ bị các loại vi khuẩn ngoài môi trường như: Streptococcus, Staphylococcus, E.xâm nhập và gây một số bệnh nhiễm trùng sau đẻ như viêm âm đạo, âm môn, đặc biệt hay gặp là bệnh viêm tử cung và một số bệnh như: viêm vú, mất sữa, vô sinh, viêm phúc mạc dẫn đến nhiễm trùng huyết và chết. Gây ảnh hưởng đến khả năng sinh sản của lợn nái mà còn là một trong những nguyên nhân làm tăng tỷ lệ bệnh tiêu chảy ở đàn h 2 lợn con trong thời gian theo mẹ, theo đó chất lượng đàn giống bị ảnh hưởng.
Để phát triển hơn nữa quy mô chăn nuôi lợn nái ở nước ta, chăn nuôi lợn nái là một khâu rất quan trọng quyết định đến sự thành công trong nghành chăn nuôi lợn. Đặc biệt để có con giống nuôi thịt tốt cả về số lượng và chất lượng thì việc chăn nuôi lợn nái là một phần rất quan trọng. Với mục đích nâng cao năng suất sinh sản cho đàn lợn nái sinh sản và hạn chế các thiệt hại do một số bệnh gây ra chúng tôi đã tiến hành nghiên cứu chuyên đề: “Thực hiện quy trình chăm sóc nuôi dưỡng và phòng trị bệnh cho lợn nái sinh sản nuôi tại trại lợn Bùi Huy Hạnh xã Tái Sơn, huyện Tứ Kỳ, tỉnh Hải Dương”. Mục đích và yêu cầu của đề tài 1.
Mục đích - Thực hiện quy trình chăm sóc nuôi dưỡng và phòng trị bệnh cho đàn lợn nái sinh sản tại cơ sở đạt hiệu quả cao. - Rèn luyện tay nghề, nâng cao hiểu biết và kinh nghiệm thực tế. Yêu cầu - Đánh giá tình hình chăn nuôi lợn tại trang trại lợn Bùi Huy Hạnh, xã Tái Sơn huyện Tứ Kỳ Tỉnh Hải Dương. - Áp dụng quy trình kỹ thuật chăm sóc, nuôi dưỡng cho đàn lợn nái tại trại đạt hiệu quả cao.
- Xác định tình hình nhiễm bệnh trên đàn nái sinh sản và đánh giá quy trình phòng trị bệnh. - Chăm chỉ học hỏi để nâng cao kiến thức tay nghề. h 3 Phần 2 TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU 2. Điều kiện cơ sở thực tập 2.
Điều kiện tự nhiên 2. Vị trí địa lý Trại lợn Bùi huy Hạnh được thành lập và đi vào sản xuất lợn giống theo hướng chăn nuôi công nghiệp từ năm 2007. Trang trại là trại lợn gia công cho Công ty CP (Charoen Pokphand Việt Nam). Địa điểm xây dựng trại tại xã Tái Sơn, huyện Tứ Kỳ, tỉnh Hải Dương.
Tứ Kỳ là một huyện thuộc tỉnh Hải Dương nằm ở trung tâm đồng bằng Bắc Bộ. Cũng giống như các huyện khác của tỉnh Hải Dương, Tứ Kỳ nằm hoàn toàn ở giữa vùng hạ lưu của hệ thống sông Thái Bình - Phía Đông Bắc giáp huyện Thanh Hà (ranh giới là sông Thái Bình) - Phía Tây Bắc giáp thành phố Hải Dương - Phía Tây giáp huyện Gia Lộc - Phía Tây Nam giáp huyện Ninh Giang, đều thuộc tỉnh Hải Dương - Phía Đông Nam giáp huyện Vĩnh Bảo (ranh giới là sông Luộc) - Phía Đông giáp huyện Tiên Lãng (ranh giới là một đoạn sông Thái Bình). Điều kiện địa hình đất đai Trang trại Bùi Huy Hạnh nằm độc lập giữa cánh đồng lúa, thuộc trung tâm đồng bằng Bắc Bộ. Có địa hình tương đối bằng phẳng thuận lợi cho việc phát triển chăn nuôi, với diện tích khoảng 3ha.
Trong đó: - 1ha: Khu chăn nuôi tập trung cùng các công trình phụ cận. - 2ha: Trồng cây xanh và ao hồ. Điều kiện khí hậu và thời tiết h 4 Lượng mưa hàng năm cao nhất là 2.157 mm, thấp nhất là 1.060 mm, trung bình là 1. Lượng mưa tập trung chủ yếu là từ tháng 6 đến tháng 7 trong năm.
Khí hậu: Huyện Tứ Kỳ nằm trong khu vực nhiệt đới gió mùa lạnh về mùa đông , nóng ẩm về mùa hè. Độ ẩm không khí trung bình hàng năm là 82%, cao nhất là 88%, thấp nhất là 67%. Nhiệt độ trung bình hàng năm từ 21oC đến 23oC, mùa nóng tập trung vào tháng 6 đến tháng 7. Do có sự ảnh hưởng của gió mùa Đông Bắc và gió mùa Đông Nam nên có sự chênh lệch về nhiệt độ trung bình giữa các mùa trong năm.
Về chế độ gió: Gió mùa Đông Bắc thổi từ tháng 3 đến tháng 10, gió mùa Đông Nam thổi từ tháng 1 đến tháng 12. Điều kiện giao thông Về giao thông có 3 tuyến đường tỉnh chạy qua địa bàn huyện là tỉnh lộ 191A từ thành phố Hải Dương đi qua thị trấn Tứ Kỳ chạy đến cuối huyện theo chiều Bắc Nam dài 26 km. Tỉnh lộ 17A từ thị trấn Gia Lộc đi thị trấn Ninh Giang, đoạn qua địa bàn huyện Tứ Kỳ dài 5 km, từ Dân Chủ đến Cầu Bía. Tỉnh lộ 17D từ thị trấn Ninh Giang đi Hải Phòng, đoạn đi qua địa bàn huyện dài 11 km theo chiều Tây Đông.
Cơ sở vật chất của trại Trang trại có tổng diện tích 3ha, trong đó xây dựng 1ha cho khu chăn nuôi tập trung cùng các công trình phụ cận, và 2ha trồng cây xanh và ao hồ. Khu chăn nuôi của trại chuyên nuôi lợn sinh sản do công ty CP Việt Nam cung cấp lợn nái và lợn đực giống. Khu chăn nuôi được quy hoạch bố trí xây dựng hệ thống chuồng trại cho trên 1300 nái, bao gồm: 6 chuồng nái đẻ (mỗi chuồng có 56 ô kích thước 2,4m x 1,6m/ô), 2 chuồng nái chửa(mỗi chuồng có 560 ô kích thước 2,4m x 0.65m/ô), 3 chuồng cách ly, một số công trình phụ phục vụ cho chăn nuôi h 5 như: kho thức ăn, phòng sát trùng, phòng pha tinh, kho thuốc,. Hệ thống chuồng xây dựng khép kín hoàn toàn, phía đầu chuồng là hệ thống giàn mát, cuối chuồng có 3 quạt thông gió đối với các chuồng đẻ, 8 quạt thông gió đối với chuồng nái chửa, 2 quạt đối với chuồng cách ly, 2 bên tường có dãy cửa sổ lắp kính.
Mỗi cửa sổ có diện tích 1,5m², cách nền 1,2m, mỗi cửa sổ cách nhau 40cm. Trên trần được lắp hệ thống chống nóng bằng tôn lạnh. Phòng pha tinh của trại được trang bị các dụng cụ hiện đại như: máy đếm mật độ tinh trùng, kính hiển vi, thiết bị cảm ứng nhiệt, các dụng cụ đóng nhiệt tinh, nồi hấp cách thủy dụng cụ và một số thiết bị khác. Trong khu chăn nuôi, đường đi lại giữa các ô chuồng, các khu khác đều được đổ bê tông và có các hố sát trùng.
Hệ thống nước trong khu chăn nuôi đều là nước giếng khoan. Nước uống cho lợn được cấp từ 1 bể lớn, xây dựng ở đầu chuồng nái đẻ 6 và chuồng nái chửa 2. Nước tắm và nước xả gầm, phục vụ cho công tác khác được bố trí từ các bể lọc và được bơm qua hệ thống ống dẫn tới bể chứa ở giữa các chuồng. Hệ thống điện: Nguồn cấp điện có điện lưới và máy phát dự phòng.
Đối với chuồng đẻ, hệ thống điện được cung cấp đầy đủ đảm bảo độ sáng phục vụ cho công tác đỡ đẻ, chăm sóc nuôi dưỡng lợn mẹ và lợn con, mỗi chuồng đẻ được lắp đặt cố định 10 bóng thắp sáng so le nhau cùng hệ thống bóng sưởi cho mỗi ô chuồng có lợn con được sinh ra. Hệ thống sát trùng: nhà sát trùng cho người gồm 3 phòng, mỗi phòng gồm 3 khoang gồm 1 khoang thay đồ, 1 khoang sát trùng và 1 khoang tắm tráng với đầy đủ các trang thiết bị như: bình nóng lạnh, vòi hoa sen tắm, chậu rửa, gương soi, móc quần áo, khăn, xà bông, dầu gội,. Hệ thống sát trùng khu vực ngoài chuồng nuôi gồm nhà sát trùng xe, hố sát trùng, nhà tắm sát trùng. Máy nén phun sát trùng di động trong khu vực chuồng nuôi.
Kho chứa thức ăn: trần đóng kín, có sàn cách mặt đất 30cm để chứa h 6 thức ăn trong chăn nuôi. Hệ thống xử lý môi trường: chất thải được xử lý bằng hệ thống biogas trước khi thải ra môi trường, có điểm tiêu chất thải, có giàn khử mùi phía sau quạt hút gió, có hố hủy lợn xa khu vực chăn nuôi. Các công trình phụ chợ khác: khu sinh hoạt tách biệt với khu chăn nuôi gồm phòng kỹ sư, nhà ở công nhân, nhà bếp, nhà tắm, nhà vệ sinh. Cổng trại, tường rào đảm bảo an ninh.
Có nhà kho phục vụ chăn nuôi như nhà để vôi bột, bể tôi vôi nước. Một số dụng cụ và trang thiết bị khác: tủ lạnh bảo quản vắc xin, tủ thuốc để bảo quản và dự trữ thuốc cho trại, xe chở cám từ nhà kho xuống chuồng, máy nén khí phun sát trùng di động khu vực ngoài chuồng nuôi.Cơ cấu tổ chức trại Trại gồm có 20 người trong đó có: + 1 chủ trại + 1 quản lý + 2 kỹ sư chính của công ty + 2 tổ trưởng (1chuồng bầu, 1chuồng đẻ) + 1 bảo vệ + 14 công nhân 2. Thuận lợi và khó khăn của trại - Thuận lợi: + Trại được xây dựng giữa cánh đồng, cách xa khu dân cư, nên hạn chế được dịch bệnh và không làm ảnh hưởng đến các hộ dân xung quanh. + Đội ngũ quản lý, cán bộ kỹ thuật, công nhân của trại có năng lực, năng động, nhiệt tình và có trách nhiệm trong công việc.