Luận văn thạc sĩ chính sách phát triển hợp tác xã nông nghiệp tại Cao Bằng

Dưới đây là meta tags cho bài viết "Luận văn thực hiện chính sách phát triển hợp tác xã nông nghiệp tại tỉnh cao bằng": { "ai_description": "Phát triển hợp

Trường đại học

Học viện Khoa học Xã hội

Chuyên ngành

Chính sách công

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận văn thạc sĩ

2021

97
0
0

Phí lưu trữ

35 Point

Tóm tắt

I. Tổng quan về chính sách phát triển hợp tác xã nông nghiệp tại Cao Bằng

Hợp tác xã nông nghiệp (HTXNN) là mô hình kinh tế tập thể quan trọng trong phát triển nông nghiệp bền vững. Tại Cao Bằng, chính sách phát triển HTXNN nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh, thúc đẩy liên kết sản xuất, tiêu thụ nông sản. Luận văn đánh giá hiệu quả triển khai chính sách giai đoạn 2018-2020, tập trung vào hỗ trợ hạ tầng, tín dụng, đào tạo và xúc tiến thương mại. Các HTXNN trên địa bàn góp phần ổn định sản xuất, cải thiện đời sống nông dân. Chính quyền tỉnh phối hợp với các sở ngành triển khai chương trình hỗ trợ như Chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới. Tuy nhiên, mô hình còn gặp hạn chế về quy mô nhỏ, năng lực quản trị yếu. Bài viết phân tích bối cảnh, vai trò của HTXNN trong phát triển nông nghiệp Cao Bằng.

1.1. Khái niệm và vai trò của HTXNN

HTXNN là tổ chức kinh tế tập thể do nông dân tự nguyện tham gia, cùng sở hữu, cùng quản lý và cùng hưởng lợi. Tại Cao Bằng, HTXNN đóng vai trò quan trọng trong chuyển đổi cơ cấu nông nghiệp, nâng cao thu nhập cho người dân. Mô hình giúp nông dân liên kết sản xuất, ứng dụng khoa học kỹ thuật, tiếp cận thị trường. HTXNN còn góp phần xóa đói giảm nghèo, ổn định an ninh nông thôn. Theo Luật Hợp tác xã 2012, HTXNN được hưởng ưu đãi về thuế, tín dụng và hỗ trợ đào tạo. Tại Cao Bằng, HTXNN phát triển chủ yếu trong lĩnh vực trồng trọt, chăn nuôi và chế biến nông sản.

1.2. Bối cảnh phát triển HTXNN tại Cao Bằng

Cao Bằng có điều kiện tự nhiên khắc nghiệt, diện tích đất nông nghiệp hạn chế. Dân cư phân bố không đều, trình độ sản xuất còn thấp. Năm 2020, toàn tỉnh có 185 HTXNN, chủ yếu quy mô nhỏ. Chính sách phát triển HTXNN giai đoạn 2018-2020 tập trung vào hỗ trợ hạ tầng, tín dụng và đào tạo. Tuy nhiên, tiến độ triển khai chậm do thiếu vốn, năng lực quản trị yếu. Tỉnh đã ban hành nhiều quyết định hỗ trợ HTXNN, nhưng hiệu quả chưa cao. Kinh nghiệm từ các địa phương khác cho thấy cần nâng cao vai trò của Liên minh HTX tỉnh trong hỗ trợ HTXNN.

II. Phân tích thực trạng triển khai chính sách phát triển HTXNN tại Cao Bằng

Chính sách phát triển HTXNN tại Cao Bằng giai đoạn 2018-2020 đạt được một số kết quả nhất định. Số lượng HTXNN tăng từ 150 lên 185 đơn vị. Nguồn vốn hỗ trợ từ Chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới đạt 50 tỷ đồng. Tuy nhiên, hiệu quả hoạt động của HTXNN vẫn còn hạn chế. Nhiều HTXNN hoạt động cầm chừng, thiếu bền vững. Nguyên nhân do năng lực quản trị yếu, thiếu vốn, thị trường tiêu thụ không ổn định. Sự tham gia của người dân còn thụ động, thiếu cam kết lâu dài. Hợp tác quốc tế trong lĩnh vực HTXNN còn hạn chế, chủ yếu tập trung vào đào tạo và trao đổi kinh nghiệm.

2.1. Đánh giá kết quả đạt được

Từ 2018-2020, Cao Bằng đã thành lập thêm 35 HTXNN mới, nâng tổng số lên 185 đơn vị. Nguồn vốn hỗ trợ hạ tầng đạt 50 tỷ đồng thông qua Chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới. Số HTXNN được hỗ trợ tín dụng đạt 120 đơn vị, với tổng dư nợ 30 tỷ đồng. Hoạt động đào tạo đã nâng cao nhận thức cho 5.000 lượt cán bộ và nông dân. Một số HTXNN đã liên kết tiêu thụ sản phẩm như chè, cam, dược liệu. Chính sách hỗ trợ đầu tư hạ tầng đã cải thiện điều kiện sản xuất tại một số địa phương.

2.2. Những hạn chế và nguyên nhân

Hiệu quả hoạt động của HTXNN còn thấp do quy mô nhỏ, năng lực quản trị yếu. Nhiều HTXNN hoạt động cầm chừng, thiếu bền vững. Nguyên nhân do thiếu vốn, thị trường tiêu thụ không ổn định. Sự tham gia của người dân còn thụ động, thiếu cam kết lâu dài. Hợp tác quốc tế trong lĩnh vực HTXNN còn hạn chế, chủ yếu tập trung vào đào tạo. Cơ chế phối hợp giữa các sở ngành chưa chặt chẽ, dẫn đến chồng chéo trong triển khai chính sách.

III. Giải pháp nâng cao hiệu quả chính sách phát triển HTXNN tại Cao Bằng

Để nâng cao hiệu quả chính sách phát triển HTXNN tại Cao Bằng, cần tăng cường hỗ trợ tài chính, nâng cao năng lực quản trị và mở rộng thị trường tiêu thụ. Tỉnh cần tập trung vào đào tạo cán bộ quản lý HTXNN, nâng cao năng lực cạnh tranh cho sản phẩm nông nghiệp. Giải pháp quan trọng là cải thiện hạ tầng sản xuất, hỗ trợ ứng dụng công nghệ cao. Cần tăng cường liên kết giữa HTXNN với doanh nghiệp, hợp tác xã khác và thị trường tiêu thụ. Ngoài ra, tỉnh cần hoàn thiện cơ chế phối hợp giữa các sở ngành, nâng cao vai trò giám sát của người dân. Giải pháp cụ thể bao gồm tăng ngân sách hỗ trợ, đơn giản hóa thủ tục vay vốn, và đẩy mạnh xúc tiến thương mại.

3.1. Giải pháp tài chính và hạ tầng

Tăng ngân sách hỗ trợ HTXNN từ ngân sách tỉnh và huy động nguồn lực xã hội. Tập trung vốn vào hạ tầng sản xuất như hệ thống tưới tiêu, kho bãi, nhà xưởng chế biến. Đơn giản hóa thủ tục vay vốn, giảm lãi suất cho HTXNN. Khuyến khích ngân hàng thương mại tăng cường tín dụng cho HTXNN. Hỗ trợ xây dựng cơ sở vật chất cho HTXNN như nhà kho, hệ thống điện, đường giao thông. Tăng cường nguồn vốn từ Chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới.

3.2. Giải pháp nâng cao năng lực quản trị

Tổ chức đào tạo, tập huấn nâng cao năng lực quản trị cho cán bộ HTXNN. Hướng dẫn HTXNN áp dụng tiêu chuẩn quản lý chất lượng, kế toán minh bạch. Khuyến khích HTXNN liên kết với doanh nghiệp, hợp tác xã khác để nâng cao sức cạnh tranh. Đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin trong quản lý HTXNN. Nâng cao vai trò giám sát của người dân đối với hoạt động của HTXNN. Tăng cường hợp tác quốc tế trong lĩnh vực đào tạo và trao đổi kinh nghiệm.

IV. Kết luận và khuyến nghị triển khai chính sách HTXNN tại Cao Bằng

Chính sách phát triển HTXNN tại Cao Bằng giai đoạn 2018-2020 đạt được một số kết quả nhất định nhưng vẫn còn nhiều hạn chế. Để nâng cao hiệu quả, tỉnh cần tập trung vào giải pháp tài chính, hạ tầng và nâng cao năng lực quản trị. Cần tăng cường sự tham gia của người dân, cải thiện cơ chế phối hợp giữa các sở ngành. Giải pháp quan trọng là đẩy mạnh liên kết sản xuất, tiêu thụ nông sản. Tỉnh cần hoàn thiện cơ chế giám sát, đánh giá hiệu quả chính sách. Kết quả nghiên cứu có thể áp dụng cho các tỉnh có điều kiện tương tự. Những giải pháp đề xuất sẽ góp phần thúc đẩy phát triển HTXNN bền vững tại Cao Bằng.

4.1. Kết luận nghiên cứu

Chính sách phát triển HTXNN tại Cao Bằng giai đoạn 2018-2020 đã đạt được một số kết quả nhất định. Số lượng HTXNN tăng, nguồn vốn hỗ trợ đạt 50 tỷ đồng. Tuy nhiên, hiệu quả hoạt động của HTXNN còn thấp do quy mô nhỏ, năng lực quản trị yếu. Nguyên nhân do thiếu vốn, thị trường tiêu thụ không ổn định. Sự tham gia của người dân còn thụ động. Hợp tác quốc tế trong lĩnh vực HTXNN còn hạn chế.

4.2. Khuyến nghị chính sách

Tăng ngân sách hỗ trợ HTXNN, tập trung vào hạ tầng sản xuất và tín dụng. Nâng cao năng lực quản trị cho cán bộ HTXNN thông qua đào tạo. Đẩy mạnh liên kết giữa HTXNN với doanh nghiệp, hợp tác xã khác. Hoàn thiện cơ chế phối hợp giữa các sở ngành, nâng cao vai trò giám sát của người dân. Đẩy mạnh xúc tiến thương mại, mở rộng thị trường tiêu thụ nông sản.

Tóm tắt và mô tả trên trang này được tạo với sự hỗ trợ của AI. Nếu bạn thấy nội dung không chính xác hoặc có vấn đề, vui lòng Báo lỗi nội dung.

24/05/2026
Luận văn thực hiện chính sách phát triển hợp tác xã nông nghiệp tại tỉnh cao bằng

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH PHÁT TRIỂN HỢP TÁC XÃ NÔNG NGHIỆP TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH 1. Khái niệm về hợp tác xã, hợp tác xã nông nghiệp 1. Khái niệm hợp tác xã, hợp tác xã nông nghiệp, phân loại hợp tác xã nông nghiệp 1. Khái niệm hợp tác xã: Trên thế giới, HTX được hình thành đầu tiên và sớm nhất vào năm 1761 tại Vương quốc Anh, sau đó phát triển ra ở rộng khắp toàn cầu.

Số lượng người tham gia vào các HTX ngày càng đông, tổ chức ngày được hoàn thiện và củng cố mở rộng phạm vi hoạt động trên toàn thế giới. Ở mỗi quốc gia, ở từng thời điểm, tùy từng điều kiện, hoàn cảnh ra đời và phát triển của các HTX rất khác nhau, nhưng điểm giống nhau chính là sự tuân thủ về mặt bản chất, mục tiêu và nguyên tắc tổ chức hoạt động của mình. Hiện nay, rất nhiều nước đã và đang có hệ thống tổ chức HTX từ trung ương đến địa phương. Liên minh Hợp tác xã Quốc tế (ICA-International Cooperative Alliance) là tổ chức cao nhất của phong trào hợp tác xã thế giới.

Tổ chức này được thành lập từ năm 1895 tại Luân Đôn (Anh), trụ sở của ICA tại Geneve (Thụy Sĩ). Ngày 23 tháng 9 năm 1945, Đại hội liên minh hợp tác xã quốc tế (ICA) lần thứ 31 tổ chức tại Manchester - Vương quốc Anh đã định nghĩa về hợp tác xã như sau: "Hợp tác xã là hiệp hội hay là tổ chức tự chủ của cá nhân liên kết với nhau một cách tự nguyện nhằm đáp ứng các nhu cầu và nguyện vọng chung về kinh tế, xã hội và văn hóa thông qua một tổ chức kinh tế cùng nhau làm chủ chung và kiểm tra dân chủ". Chủ tịch Hồ Chí Minh là người đầu tiên đưa tư tưởng hợp tác xã vào Việt Nam. Ngay sau Cách mạng Tháng 8 thành công năm 1945, ngày 11/4/1946, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã có thư kêu gọi điền chủ, nông gia Việt Nam tham gia hợp tác xã nông nghiệp.

7 Luật hợp tác xã năm 1996 định nghĩa về hợp tác xã như sau: "Hợp tác xã là tổ chức kinh tế tự chủ do những người lao động có nhu cầu, lợi ích chung, tự nguyện cùng góp vốn, góp sức lập ra theo quy định của pháp luật để phát huy sức mạnh của tập thể và của từng xã viên nhằm giúp nhau thực hiện có hiệu quả hơn các hoạt động sản xuất, kinh doanh, dịch vụ và cải thiện đời sống, góp phần phát triển kinh tế - xã hội của đất nước”[37, Điều 1]. Luật hợp tác xã năm 2003 đã kế thừa quy định của Luật hợp tác xã năm 1996, tiếp tục khẳng định vai trò của kinh tế hợp tác xã, là một tổ chức kinh tế mang tính cộng đồng và xã hội sâu sắc. Việc thành lập nên HTX dựa trên nhu cầu, lợi ích chung của các thành viên nhằm phát huy sức mạnh tập thể, cùng giúp nhau trong hoạt động sản xuất, kinh doanh, nâng cao đời sống vật chất cho xã viên và góp phần phát triển kinh tế - xã hội đất nước. Tuy nhiên, so với Luật hợp tác xã năm 1996, thì ở Luật hợp tác xã năm 2003 đã mở rộng hơn về đối tượng tham gia HTX đó là cá nhân, hộ gia đình, pháp nhân và được coi như một loại hình doanh nghiệp, có tư cách pháp nhân, tự chủ, tự chịu trách nhiệm về các nghĩa vụ tài chính trong phạm vi vốn điều lệ, vốn tích luỹ và các nguồn vốn khác của HTX theo quy định của pháp luật.

Điều này cũng tạo điều kiện cho kinh tế hợp tác xã phát triển về số lượng và mở rộng thêm nguồn vốn đầu tư, tham gia vào HTX. Theo Luật hợp tác xã số 2012 được Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam thông qua, HTX được định nghĩa như sau: “Hợp tác xã là tổ chức kinh tế tập thể, đồng sở hữu, có tư cách pháp nhân, do ít nhất 07 thành viên tự nguyện thành lập và hợp tác tương trợ lẫn nhau trong hoạt động sản xuất, kinh doanh, tạo việc làm nhằm đáp ứng nhu cầu chung của thành viên, trên cơ sở tự chịu trách nhiệm, bình đẳng và dân chủ trong quản lý Hợp tác xã” [39, Điều 3]. Khái niệm Hợp tác xã nông nghiệp: Theo chủ tịch Hồ chí Minh: “Hợp tác xã nông nghiệp là một tổ chức có lợi to cho nhà nông. Nó là cách tranh đấu kinh tế có hiệu quả nhất, để giúp vào việc xây dựng nước nhà.

Hợp tác xã nông nghiệp là một cách làm cho 8 nhà nông đoàn kết, làm cho nhà nông thịnh vượng. Hợp tác xã nông nghiệp giúp cho nhà nông đạt đến mục đích, đã ích quốc lại lợi dân”[39]. Luật hợp tác xã 2012 đã khẳng định rõ khái niệm HTX, qua đó có thể hiểu “Hợp tác xã nông nghiệp là tổ chức kinh tế tập thể, đồng sở hữu, có tư cách pháp nhân, do ít nhất 07 thành viên tự nguyện thành lập và hợp tác tương trợ lẫn nhau trong hoạt động sản xuất, kinh doanh, tạo việc làm nhằm đáp ứng nhu cầu chung của thành viên, trên cơ sở tự chủ, tự chịu trách nhiệm, bình đẳng và dân chủ trong quản lý hợp tác xã”. Từ những khái niệm về HTX nêu trên, trong quá trình nghiên cứu và làm việc tại khu vực kinh tế tập thể tỉnh Cao Bằng, cá nhân tôi nhận thấy “Hợp tác xã nông nghiệp là tổ chức kinh tế tập thể, đồng sở hữu, có tư cách pháp nhân, do ít nhất 07 thành viên tự nguyện thành lập và hợp tác tương trợ lẫn nhau trong hoạt động sản xuất, kinh doanh các sản phẩm nông nghiệp hoặc tạo việc làm trong lĩnh vực nông nghiệp nhằm đáp ứng nhu cầu chung về dịch vụ đầu vào, dịch vụ đầu ra của thành viên, trên cơ sở tự chủ, tự chịu trách nhiệm, bình đẳng và dân chủ trong quản lý hợp tác xã nông nghiệp”.

Phân loại hợp tác xã nông nghiệp: Căn cứ Nghị định 15/2017/NĐ-CP ngày 17 tháng 2 năm 2017, quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Bộ Nông nghiệp và phát triển nông thôn; Thông tư 09/2017/TT-BNNPTNT, ngày 17 tháng 4 năm 2017 của Bộ nông nghiệp và phát triển nông thôn, Thông tư Hướng dẫn phân loại và đánh giá hợp tác xã hoạt động trong lĩnh vực nông nghiệp [12]; Luật số: 23/2012/QH13 (Luật hợp tác xã 2012); Nghị định 193/2013/NĐ-CP ngày 21/11/2013 Quy định một số điều của Luật số: 23/2012/QH13. Các HTX hoạt động theo Luật hợp tác xã 2012 trong lĩnh vực trồng trọt, chăn nuôi, lâm nghiệp, ngư nghiệp, diêm nghiệp và các dịch vụ liên quan. Các hợp tác xã nông nghiệp được phân loại như sau: - Hợp tác xã trồng trọt: là HTX có hoạt động sản xuất trồng trọt (trồng cây hàng năm, cây lâu năm; nhân và chăm sóc cây giống nông nghiệp) và dịch vụ trồng trọt có liên quan; dịch vụ sau thu hoạch; xử lý hạt giống để nhân giống. 9 - Hợp tác xã chăn nuôi: là HTX có hoạt động sản xuất chăn nuôi (trâu, bò, ngựa, lừa, la, dê, cừu, lợn, gia cầm và chăn nuôi khác); dịch vụ chăn nuôi có liên quan; săn bắt, đánh bẫy và hoạt động dịch vụ có liên quan.

- Hợp tác xã lâm nghiệp: là HTX có hoạt động sản xuất lâm nghiệp (trồng và chăm sóc rừng; khai thác gỗ và lâm sản khác; thu nhặt sản phẩm từ rừng không phải gỗ và lâm sản khác) và dịch vụ lâm nghiệp có liên quan. - Hợp tác xã thủy sản: là HTX có hoạt động nuôi trồng thuỷ sản (nuôi trồng thuỷ sản biển, nội địa; sản xuất giống thuỷ sản); khai thác thủy sản (khai thác thủy sản biển và nội địa, bao gồm cả bảo quản thuỷ sản ngay trên tàu đánh cá). - Hợp tác xã diêm nghiệp: là HTX có hoạt động khai thác muối (khai thác muối mỏ, đập vụn muối và sàng muối; sản xuất muối từ nước biển, nước mặn ở hồ hoặc nước mặn tự nhiên khác; nghiền, tẩy rửa, và tinh chế muối phục vụ cho sản xuất) và dịch vụ có liên quan đến phục vụ khai thác muối. - Hợp tác xã nước sạch nông thôn: là HTX có hoạt động khai thác, xử lý và cung cấp nước sạch (khai thác nước từ sông, hồ, ao; thu nước mưa; thanh lọc nước để cung cấp; khử muối của nước biển để sản xuất nước như là sản phẩm chính; phân phối nước thông qua đường ống, bằng xe hoặc các phương tiện khác) cho nhu cầu sinh hoạt trên địa bàn nông thôn.

- Hợp tác xã nông nghiệp tổng hợp: là HTX có hoạt động từ hai lĩnh vực hoạt động của các HTX được phân loại trở lên. Đặc điểm, vai trò và nguyên tắc hoạt động của hợp tác xã nông nghiệp 1. Đặc điểm hợp tác xã nông nghiệp Theo Luật hợp tác xã 2012, cẩm nang hợp tác xã nông nghiệp quy định thì hợp tác xã nông nghiệp là một tổ chức kinh tế tập thể hoạt động trong lĩnh vực nông nghiệp [39,22]. Được thành lập để tiến hành các hoạt động sản xuất, kinh doanh và dịch vụ nông nghiệp; Là một tổ chức kinh tế của nông dân, có đặc trưng gắn với hộ nông dân; Hợp tác xã nông nghiệp trước hết là để đáp ứng các nhu cầu chung của nông dân về SXKD và dịch vụ nông nghiệp; Nông dân gia nhập 10 HTX là vì họ cần được HTX cung cấp dịch vụ, sản phẩm mà từng hộ không thể tự làm hoặc làm một mình không hiệu quả; Hoạt động SXKD, dịch vụ nông nghiệp của HTX chỉ là công cụ nhằm thúc đẩy tăng thêm lợi ích, hiệu quả sản xuất kinh doanh của hộ nông dân; Mục tiêu của HTX phục vụ nhu cầu chung của thành viên, không phải vì lợi nhuận.

HTX là một tổ chức kinh tế mang tính hợp tác có tính xã hội sâu sắc, hỗ trợ các hộ nông dân tăng cạnh tranh trong kinh tế thị trường; Đối tượng tham gia HTX bao gồm tất cả những người nông dân, hộ nông dân và pháp nhân; Khi tham gia HTX , thành viên HTX bắt buộc phải góp vốn để xác định tư cách thành viên; Việc thành lập HTX dựa trên cơ sở hoàn toàn tự nguyện. xuất phát từ nhu cầu, lợi ích chung, liên kết lại với nhau để phát huy sức mạnh tập thể, HTX có tư cách pháp nhân và chịu trách nhiệm hữu hạn. Vai trò của hợp tác xã nông nghiệp Chủ tịch Hồ Chí Minh là người đầu tiên đưa tư tưởng hợp tác xã vào đời sống của người dân Việt Nam. Ngay sau Cách mạng Tháng 8 thành công, ngày 11/4/1946, Bác đã có thư kêu gọi điền chủ, nông gia Việt Nam tham gia hợp tác xã nông nghiệp.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ