Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu
Ngành chăn nuôi giữ vị trí quan trọng trong cơ cấu kinh tế nông nghiệp Việt Nam, trong đó chăn nuôi lợn đóng vai trò chủ đạo khi cung cấp từ 75% đến 80% tổng sản lượng thịt tiêu thụ trên thị trường, đồng thời cung cấp nguồn phân bón cho trồng trọt và nguyên liệu cho công nghiệp chế biến. Trước yêu cầu phát triển chăn nuôi theo hướng công nghiệp hóa, việc lai tạo các giống lợn ngoại có tầm vóc lớn, tốc độ sinh trưởng nhanh và tỷ lệ nạc cao đòi hỏi các cơ sở sản xuất phải áp dụng nghiêm ngặt các quy trình kỹ thuật về chăm sóc, nuôi dưỡng và an toàn sinh học. Giai đoạn lợn con theo mẹ là giai đoạn nhạy cảm nhất trong chu kỳ chăn nuôi, có tốc độ sinh trưởng nhanh nhưng cơ thể chưa hoàn thiện, sức đề kháng yếu, tỷ lệ hao hụt thường ở mức cao nếu không được chăm sóc đúng kỹ thuật. Xuất phát từ yêu cầu thực tiễn sản xuất, chuyên đề tốt nghiệp đại học ngành Chăn nuôi Thú y của sinh viên Mùa A Hồng đã được thực hiện nhằm đánh giá và ứng dụng quy trình quản lý kỹ thuật trên đàn lợn con tại cơ sở chăn nuôi quy mô tập trung.
Mục tiêu nghiên cứu của chuyên đề được xác định rõ:
- Tìm hiểu tình hình chăn nuôi tại trại lợn Bẩy Tuân, thuộc Công ty Trách nhiệm hữu hạn Đầu tư và Kinh doanh (TNHH DT&KD) Bảo Lộc, xã Tiên Phương, huyện Chương Mỹ, Hà Nội.
- Thực hiện quy trình chăm sóc, nuôi dưỡng cho đàn lợn con theo mẹ.
- Xác định tình hình nhiễm bệnh, thực hiện công tác phòng và điều trị bệnh cho đàn lợn con nuôi tại trại.
Nhiệm vụ nghiên cứu cụ thể bao gồm:
- Đánh giá thực trạng cơ sở vật chất và kết quả sản xuất của trang trại trong giai đoạn 2015 - 2017.
- Theo dõi, thực hiện trực tiếp các khâu kỹ thuật chăm sóc, nuôi dưỡng đàn lợn con trong 6 tháng thực tập.
- Khảo sát tỷ lệ mắc các bệnh thường gặp (bệnh phân trắng, viêm khớp, viêm phổi), đánh giá hiệu quả của công tác vệ sinh sát trùng, tiêm phòng vắc xin và phác đồ điều trị lâm sàng.
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:
- Đối tượng nghiên cứu: Đàn lợn con từ sơ sinh đến giai đoạn cai sữa nuôi tại trang trại.
- Phạm vi không gian: Trại lợn Bẩy Tuân, Công ty TNHH DT&KD Bảo Lộc, xã Tiên Phương, huyện Chương Mỹ, thành phố Hà Nội (đơn vị hợp tác kỹ thuật và thức ăn với Công ty De Heus).
- Phạm vi thời gian: Đề tài tiến hành trong thời gian 6 tháng, từ ngày 18 tháng 11 năm 2016 đến ngày 18 tháng 05 năm 2017.
Cơ sở khoa học và phương pháp tiến hành
Khóa luận xây dựng trên hệ thống cơ sở sinh lý học, dinh dưỡng học và bệnh lý học gia súc chuyên ngành:
- Quy luật sinh trưởng và tích lũy chất dinh dưỡng: Tác giả dẫn chứng nghiên cứu của Trần Văn Phùng và cộng sự (2004) chỉ ra rằng khối lượng cơ thể lợn con tăng gấp 2 lần lúc 10 ngày tuổi, gấp 4 lần lúc 21 ngày tuổi, gấp 5 - 6 lần lúc 30 ngày tuổi, gấp 7 - 8 lần lúc 40 ngày tuổi, gấp 10 lần lúc 50 ngày tuổi và gấp 12 - 14 lần lúc 60 ngày tuổi so với khối lượng sơ sinh. Lợn con tích lũy chất dinh dưỡng rất mạnh: sau 3 tuần tuổi, mỗi ngày lợn con có thể tích lũy từ 9 đến 14 gam protein trên 1 kg thể trọng, vượt trội so với mức 0,3 - 0,4 gam/kg thể trọng ở lợn trưởng thành. Sự thay đổi hàm lượng nước và protein theo lứa tuổi được đối chiếu theo nghiên cứu của Trần Cừ (1992): tỷ lệ nước giảm dần từ 77,88% lúc sơ sinh xuống 68,52% (7 ngày tuổi) và 63,94% (14 ngày tuổi); ngược lại, tỷ lệ protein tăng từ 11,2% lúc sơ sinh lên 13,57% (7 ngày tuổi) và 14,37% (14 ngày tuổi).
- Cơ chế miễn dịch và dinh dưỡng sữa đầu: Nghiên cứu của Trần Thị Dân (2008) và Vũ Đình Tôn và cộng sự (2006) khẳng định lợn sơ sinh hầu như không có kháng thể trong máu; khả năng miễn dịch hoàn toàn là thụ động nhờ hấp thu gamma-globulin qua sữa đầu trong 24 giờ đầu sau sinh. Sữa đầu có hàm lượng protein gấp 2 lần, vitamin A gấp 5 - 6 lần, vitamin C gấp 2,5 lần, vitamin B1 và sắt gấp 1,5 lần so với sữa thường, chứa nhiều ion Mg++ có tác dụng kích thích nhu động ruột tống phân su.
- Cơ chế thiếu máu thiếu sắt: Căn cứ nghiên cứu của Đào Trọng Đạt và cộng sự (1996), nhu cầu sắt của lợn con trong 30 ngày đầu đời là 210 mg (tương đương 7 mg/ngày), trong khi sữa mẹ chỉ đáp ứng 1 - 2 mg/ngày (tổng lượng cung cấp qua sữa chỉ đạt 36 - 60 mg/30 ngày). Mức thiếu hụt từ 150 đến 180 mg sắt dẫn đến giảm nồng độ hemoglobin, gây hội chứng thiếu máu, da nhợt nhạt và tăng nguy cơ tiêu chảy phân trắng. Do đó, kỹ thuật tiêm bổ sung 200 mg Fe-Dextran là bắt buộc.
- Căn nguyên vi sinh vật gây bệnh: Đề tài tham chiếu các nghiên cứu của Sokol và cộng sự (1981) về độc lực của vi khuẩn Escherichia coli mang plasmid mã hóa yếu tố bám dính (K88, K99), yếu tố dung huyết (Hly) và độc tố đường ruột; nghiên cứu về Clostridium perfringens type A và type C (1992); Salmonella gây bệnh phó thương hàn (Phạm Sỹ Lăng và cộng sự, 2013) và Mycoplasma hyopneumoniae gây bệnh viêm phổi địa phương.
Phương pháp nghiên cứu được triển khai bao gồm:
- Phương pháp điều tra, thu thập số liệu thứ cấp: Thu thập số liệu lưu trữ tại sổ sách hành chính - kỹ thuật của trại giai đoạn 2015 - 2017 về cơ cấu đàn, năng suất nái sinh sản.
- Phương pháp thực nghiệm lâm sàng và can thiệp kỹ thuật: Thực hiện quy trình kỹ thuật thường quy đối với 3.629 lợn con: đỡ đẻ, lau nhớt, cắt rốn sát trùng bằng cồn iod 70°, bấm nanh, cắt đuôi bằng kìm điện (để lại 2,5 - 3 cm), sưởi ấm ổ úm ở nhiệt độ 32 - 35°C trong những ngày đầu, cố định đầu vú cho lợn con yếu bú vú trước ngực, tiêm sắt, thiến lợn đực lúc 8 - 10 ngày tuổi, tập ăn sớm bằng thức ăn 550SF từ 4 - 6 ngày tuổi và thực hiện quy trình cai sữa lúc 21 - 26 ngày tuổi.
- Phương pháp chẩn đoán lâm sàng: Quan sát trạng thái ăn uống, phản xạ vận động, kiểm tra niêm mạc, kiểm tra màu sắc và độ quánh của phân; đo thân nhiệt qua trực tràng bằng nhiệt kế chuyên dụng thang đo 43°C (thân nhiệt bình thường 38 - 40°C; bệnh lý sốt 41 - 42°C).
- Phương pháp xử lý số liệu: Số liệu được tổng hợp, xử lý theo phương pháp thống kê sinh vật học ứng dụng trong chăn nuôi của Nguyễn Văn Thiện (2008) bằng phần mềm Microsoft Excel 2007, tính toán tỷ lệ mắc bệnh và tỷ lệ điều trị khỏi theo công thức toán học thống kê.
Nội dung chính theo từng chương
Phần 1: Mở đầu
Tác giả trình bày tính cấp thiết của việc phát triển ngành chăn nuôi lợn theo hướng thâm canh quy mô lớn, khẳng định thịt lợn chiếm tỷ lệ 75 - 80% cơ cấu tiêu thụ thực phẩm có nguồn gốc từ thịt tại Việt Nam. Văn bản nhấn mạnh vai trò sống còn của khâu chăm sóc nuôi dưỡng lợn con bú sữa: giai đoạn này quyết định đến chỉ số sống sót, tốc độ tăng khối lượng và chất lượng giống thương phẩm cho các giai đoạn nuôi thịt tiếp theo. Trên cơ sở đó, tác giả xác định rõ mục đích, yêu cầu và nhiệm vụ chuyên môn cần giải quyết trong thời gian thực tập nghề nghiệp tại cơ sở chăn nuôi tư nhân.
Phần 2: Tổng quan nghiên cứu
Chương này cung cấp bức tranh chi tiết về điều kiện tự nhiên, cơ sở hạ tầng của trại lợn Bẩy Tuân và tổng thuật tài liệu chuyên ngành.
Trại được thành lập từ năm 2006, có tổng diện tích 7 ha, phân chia thành: 2,5 ha khu chăn nuôi; 3 ha ao cá và hệ thống bể biogas; 1,5 ha nhà điều hành, khu cư xá công nhân và công trình phụ trợ. Mặt bằng khu chăn nuôi được thiết kế quy chuẩn cho 1.200 lợn nái:
- 3 chuồng đẻ với 300 ô sàn (kích thước 2,4 m x 1,6 m/ô).
- 3 chuồng bầu với 1.200 ô cá thể (kích thước 2,4 m x 0,65 m/ô).
- 1 chuồng đực giống với 12 ô (kích thước 5 m x 6 m/ô), nuôi 14 con đực giống Yorkshire phục vụ kích thích động dục và khai thác tinh thụ tinh nhân tạo.
- 5 chuồng lợn thịt gồm 12 ô/chuồng (kích thước 5 m x 6 m/ô).
- Hệ thống chuồng kín có giàn mát cooling pad ở đầu chuồng, quạt hút thông gió ở cuối chuồng, trần chống nóng bằng tôn/thép, cửa sổ kính diện tích 1,2 m² cách nền 1,2 m. Phòng pha tinh được trang bị kính hiển vi, lò hấp sấy, nhiệt kế điện tử, máy đóng liều tinh.
Về mặt học thuật, tác giả hệ thống hóa các đặc điểm sinh lý quan trọng: 3 thời kỳ khủng hoảng của lợn con (sơ sinh - 1 tuần tuổi; 3 tuần tuổi khi sữa mẹ giảm; thời kỳ ngay sau cai sữa), các yếu tố ngoại cảnh tác động (nhiệt độ sưởi tuần đầu 30 - 35°C, độ ẩm tối ưu 70%, ánh sáng làm tăng tốc độ tăng khối lượng 9,5 - 12%), cùng các nghiên cứu trong và ngoài nước về chế phẩm axit hữu cơ (Đặng Minh Phước, 2006), kháng thể lòng đỏ trứng gà phòng tiêu chảy (Akita và cs, 1993) và cơ chế tiết độc tố của E. coli qua plasmid (Sokol và cs, 1981).
Phần 3: Đối tượng, nội dung và phương pháp nghiên cứu
Tác giả xác định đối tượng theo dõi là đàn lợn con nuôi tại trại Bẩy Tuân trong khoảng thời gian từ ngày 18/11/2016 đến ngày 18/05/2017.
Nội dung tập trung vào 5 nhóm công việc: đánh giá cơ cấu đàn 3 năm (2015 - 2017); thực hiện quy trình kỹ thuật chăm sóc nuôi dưỡng; thực hiện công tác vệ sinh phòng bệnh bằng hóa chất sát trùng và vắc xin; theo dõi tỷ lệ mắc, chẩn đoán triệu chứng và đánh giá kết quả điều trị các bệnh thường gặp trên đàn lợn con; thực hiện các công tác kỹ thuật chăn nuôi bổ trợ. Tác giả nêu rõ các bước thao tác hàng ngày: giao nhận ca, kiểm tra thiết bị quạt/bóng sưởi, dọn phân, vệ sinh máng ăn, lau sàn nhựa bằng chổi riêng biệt cho ô lợn khỏe và ô lợn tiêu chảy, ngâm giặt thảm úm, rắc vôi bột lối đi và gầm chuồng, phun sát trùng Omicide 2 lần/ngày nồng độ 320 ml/1000 lít nước vào lúc 14 giờ chiều. Các chỉ tiêu lâm sàng được ghi nhận theo dõi trực tiếp và xử lý bằng Excel 2007.
Phần 4: Kết quả và phân tích kết quả
Tác giả phân tích các số liệu thu thập được thông qua các bảng thống kê chi tiết về cơ cấu đàn, quy mô đàn lợn con trực tiếp theo dõi, quy trình vệ sinh sát trùng, kết quả tiêm phòng và tỷ lệ mắc bệnh:
| Năm |
Lợn nái sinh sản (con) |
Lợn nái hậu bị (con) |
Lợn đực giống (con) |
Lợn con (con) |
Tổng đàn (con) |
| 2015 |
1.145 |
50 |
14 |
24.870 |
26.079 |
| 2016 |
1.206 |
100 |
14 |
27.105 |
28.425 |
| 2017 (6 tháng) |
1.258 |
120 |
15 |
23.065 |
24.458 |
Quy mô đàn nái của trang trại có xu hướng tăng nhẹ qua các năm để đáp ứng nhu cầu sản xuất con giống. Chỉ số sinh sản đạt mức cao: trung bình lợn nái đẻ 2,40 - 2,45 lứa/năm, số con sơ sinh đạt 12,07 con/đàn, số con cai sữa đạt 10,45 con/đàn.
Về số lượng lợn con trực tiếp theo dõi, chăm sóc trong 6 tháng thực tập (tổng số 3.629 con), số liệu phân bố theo giai đoạn tuổi và tháng như sau:
| Tháng theo dõi |
Tổng số theo dõi (con) |
Sơ sinh - 7 ngày tuổi (con) |
Từ 8 - 14 ngày tuổi (con) |
Từ 15 - 21 ngày tuổi (con) |
| 12/2016 |
690 |
237 |
252 |
201 |
| 01/2017 |
624 |
213 |
211 |
200 |
| 02/2017 |
692 |
238 |
232 |
222 |
| 03/2017 |
642 |
221 |
216 |
205 |
| 04/2017 |
656 |
229 |
215 |
212 |
| 05/2017 |
325 |
115 |
110 |
100 |
| Tổng cộng |
3.629 |
1.253 |
1.236 |
1.140 |
Về công tác thú y phòng bệnh, 100% lợn con theo dõi (3.629/3.629 con) được phòng bệnh theo lịch: uống thuốc phòng cầu trùng Totrazil và tiêm bổ sung Fe-Dextran + B12 ở giai đoạn 2 - 6 ngày tuổi; tiêm vắc xin phòng bệnh dịch tả lợn Coglapest lúc 18 - 21 ngày tuổi; tiêm phòng viêm phổi lúc 7 - 21 ngày tuổi.
Số liệu khảo sát tình hình mắc bệnh trên đàn lợn con 6 tháng thực tập được tổng hợp tại bảng sau:
| STT |
Tên bệnh theo dõi |
Số con theo dõi (con) |
Số con mắc bệnh (con) |
Tỷ lệ mắc (%) |
| 1 |
Phân trắng lợn con |
3.629 |
480 |
13,23 |
| 2 |
Viêm khớp |
3.629 |
350 |
9,64 |
| 3 |
Viêm phổi |
3.629 |
176 |
4,85 |
| Tổng |
Tổng đàn mắc bệnh |
3.629 |
1.006 |
27,72 |
Phân tích số liệu cho thấy bệnh phân trắng có tỷ lệ mắc cao nhất (13,23%) do ảnh hưởng của biến động thời tiết đông - xuân và khâu hộ lý giữ ấm ổ úm sau sinh đôi lúc chưa triệt để. Bệnh viêm khớp chiếm 9,64%, thường bắt nguồn từ xây xát đầu gối khi tranh bú trên sàn đan hoặc nhiễm trùng qua vết cắt rốn, cắt răng nanh. Bệnh viêm phổi chiếm tỷ lệ thấp nhất (4,85%) nhờ chuồng nuôi kín có hệ thống quạt thông gió và quy trình tiêm vắc xin nghiêm ngặt.
Phần 5: Kết luận và đề nghị
Khóa luận tổng kết việc hoàn thành toàn bộ các mục tiêu đề ra về chăm sóc, nuôi dưỡng và kiểm soát dịch bệnh trên đàn lợn con. Tác giả kiến nghị trang trại cần bổ sung thêm lực lượng lao động kỹ thuật, tiếp tục đầu tư hoàn thiện trang thiết bị chuồng trại, đồng thời tăng cường giám sát khâu hộ lý lợn con sơ sinh trong các thời điểm giao mùa thời tiết phức tạp nhằm hạ thấp hơn nữa tỷ lệ mắc bệnh tiêu chảy và viêm khớp.
Kết quả và đóng góp thực tiễn
Khóa luận ghi nhận các kết quả kỹ thuật và số liệu thực tế tại cơ sở:
- Đánh giá cụ thể chỉ số năng suất sinh sản của đàn nái ngoại nuôi thâm canh: tỷ lệ nái đẻ đạt 2,40 - 2,45 lứa/năm; số con sơ sinh bình quân 12,07 con/đàn; số con cai sữa đạt 10,45 con/đàn.
- Thực hiện chuẩn hóa quy trình chăm sóc trực tiếp trên đàn lợn con quy mô 3.629 cá thể: 100% lợn con được sưởi ấm, cắt rốn, bấm nanh, cắt đuôi, cố định đầu vú, thiến lợn đực và tập ăn sớm bằng thức ăn công nghiệp 550SF từ 4 - 6 ngày tuổi; hoàn thành cai sữa ở 21 - 26 ngày tuổi.
- Triển khai toàn diện lịch vệ sinh thú y và an toàn sinh học: chuồng đẻ sau cai sữa được xử lý tháo dỡ tấm đan ngâm dung dịch NaOH 10% trong 1 ngày, rửa sạch, phơi khô; khung chuồng xịt vôi xút; gầm chuồng rắc vôi bột và để trống chuồng tối thiểu 5 ngày trước khi chuyển nái mới vào. Chuồng nuôi được phun sát trùng định kỳ 2 lần/ngày bằng thuốc sát trùng Omicide nồng độ 320 ml/1.000 lít nước.
- Kết quả kiểm soát dịch bệnh bằng vắc xin đạt tỷ lệ tuyệt đối 100% trên 3.629 con đối với vắc xin dịch tả Coglapest, vắc xin viêm phổi, thuốc cầu trùng Totrazil và chế phẩm Fe-Dextran.
- Xác định chính xác cơ cấu bệnh lý lâm sàng trên đàn lợn con theo mẹ: tổng tỷ lệ mắc bệnh là 27,72% (1.006/3.629 con), trong đó bệnh phân trắng lợn con chiếm 13,23%, bệnh viêm khớp chiếm 9,64%, bệnh viêm phổi chiếm 4,85%. Việc chẩn đoán sớm qua biểu hiện lâm sàng kết hợp đo thân nhiệt trực tràng (phát hiện sốt 41 - 42°C) giúp công tác can thiệp đạt hiệu quả điều trị từ 80% đến 90%.
Về mặt đóng góp, đề tài cung cấp bộ dữ liệu thực tế về các chỉ tiêu sản xuất, biến động số lượng đàn lợn con theo tháng và tỷ lệ mắc bệnh truyền nhiễm, nội khoa thường gặp tại một cơ sở chăn nuôi gia công công nghiệp ở vùng đồng bằng Bắc Bộ, làm minh chứng đối sánh cho các cơ sở chăn nuôi lợn nái sinh sản có cùng quy mô.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
Khóa luận có một số giới hạn gắn liền với điều kiện thực tế của cơ sở:
- Giới hạn về thời gian khảo sát: Đề tài thực hiện trong phạm vi 6 tháng (từ tháng 11/2016 đến tháng 05/2017), chủ yếu nằm trong vụ đông - xuân nên chưa phản ánh toàn diện ảnh hưởng của điều kiện nhiệt ẩm mùa hè đối với sức khỏe đàn lợn con.
- Phương pháp chẩn đoán: Việc xác định bệnh hoàn toàn dựa vào chẩn đoán lâm sàng qua quan sát triệu chứng bên ngoài và đo thân nhiệt trực tràng; chưa tiến hành mổ khám bệnh tích, phân lập vi sinh vật gây bệnh trong phòng thí nghiệm hoặc thực hiện kháng sinh đồ để kiểm tra độ nhạy cảm của vi khuẩn đối với các loại thuốc điều trị.
- Cơ sở vật chất trang trại: Đội ngũ lao động tại trại còn mỏng (9 công nhân, 17 phạm nhân, 7 sinh viên thực tập phục vụ quy mô trên 1.200 nái), trang thiết bị còn thiếu thốn, chưa đồng bộ hóa hoàn toàn hệ thống kiểm soát môi trường tự động.
Hướng nghiên cứu mở rộng được đề xuất:
- Tiếp tục theo dõi các chỉ tiêu sinh trưởng (khối lượng sơ sinh, khối lượng cai sữa, tăng trọng bình quân ngày) của đàn lợn con qua trọn vẹn 12 tháng trong năm.
- Kết hợp lấy mẫu bệnh phẩm phân và dịch ngoáy mũi để xét nghiệm vi sinh vật học, xác định độc lực của các chủng E. coli, Salmonella, Mycoplasma lưu hành tại trại và xây dựng kháng sinh đồ làm căn cứ lựa chọn thuốc đặc trị.
Giá trị tham khảo
Báo cáo khóa luận có giá trị tham khảo thực tế cho các nhóm đối tượng:
- Sinh viên chuyên ngành Chăn nuôi, Thú y, Bác sĩ thú y: Tài liệu cung cấp trình tự kỹ thuật hộ lý lợn con từ lúc sơ sinh đến khi cai sữa (thao tác bấm nanh, cắt rốn, cố định đầu vú, tiêm sắt, cai sữa) và kỹ năng theo dõi ca trực tại chuồng đẻ công nghiệp.
- Cán bộ kỹ thuật và chủ trang trại chăn nuôi lợn sinh sản: Tham khảo bảng lịch vệ sinh sát trùng chuồng trại định kỳ 7 ngày trong tuần, quy trình ngâm rửa tấm đan bằng dung dịch NaOH 10%, nồng độ pha chế thuốc sát trùng Omicide và lịch phòng bệnh bằng vắc xin cho từng lứa tuổi của đàn lợn.
- Phần đáng lưu ý nhất trong tài liệu: Quy trình kỹ thuật xử lý lợn con sơ sinh trong 3 ngày đầu đời (bổ sung sắt phòng bần huyết, kỹ thuật tập ăn sớm bằng thức ăn công nghiệp từ ngày thứ 4 - 6) và dữ liệu tỷ lệ mắc 3 bệnh phổ biến (phân trắng, viêm khớp, viêm phổi) kèm phương pháp theo dõi thân nhiệt qua trực tràng.
Câu hỏi thường gặp
1. Cơ sở vật chất và quy mô đàn nái tại trại Bẩy Tuân được quy hoạch như thế nào?
Trại được xây dựng trên tổng diện tích 7 ha (khu chăn nuôi chiếm 2,5 ha, 3 ha ao cá và biogas, 1,5 ha nhà điều hành và khu phụ trợ). Cơ sở vật chất được thiết kế cho 1.200 lợn nái, gồm 3 chuồng đẻ (300 ô, kích thước 2,4 m x 1,6 m/ô), 3 chuồng bầu (1.200 ô, kích thước 2,4 m x 0,65 m/ô), 1 chuồng đực giống (12 ô, kích thước 5 m x 6 m/ô) nuôi 14 - 15 con đực Yorkshire, và 5 chuồng lợn thịt. Năng suất sinh sản của đàn nái đạt 2,40 - 2,45 lứa/năm, số con sơ sinh bình quân 12,07 con/đàn và số con cai sữa đạt 10,45 con/đàn.
2. Quy trình bổ sung sắt phòng bệnh thiếu máu cho lợn con tại cơ sở được thực hiện theo nguyên tắc nào?
Do nhu cầu sắt của lợn con trong 30 ngày đầu đời cần khoảng 210 mg nhưng sữa mẹ chỉ cung cấp được 1 - 2 mg/ngày (tổng cộng 36 - 60 mg/tháng), lợn con thiếu hụt khoảng 150 - 180 mg sắt. Trang trại thực hiện tiêm bổ sung sắt dạng Ferri-Dextran kết hợp vitamin B12 cho lợn con lúc 2 - 3 ngày tuổi với liều 200 mg Fe/con (tiêm 1 lần hoặc chia làm 2 lần nếu cai sữa sau 3 tuần tuổi: lần 1 tiêm 100 mg lúc 3 ngày tuổi, lần 2 tiêm 100 mg lúc 10 - 12 ngày tuổi). Vị trí tiêm khuyến cáo là tiêm bắp ở vùng cổ hoặc tiêm dưới da, tránh tiêm vùng mông để không gây tổn thương dây thần kinh và tồn dư vết sắt trong thịt.
3. Tại sao cần cho lợn con tập ăn sớm từ 4 - 6 ngày tuổi bằng thức ăn hỗn hợp hoàn chỉnh?
Sản lượng sữa của lợn mẹ đạt đỉnh ở 3 tuần tuổi rồi giảm dần, trong khi nhu cầu dinh dưỡng của lợn con tăng liên tục theo tốc độ lớn. Việc tập cho lợn con ăn sớm thức ăn hỗn hợp 550SF từ 4 - 6 ngày tuổi (chính thức làm quen từ 7 - 10 ngày tuổi) nhằm bù đắp lượng dinh dưỡng thiếu hụt, kích thích bộ máy tiêu hóa tăng tiết dịch vị chứa HCl và enzyme tiêu hóa, giúp hoàn thiện chức năng dạ dày và ruột non, hạn chế hiện tượng lợn gặm nhấm chất thải rơi vãi gây nhiễm khuẩn đường ruột, đồng thời giảm hao mòn cơ thể lợn mẹ để lợn mẹ sớm động dục trở lại sau cai sữa.
4. Trong 6 tháng theo dõi, cơ cấu bệnh tật trên đàn lợn con diễn ra như thế nào?
Trên tổng số 3.629 lợn con theo dõi, có 1.006 con mắc bệnh (tỷ lệ 27,72%). Trong đó, bệnh phân trắng lợn con chiếm tỷ lệ cao nhất với 13,23% (480 con mắc), nguyên nhân chủ yếu do thời tiết thay đổi lạnh ẩm và khâu hộ lý giữ ấm chưa triệt để; bệnh viêm khớp chiếm 9,64% (350 con mắc), phát sinh từ các vết xây xát đầu gối khi tì đè bú sữa hoặc nhiễm trùng vết thương hở; bệnh viêm phổi chiếm tỷ lệ thấp nhất là 4,85% (176 con mắc) nhờ chuồng trại kín có hệ thống thông gió và thực hiện nghiêm ngặt lịch tiêm phòng vắc xin.
5. Quy trình vệ sinh, sát trùng chuồng đẻ sau khi cai sữa lợn con được tiến hành qua những bước nào?
Sau khi chuyển lợn mẹ lên chuồng nái chửa và xuất lợn con, toàn bộ các tấm đan của chuồng đẻ được tháo dỡ và ngâm ngập trong hố sát trùng chứa dung dịch NaOH 10% trong vòng 1 ngày, sau đó cọ sạch bằng nước và phơi khô. Khung chuồng được cọ sạch, phun xịt bằng dung dịch NaOH loãng rồi phun lại bằng nước vôi xút. Gầm chuồng được thu dọn phân, cọ rửa, tiêu độc khử trùng và rắc vôi bột. Ô chuồng để khô 1 ngày trước khi lắp lại tấm đan và phải bảo đảm thời gian để trống chuồng tối thiểu là 5 ngày mới đưa lứa lợn nái chửa tiếp theo vào chuẩn bị đẻ.
Kết luận
Khóa luận tốt nghiệp của sinh viên Mùa A Hồng đã phản ánh chi tiết việc ứng dụng quy trình kỹ thuật chăm sóc, nuôi dưỡng và an toàn sinh học trên đàn lợn con bú sữa tại trại lợn Bẩy Tuân thuộc Công ty TNHH DT&KD Bảo Lộc. Thông qua việc theo dõi trực tiếp 3.629 lợn con trong 6 tháng, tác giả đã làm rõ các chỉ số sản xuất của đàn nái sinh sản, thực hiện đạt tỷ lệ phòng bệnh 100% bằng vắc xin và chế phẩm sắt, đồng thời thống kê chính xác tỷ lệ mắc các bệnh phổ biến (phân trắng 13,23%, viêm khớp 9,64%, viêm phổi 4,85%). Các dữ liệu kỹ thuật và lịch trình sát trùng, phòng trị bệnh được trình bày trong khóa luận mang giá trị thực tiễn đối với công tác tổ chức chăn nuôi lợn nái sinh sản quy mô công nghiệp.