Đặt vấn đề Việt Nam là một nước nông nghiệp. Nông nghiệp giữ một vị trí hết sức quan trọng trong nền kinh tế quốc dân. Cùng với trồng trọt ngành chăn nuôi nói chung và ngành chăn nuôi lợn nói riêng đang trên đà phát triển và dần trở thành ngành chính trong nền kinh tế nông nghiệp. Ngày nay con lợn không những giữ vị trí hàng đầu trong việc cung cấp thực phẩm giàu dinh dưỡng cho mọi người mà còn là loại hàng hóa chủ lực của ngành nông nghiệp thu lại nhiều lợi nhuận.
Vì vậy làm thế nào để chăn nuôi lợn đạt hiệu quả cao và trở thành hàng hóa chủ lực của ngành luôn là mối quan tâm lớn của nhà nước và người chăn nuôi. Trên thực tế ngành chăn nuôi lợn còn gặp nhiều khó khăn như quy mô nhỏ lẻ, khâu chọn giống còn nhiều bất cập…Ngoài ra sự diễn biến phức tạp của nhiều loại dịch bệnh cùng với sự ảnh hưởng trầm trọng của ô nhiễm môi trường trong chăn nuôi đã làm cho cả ngành chăn nuôi lợn lao đao. Để chăn nuôi lợn phát triển ổn định, có chiều sâu, chúng ta cần rà soát và quy hoạch lại đất đai, cần hình thành các khu chăn nuôi riêng biệt, mang tính công nghiệp. Do đó, chăn nuôi trang trại tập trung hiện nay được xem là con đường tất yếu để phát triển bền vững, chỉ có như vậy mới có đủ điều kiện đáp ứng các yêu cầu về an toàn dịch bệnh, an toàn cho môi trường và đảm bảo sản phẩm là nguồn thực phẩm sạch cho con người.
Muốn đạt được hiệu quả kinh tế cao thì chúng ta cần đẩy mạnh các biện pháp kỹ thuật như giống, thức ăn, biện pháp kỹ thuật chăm sóc. Đặc biệt chú trọng tới công tác giống, giống tốt thì vật nuôi mới tăng trọng nhanh, khả năng tận dụng thức ăn tốt, thích nghi và chống chịu bệnh cao. Bởi vậy cần phát triển chăn nuôi các giống lợn ngoại có năng suất và chất lượng thịt cao. Để cung cấp giống cho nhu cầu chăn nuôi của các trang trại thì việc phát triển c 2 đàn lợn nái sinh sản cần đặc biệt được quan tâm.
Tuy nhiên một trong những nguyên nhân làm hạn chế khả năng sinh sản của lợn nái đang nuôi ở các trang trại là bệnh còn xảy ra rất nhiều do khả năng thích nghi của những giống lợn nái ngoại với khí hậu nước ta còn kém, đặc biệt là bệnh ở cơ quan sinh dục: đẻ khó, viêm tử cung, viêm vú, mất sữa…Các bệnh này do nhiều yếu tố như điều kiện vệ sinh, chăm sóc nuôi dưỡng kém, thức ăn nước uống không đảm bảo vệ sinh, do vi khuẩn, virus gây nên. Chính vì vậy mà việc chăm sóc nuôi dưỡng và tìm hiểu về bệnh của cơ quan sinh dục của đàn lợn nái là việc rất cần thiết. Nắm được quy trình chăm sóc, nuôi dưỡng và phòng trị bệnh cho lợn nái tốt hơn, chúng em tiến hành thực hiện chuyên đề: “ Thực hiện quy trình chăm sóc nuôi dƣỡng và phòng trị bệnh cho đàn lợn nái sinh sản tại trại Nguyễn Tiến Chi – Lƣơng Sơn – Thái Nguyên”. Mục đích và yêu cầu của chuyên đề 1.
Mục đích - Nắm được tình hình chăn nuôi tại trại Nguyễn Tiến Chi Lương Sơn – Thái Nguyên - Nắm được quy trình chăm sóc lợn nái sinh sản. - Nắm được các loại thức ăn dành cho lợn nái sinh sản, khẩu phần ăn và cách cho lợn nái ăn qua từng giai đoạn mang thai. - Nắm được các bệnh hay xảy ra đối với lợn nái sinh sản và phương pháp phòng trị bệnh hiệu quả nhất. Yêu cầu của chuyên đề - Đánh giá tình hình chăn nuôi tại.
- Áp dụng quy trình chăm sóc, nuôi dưỡng cho đàn lợn nái nuôi tại trại trại Nguyễn Tiến Chi Lương Sơn – Thái Nguyên. - Xác định tình hình nhiễm bệnh trên đàn lợn nái sinh sản và áp dụng được quy trình chăm sóc, nuôi dưỡng. c 3 Phần 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 2. Điều kiện cơ sở nơi thực tập 2.
Điều kiện của trang trại 2. Vị trí địa lý Trại lợn Nguyễn Tiến Chi nằm tại phường Lương Sơn, thành phố Sông Công, tỉnh Thái Nguyên. Trại hoạt động từ giữa năm 2001. Là trại lợn tư nhân do ông Nguyễn Tiến Chi làm chủ trại.
Đến năm 2014 bắt đầu thành lập Công ty TNHH Phát triển Nông nghiệp Đăng Nguyên, do ông Nguyễn Tiến Đăng làm giám đốc. Đặc điểm khí hậu - Thành phố Sông Công thuộc tỉnh Thái Nguyên, ở vùng Đông Bắc, chịu ảnh hưởng của khí hậu cận nhiệt đới ẩm. Do đó trại lợn trại Nguyễn Tiến Chi Lương Sơn – Thái Nguyên cũng chịu ảnh hưởng chung của khí hậu vùng. - Nhiệt độ trung bình năm là 250C, nhiệt độ cao nhất vào tháng 6 là 28,60C, nhiệt độ thấp nhất vào tháng 1 là 15,20C.
- Lượng mưa: Lượng mưa trung bình năm là 2000 -2500 mm/ năm. Lượng mưa hàng năm tương đối lớn, chế độ mưa chia làm hai mùa rõ rệt. Mùa mưa bắt đầu từ tháng 5 đến tháng 10, tổng lượng mưa cả năm gần như tập trung vào mùa mưa, chiếm 80% - 90% tổng lượng mưa cả năm. Mùa khô thì lượng mưa rất nhỏ chỉ chiếm khoảng 10% - 20% tổng lượng mưa cả năm.
- Chế độ gió mùa: Mùa đông từ tháng 10 đến tháng 3, tháng 4 năm sau thường chịu ảnh hưởng của gió Bắc, Đông Bắc, mỗi tháng từ 3 – 4 đợt. Mùa hè từ tháng 5 đến tháng 9, chủ yếu là gió Nam, Đông Nam. Tốc độ gió trung bình năm là 3 – 3,4 m/s. Cơ cấu tổ chức của trang trại Cơ cấu tổ chức của trang trại được tổ chức như sau: - 01 Chủ trại làgiám đốc công ty.
- 01 Quản lý trại là điều hành chính các hoạt động của trại. - 01 Kỹ thuật trại người hướng dẫn làm các quy trình kĩ thuật về thú y. - 01 Kế toán xác định, ghi chép, tổng hợp và báo cáo các thông tin kinh tế cho quản lý trại. - 03 Công nhân trực tiếp thực hiện các công việc dưới sự hướng dẫn của cán bộ kỹ thuật và quản lý trại.
- 01 Bảo vệ chịu trách nhiệm bảo vệ tài sản chung của trại. Với đội ngũ công nhân trên, trại phân ra làm các tổ khác nhau như: tổ chuồng đực, tổ chuồng bầu, tổ chuồng đẻ, tổ chuồng hậu bị, tổ chuồng cai sữa. Mỗi tổ thực hiện công việc hàng ngày một cách nghiêm túc, đúng quy định của trại. Cơ sở vật chất của trang trại - Trang trại có tổng diện tích 2 ha, toàn bộ được quy hoạch hợp lý thành khu chăn nuôi cùng khu nhà ở, các công trình phụ khác và đất trồng cây xanh, cây ăn quả, ao hồ.
- Khu chăn nuôi lợn được bố trí xây dựng chuồng trại cho quy mô 150 nái, nhập nái hậu bị của Công ty Greenfeed, nhập đực của trại giống Bành Tỷ. Về chăn nuôi gà chủ yếu là nuôi gà ri, mục đích cung cấp thực phẩm cho nhu cầu của trại. -Trại lợn được chia làm hai khu là khu điều hành và khu sản xuất. Khu điều hành gồm nơi làm việc của quản lý trại và nơi ăn, ở của công nhân.
Khu sản xuất gồm: 01 chuồng đẻ, 01 chuồng bầu, 03 chuồng thịt và 01 chuồng cai sữa. Một số công trình khác phục vụ cho chăn nuôi như: kho cám, kho thuốc, phòng tinh, phòng sát trùng. c 5 - Hệ thống chuồng bầu và chuồng đẻ được xây dựng khép kín, chuồng cai sữa và 3 chuồng thịt là chuồng hở. Đầu mỗi chuồng là hệ thống giàn mát, cuối chuồng là hệ thống quạt thông gió.
Riêng chuồng đẻ thì cuối chuồng còn có hệ thống xử lý mùi và trong chuồng có hệ thống cảm biến nhiệt độ. Tất cả các máng ăn ở các dãy chuồng đều là máng đổ bằng tay, không có hệ thống tự động. - Phòng pha tinh có các dụng cụ hiện đại phục vụ cho công tác kiểm tra và pha chế tinh như: kính hiển vi, nồi hấp cách thủy, tủ sấy và các dụng cụ khác. - Trong khu chăn nuôi, đường đi lại giữa các ô chuồng, các khu đều được đổ bê tông và có hố sát trùng.
Khu chuồng nuôi được quản lý nghiêm ngặt. Mọi công nhân trong trại cho đến khách đều phải thay quần áo, đeo khẩu trang, ủng chuyên dụng và phải đi qua hệ thống sát trùng. - Nguồn nước thải rửa chuồng trại, xả gầm đều được xử lý qua hệ thống thoát nước ngầm. - Xung quanh trang trại còn có đất để trồng rau xanh, cây ăn quả, đào những hồ sinh học tạo môi trường thông thoáng.
Thuận lợi và khó khăn 2. Thuận lợi - Trại được xây dựng ở vị trí cách xa khu dân cư, thuận tiện đường giao thông. - Đội ngũ quản lý, cán bộ kỹ thuật có trình độ chuyên môn cao, có tinh thần trách nhiệm cao trong công việc. - Công nhân có tay nghề cao, năng động, nhiệt tình và có trách nhiệm với công việc.
- Trại được xây dựng theo mô hình công nghiệp, trang thiết bị hiện đại, do đó rất phù hợp với điều kiện chăn nuôi lợn công nghiệp hiện nay. Khó khăn - Dịch bệnh diễn biến phức tạp nên chi phí dành cho phòng và chữa bệnh cao. - Giá thức ăn chăn nuôi mỗi ngày một tăng khiến chi phí thức ăn tăng cao gây ảnh hưởng tới chăn nuôi của trang trại. - Tình hình giá lợn trong thời gian vừa qua diễn biến phức tạp ảnh hưởng đến lợi nhuận của trang trại.Như trong tháng 04/2016 giá 01 con lợn giống bằng 01 con lợn thịt 100kg của tháng 04/2017.
Điều này khiến cho trang trại bị thất thu, giảm đi nhiều đầu lợn. Cơ sở tài liệu liên quan đến chuyên đề thực hiện 2. Những hiểu biết về quy trình nuôi dưỡng và chăm sóc lợn nái sinh sản.Quy trình nuôi dưỡng, chăm sóc lợn nái đẻ Mục đích chăn nuôi lợn nái đẻ nhằm đảm bảo cho lợn đẻ an toàn, lợn con có tỷ lệ sống cao, lợn mẹ có sức khỏe tốt, đủ khả năng tiết sữa nuôi con Chính vì vậy quá trình chăm sóc, nuôi dưỡng có vai trò rất quan trọng và ảnh hưởng trực tiếp đến sức khỏe lợn mẹ và lợn con. - Quy trình nuôi dưỡng Theo Trần Văn Phùng và cs, (2004)[17] thức ăn dùng cho lợn nái đẻ phải là những thức ăn có giá trị dinh dưỡng cao,dễ tiêu hóa.
Không cho lợn nái ăn thức ăn có hệ số choán cao gây chèn ép thai sinh ra đẻ non, đẻ khó, hoặc ép thai chết ngạt. Một tuần trước khi lợn đẻ phải căn cứ vào tình trạng sức khỏe cụ thể của lợn nái để có kế hoạch giảm dần lượng thức ăn.