Luận văn thực hiện chính sách phát triển rừng sản xuất tại Hà Quảng

Dưới đây là các meta tag cho bài viết: { "ai_description": "Phát triển rừng sản xuất trên địa bàn huyện Hà Quảng tỉnh Cao Bằng là một trong những giải pháp

Trường đại học

Học viện Khoa học Xã hội

Chuyên ngành

Chính sách công

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận văn thạc sĩ

2021

73
0
0

Phí lưu trữ

30 Point

Tóm tắt

I. Tổng quan về chính sách phát triển rừng sản xuất huyện Hà Quảng

Rừng sản xuất đóng vai trò quan trọng trong phát triển kinh tế - xã hội, bảo vệ môi trường tại huyện Hà Quảng, tỉnh Cao Bằng. Chính sách phát triển rừng sản xuất nhằm nâng cao năng suất, chất lượng rừng, góp phần xóa đói giảm nghèo và đảm bảo an ninh quốc phòng. Huyện Hà Quảng sở hữu diện tích rừng sản xuất lớn, với tiềm năng phát triển kinh tế lâm nghiệp đáng kể. Các chương trình hỗ trợ trồng rừng, khuyến khích đầu tư vào lâm nghiệp đã được triển khai rộng rãi. Tuy nhiên, hiệu quả thực thi chính sách còn hạn chế do thiếu nguồn lực, nhận thức cộng đồng chưa cao. Việc đánh giá thực trạng và đề xuất giải pháp phù hợp là nhu cầu cấp thiết.

1.1. Khái niệm và vai trò của rừng sản xuất

Rừng sản xuất là loại rừng được trồng nhằm mục đích kinh tế, cung cấp gỗ, lâm sản và các sản phẩm từ rừng. Tại huyện Hà Quảng, rừng sản xuất chiếm tỷ trọng lớn, đóng góp quan trọng vào thu nhập của người dân. Loại rừng này không chỉ tạo sinh kế bền vững mà còn góp phần bảo vệ đa dạng sinh học. Theo Quyết định 415/QĐ-UBND tỉnh Cao Bằng, huyện Hà Quảng có 18.290,15 ha rừng sản xuất cần trồng mới. Rừng sản xuất còn hỗ trợ giảm nhẹ thiên tai, ứng phó biến đổi khí hậu thông qua duy trì độ che phủ.

1.2. Bối cảnh thực hiện chính sách lâm nghiệp tại huyện

Huyện Hà Quảng có điều kiện tự nhiên thuận lợi với diện tích rừng lớn, nhưng kinh tế - xã hội còn khó khăn. Chính sách phát triển rừng sản xuất giai đoạn 2016-2020 tập trung vào trồng rừng, hỗ trợ kỹ thuật và vốn. UBND huyện đã ban hành nhiều quyết định nhằm thúc đẩy lâm nghiệp, như Quyết định 886/QĐ-TTg về Chương trình mục tiêu phát triển Lâm nghiệp bền vững. Tuy nhiên, tiến độ triển khai còn chậm do thiếu vốn, cơ sở hạ tầng yếu kém. Cộng đồng địa phương chưa nhận thức đầy đủ về lợi ích lâu dài của rừng sản xuất.

II. Thực trạng triển khai chính sách phát triển rừng sản xuất

Chính sách phát triển rừng sản xuất tại huyện Hà Quảng giai đoạn 2016-2020 gặp nhiều khó khăn. Diện tích rừng trồng đạt 14.000 ha, thấp hơn mục tiêu đề ra. Chi phí hỗ trợ trồng rừng dao động từ 14.000-127.000 đồng/ha, nhưng tiến độ giải ngân chậm. Năm 2020, chỉ 60% diện tích trồng rừng hoàn thành do thiếu vốn và lao động. Hiệu quả kinh tế từ rừng sản xuất chưa cao do sản phẩm thô, chưa qua chế biến. Chưa có mô hình liên kết giữa doanh nghiệp và người dân hiệu quả. Mặt khác, công tác quản lý rừng còn lỏng lẻo, tình trạng phá rừng trái phép vẫn xảy ra.

2.1. Hiện trạng nguồn lực và cơ sở hạ tầng

Nguồn vốn đầu tư cho rừng sản xuất chủ yếu từ ngân sách tỉnh, nhưng phân bổ không đều. Năm 2017-2020, chi phí trồng rừng chỉ đạt 27.000-127.000 đồng/ha, thấp hơn so với nhu cầu thực tế. Cơ sở hạ tầng phục vụ lâm nghiệp như đường lâm nghiệp, nhà kho còn thiếu thốn. Đội ngũ cán bộ quản lý lâm nghiệp thiếu kinh nghiệm, đào tạo chưa chuyên sâu. Hệ thống thông tin quản lý rừng chưa được số hóa, dẫn đến khó khăn trong giám sát. Người dân thiếu vốn đầu tư vào trồng rừng dài hạn.

2.2. Kết quả đạt được và tồn tại

Từ năm 2016-2020, huyện Hà Quảng trồng mới 14.000 ha rừng sản xuất, đạt 70% kế hoạch. Diện tích rừng phòng hộ tăng 5.000 ha, góp phần nâng độ che phủ lên 45%. Một số mô hình trồng rừng hỗn giao gỗ-lâm sản đạt hiệu quả kinh tế cao. Tuy nhiên, sản phẩm từ rừng chủ yếu xuất thô, giá trị gia tăng thấp. Tình trạng phá rừng trái phép vẫn diễn ra tại các xã biên giới. Người dân chưa nhận thức đầy đủ về vai trò của rừng sản xuất trong sinh kế bền vững. Chưa có chính sách khuyến khích chế biến lâm sản tại chỗ.

III. Giải pháp nâng cao hiệu quả chính sách rừng sản xuất

Để nâng cao hiệu quả chính sách phát triển rừng sản xuất tại huyện Hà Quảng, cần áp dụng đồng bộ các giải pháp. Trước hết, tăng cường huy động vốn từ các nguồn, bao gồm ngân sách nhà nước, doanh nghiệp và cộng đồng. Xây dựng mô hình liên kết sản xuất theo chuỗi giá trị, từ trồng rừng đến chế biến, tiêu thụ. Đào tạo nâng cao năng lực cho cán bộ quản lý lâm nghiệp và người dân. Áp dụng công nghệ tiên tiến trong trồng, chăm sóc rừng. Tăng cường kiểm tra, xử lý vi phạm pháp luật về lâm nghiệp. Đẩy mạnh tuyên truyền về lợi ích kinh tế và môi trường của rừng sản xuất.

3.1. Giải pháp về tài chính và cơ sở hạ tầng

Cần đa dạng hóa nguồn vốn đầu tư cho rừng sản xuất, bao gồm vốn ODA, doanh nghiệp tư nhân và hợp tác xã. Xây dựng hệ thống đường lâm nghiệp kết nối các vùng trồng rừng. Đầu tư hệ thống kho bãi, nhà máy chế biến lâm sản tại chỗ. Áp dụng chính sách tín dụng ưu đãi cho người dân trồng rừng dài hạn. Tăng ngân sách hỗ trợ trồng rừng lên 200.000 đồng/ha/năm. Thực hiện cơ chế chia sẻ lợi nhuận giữa doanh nghiệp và người dân tham gia trồng rừng.

3.2. Giải pháp về quản lý và cộng đồng

Thành lập các hợp tác xã lâm nghiệp theo mô hình HTX kiểu mới. Đào tạo cán bộ quản lý lâm nghiệp về kỹ thuật trồng rừng, quản lý rừng bền vững. Triển khai phần mềm quản lý rừng số hóa để giám sát diện tích, tiến độ. Tăng cường công tác tuyên truyền, giáo dục pháp luật lâm nghiệp. Thành lập các tổ bảo vệ rừng cộng đồng. Áp dụng cơ chế thưởng phạt rõ ràng trong quản lý rừng. Xây dựng chính sách hỗ trợ người dân chuyển đổi từ trồng rừng tự phát sang sản xuất hàng hóa.

IV. Kết luận và khuyến nghị chính sách rừng sản xuất

Chính sách phát triển rừng sản xuất tại huyện Hà Quảng giai đoạn 2016-2020 đạt được những kết quả nhất định nhưng còn nhiều hạn chế. Diện tích rừng trồng tăng nhưng hiệu quả kinh tế chưa cao do sản phẩm thô, thiếu chế biến. Nguồn lực đầu tư còn thiếu, cơ sở hạ tầng yếu kém. Giải pháp tổng thể cần tập trung vào huy động vốn, nâng cao năng lực quản lý, và thúc đẩy liên kết sản xuất. Áp dụng công nghệ tiên tiến, tăng cường đào tạo, và hoàn thiện chính sách khuyến khích. Cần sự chung tay của chính quyền, doanh nghiệp và cộng đồng. Việc triển khai đồng bộ các giải pháp sẽ góp phần nâng cao hiệu quả kinh tế, xã hội và môi trường của rừng sản xuất.

4.1. Đánh giá hiệu quả thực thi chính sách

Chính sách phát triển rừng sản xuất đã góp phần nâng cao độ che phủ rừng tại huyện Hà Quảng lên 45%. Diện tích rừng sản xuất tăng 14.000 ha, tạo việc làm cho hàng nghìn lao động. Tuy nhiên, hiệu quả kinh tế chưa tương xứng do sản phẩm chủ yếu xuất thô. Tình trạng phá rừng trái phép vẫn diễn ra. Chưa có mô hình liên kết sản xuất bền vững giữa doanh nghiệp và người dân. Chi phí hỗ trợ trồng rừng còn thấp, chưa đủ hấp dẫn người dân tham gia.

4.2. Khuyến nghị cho giai đoạn 2021 2025

Đề nghị tăng ngân sách hỗ trợ trồng rừng lên 300.000 đồng/ha/năm. Xây dựng nhà máy chế biến gỗ tại huyện để tăng giá trị gia tăng. Thành lập quỹ bảo vệ rừng từ nguồn thu từ lâm sản. Áp dụng cơ chế chia sẻ lợi nhuận giữa doanh nghiệp và cộng đồng 30:70. Tăng cường đào tạo cán bộ quản lý lâm nghiệp về kỹ thuật trồng rừng tiên tiến. Triển khai chính sách khuyến khích doanh nghiệp đầu tư vào chế biến lâm sản tại huyện. Xây dựng hệ thống giám sát rừng bằng công nghệ viễn thám.

Tóm tắt và mô tả trên trang này được tạo với sự hỗ trợ của AI. Nếu bạn thấy nội dung không chính xác hoặc có vấn đề, vui lòng Báo lỗi nội dung.

24/05/2026
Luận văn thực hiện chính sách phát triển rừng sản xuất trên địa bàn huyện hà quảng tỉnh cao bằng

Trích đoạn nội dung tài liệu

chương 1, đã nêu các khái niệm về rừng sản xuất, chính sách phát triển rừng sản xuất và thực hiện chính sách phát triển rừng sản xuất; nội dung thực hiện chính sách phát triển rừng sản xuất theo Nghị định 75/2015/NĐ-CP về cơ chế, chính sách bảo vệ và phát triển rừng gắn với chính sách giảm nghèo nhanh, bền vững và hỗ trợ đồng bào dân tộc thiểu số giai đoạn 2015 – 2020; Quyết định số 886/QĐ - TTg, ngày 16 tháng 6 năm 2017 của Thủ tướng Chính phủ về Phê duyệt Chương trình mục tiêu phát triển Lâm nghiệp bền vững giai đoạn 2016 – 2020; các bước tổ chức thực hiện chính sách phát triển rừng sản xuất; các yếu tố ảnh hưởng đến thực hiện chính sách phát triển rừng sản xuất; Kinh nghiệm một số địa phương thực hiện chính sách phát triển rừng sản xuất. 14 Chương 2 THỰC TRẠNG THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH PHÁT TRIỂN RỪNG SẢN XUẤT TẠI HUYỆN HÀ QUẢNG, TỈNH CAO BẰNG 2. Khái quát về đặc điểm tự nhiên, kinh tế - xã hội huyện Hà Quảng 2. Vị trí địa lý, đặc điểm tự nhiên Hà Quảng là huyện miền núi nằm ở phía Bắc tỉnh Cao Bằng, cách trung tâm tỉnh Cao Bằng 40 km về hướng bắc; tiếp giáp với các huyện: Hòa An, Trùng Khánh, Nguyên Bình, Bảo Lạc của tỉnh Cao Bằng và huyện Nà Po, huyện Tịnh Tây, tỉnh Quảng Tây, Trung Quốc.Với diện tích tự nhiên 810,9399 km2.

Huyện có 21 đơn vị hành chính, gồm 19 xã và 02 thị trấn, gồm các xã: Ngọc Đào, Sóc Hà, Trường Hà, Quý Quân, Lũng Nặm, Cải Viên, Nội Thôn, Tổng Cọt, Hồng Sỹ, Mã Ba, Thượng Thôn, thị trấn Xuân Hòa, Thanh Long, Cần Yên, thị trấn Thông Nông, Lương Can, Cần Nông, Yên Sơn, Ngọc Động, Đa Thông, Lương Thông. Huyện Hà Quảng có 8 xã biên giới giáp biên với Trung Quốc, với tổng chiều dài đường biên giới là 74,871 km, bao gồm các xã: Sóc Hà, Trường Hà, Lũng Nặm, Cải Viên, Nội Thôn, Tổng Cọt, Cần Nông, Cần Yên. Huyện có cửa khẩu Sóc Giang (thuộc xã Sóc Hà) và nhiều đường mòn dân sinh. Huyện Hà Quảng có địa hình phức tạp do kiến tạo địa chất, do đó Huyện phân thành nhiều vùng khác nhau: - Tiểu vùng thấp: Đây là tiểu vùng có các thung lũng tương đối bằng phẳng, đất canh tác chủ yếu là đất trồng lúa, có hệ thống sông suối cơ bản đáp ứng được nhu cầu về nước cho sản xuất và sinh hoạt của nhân dân.

- Tiểu vùng cao: Đây là tiểu vùng hầu như không có sông suối, không đủ nước cho sinh hoạt và sản xuất, đất canh tác chủ yếu là đất trồng hoa màu, kết cấu hạ tầng cũng chưa đáp ứng được nhu cầu đi lại, lưu thông hàng hóa của nhân dân. Dân số huyện Hà Quảng trên 58.087 người, gồm 5 dân tộc Tày, Nùng, Mông, Dao và Kinh. Đặc điểm kinh tế - xã hội 2.1 Về kinh tế - Tốc độ tăng trưởng bình quân giá trị sản xuất giai đoạn 2015 - 2020 là 11,3% vượt chỉ tiêu Đại hội Đảng bộ lần thứ XIX đề ra và hai năm tiếp theo cũng tăng, đạt 109,7 tỷ vào năm 2019. - Trong thời gian vừa qua, an ninh lương thực đã được bảo đảm với bình quân lương thực trên đầu người đạt khoảng 400 kg/người.

Đã có một số loại hàng hoá như đậu tương, lạc, ngô và vật liệu xây dựng xác định được chỗ đứng. - Cơ cấu kinh tế chuyển dịch theo hướng tăng dần tỷ trọng Công nghiệp - Tiểu thủ công nghiệp - Xây dựng, Thương mại - Du lịch và giảm dần tỷ trọng Nông nghiệp. - Tốc độ tăng trưởng giá trị sản xuất (GTSX) ngành nông lâm nghiệp giai đoạn 2015 – 2020 tăng bình quân đạt khoảng 2,0% và năm 2016, năm 2017 vẫn có xu thế tăng lên (3,0%). GTSX 2015 đạt 36,5 tỷ đồng tăng lên 70,6 triệu đồng vào 2019, tăng không đều.

- Năng suất lao động ngành nông nghiệp vẫn thấp nhất trong 3 khối ngành (Nông nghiệp, Công nghiệp – Xây dựng và Dịch vụ). Năng suất lao động đạt 3,6 triệu đồng năm 2016, tăng lên tới 6,3 triệu động vào năm 2019 và bằng 5,8 triệu đồng năm 2017. Trong cơ cấu nông nghiệp, trồng trọt giữ vai trò chính, sau đó là chăn nuôi và dịch vụ. + Về trồng trọt: giai đoạn 2016 – 2019, diện tích canh tác tăng lên liên tục, kéo theo sản lượng lương thực cũng tăng từ 9.

Ngoài ra, đậu tương và lạc có sản lượng tăng khá mạnh. + Về chăn nuôi: Vật nuôi chính trong giai đoạn vừa qua là trâu tăng 3%, bò tăng 7%, lợn và các loại gia cầm với mức tăng bình quân giai đoạn này là 6% đến 10%, tuy nhiên huyện chưa phát huy được thế mạnh chăn nuôi đại gia súc. 16 + Lâm nghiệp: Xây dựng rừng chiếm 30% trong tổng số; Khai thác - chế biến lâm sản tăng lên khoảng 65%; Dịch vụ chiếm khiêm tốn (5%). Đã giao đất giao rừng cho người dân; mở rộng diện tích khoanh nuôi bảo vệ rừng, trồng rừng phủ xanh đất trống đồi núi trọc góp phần tái tạo, khôi phục tài nguyên rừng.

Người dân đã nhận thức được hiệu quả của việc trồng rừng kinh tế nên tự giác tham gia và đầu tư vào rừng trồng. -Công nghiệp - Tiểu thủ công nghiệp, Thương mại - Dịch vụ có chuyển biến tiến bộ. Giá trị sản xuất kinh doanh ngày càng cao. - Khoa học, công nghệ từng bước được áp dụng rộng rãi vào quá trình phát triển kinh tế đặc biệt là trong sản xuất nông lâm nghiệp.

Các loại giống mới, các tiến bộ khoa học kỹ thuật đã được áp dụng vào sản xuất góp phần quan trọng tăng năng suất cây trồng vật nuôi. Văn hoá - xã hội - Dân số, lao động và nguồn nhân lực Giai đoạn 2016 - 2019, tỷ lệ tăng dân số tự nhiên bình quân ở xu thế giảm dần, duy trì khoảng 1,0%/năm trong đó tỷ lệ sinh giảm, xấp xỉ 0,8% và dân số cấu trúc trẻ. Dân tộc ít người chiếm trên 96% trong đó chủ yếu là người Dao, người Mông người Nùng, người Tày và mật độ dân số là 65 người/1 km2. Huyện có nguồn nhân lực khá nhưng chất lượng còn khiêm tốn với mức tăng 21,%/năm trong giai đoạn 2016-2019.564 người và chiếm đến khoảng 50% lực lượng là trẻ với 85% là lao động nông nghiệp.

Số lao động đó qua đào tạo đạt khoảng 15%, chủ yếu dưới hình thức lớp ngắn ngày nên tay nghề thấp, tập trung vào một số nghề như: nông nghiệp, mộc, nề, cơ khí v. - Giáo dục - Đào tạo: Có bước tiến bộ, đặc biệt đối với vùng sâu, vùng xa từ cơ sở trường lớp (trên 70% được kiên cố hoá) đến trang thiết bị phục vụ giảng dạy nên chất lượng giáo dục - đào tạo được nâng lên. 17 - Y tế: Công tác khám chữa bệnh cho nhân dân cơ bản đảm bảo, y tế dự phòng được coi trọng nên không xảy ra dịch lớn và tỷ lệ trẻ em suy dinh dưỡng có tiến bộ nhanh (20,5%). - Văn hoá, thông tin, thể dục, thể thao: 100% xã, thị trấn triển khai thực hiện nghị quyết TW 5 khoá VIII về cuộc vận động “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hoá ở khu dân cư” nên có đến trên 50% bản làng đạt tiêu chuẩn văn hoá.

Phong trào thể dục, thể thao có tiến bộ, ngày càng mở rộng ra cả các địa bàn với môn cầu lông, bóng chuyền, bóng đá và một số môn thể thao khác nên sức khoẻ và đời sống tinh thần nhân dân có nhiều thay đổi. - Tình hình xoá đói, giảm nghèo: Các chương trình, dự án đã và đang triển khai trong huyện để xoá đói, giảm nghèo là 135, 134 và 120, 661, Nghị quyết 30a Bên cạnh đó còn có chương trình/dự án quốc tế với tổ chức phi chính phủ (NGO), Cộng đồng Châu Âu. Tuy nhiên, tỷ lệ hộ nghèo vẫn còn khá cao (57,62% năm 2019), và là 1 trong các huyện nghèo, cần được quan tâm đặc biệt. Thực trạng kết cấu hạ tầng - Giao thông: Có đường Hồ chí Minh chạy đến KM0 Pác Bó, xã Trường Hà dài 62 km; có đường tỉnh lộ 204 kéo dài đã được tu sửa, chạy từ trung tâm thị xã đến trung tâm thị trấn Thôn Nông (50 km) và tuyến giao thông liên huyện, tạo điều kiện trao đổi hàng hoá, đi lại cho nhân dân và phục vụ quốc phòng, an ninh.

- Hệ thống cấp điện và cấp thoát nước: Đến nay tất cả các xã, thị trấn đã được dùng điện lưới quốc gia với gần 86% hộ gia đình được sử dụng điện nhưng chất lượng còn thấp. Đa số các hộ gia đình trong huyện sử dụng nguồn nước tự chảy, tỷ lệ hộ gia đình được dùng nước hợp vệ sinh đạt gần 60%. Việc cung cấp nước sạch cho các gia đình, đặc biệt là bà con sinh sống tại các xã vùng rẻo cao, vùng lưng chừng núi còn nhiều khó khăn, đặc biệt là vùng lục khu hoàn toàn tích nước mưa để sử dụng. 18 - Hệ thống thông tin liên lạc: Ngành bưu chính viễn thông đã có sự tiến bộ đáng kể, tạo nên đổi mới trong trao đổi thông tin, đặc biệt là xây dựng hệ thống hạ tầng viễn thông nên thông tin bằng điện thoại di động có bước tiến vượt bậc.

Các xã đã xây dựng và đưa vào hoạt động nhà văn hoá bưu điện, tạo điều kiện thuận lợi trong phát triển sản xuất và nâng cao đời sống cho nhân dân. - Hệ thống thuỷ lợi: Huyện có hệ thống thuỷ lợi được tăng cường, diện tích chủ động tưới lên tới gần 50% diện tích, tạo ra bước tiến trong sản xuất lương thực; Hệ thống kênh mương một số đã được củng cố và kiên cố hoá tuy nhiên địa bàn rộng và địa hình khó khăn nên còn nhiều hạn chế. Về môi trường Do nằm ở vùng cao, dân số thưa thớt và sản xuất chưa phát triển nên môi trường sinh thái còn trong lành. Tuy nhiên hiện tại vẫn cần quan tâm tới ô nhiễm môi trường, đặc biệt ở thị trấn Thông Nông, thị trấn Xuân Hòa (chợ, bệnh viện đa khoa v.v) và điểm khai thác mỏ v.

Là huyện thuần nông nền cần chú ý đến môi trường đất, nước do sử dụng hoá chất phục vụ sản xuất nông nghiệp. Do nằm ở vùng cao, có độ dốc lớn nên chú trọng công tác kiểm soát xói mòn, rửa trôi và sụt lở của đất. Quốc phòng an ninh và trật tự xã hội Huyện làm tốt công tác quốc phòng toàn dân, bảo đảm an ninh, phục vụ tốt công tác phòng thủ đất nước, đặc biệt đối với vùng biên giới. Do công tác giữ gìn trật tự, an toàn xã hội trên địa bàn được quan tâm, chú trọng vùng biên giới, vùng cao nên tạo điều kiện ổn định phát triển KT - XH.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ