Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH ĐỐI VỚI NGƯỜI CÓ CÔNG 1. Chính sách người có công 1. Khái niệm chính sách người có công 1.Khái niệm Chính sách công Định nghĩa chính sách công vẫn là một chủ đề được bàn luận khá sôi động; Dưới những góc độ tiếp cận khác nhau sẽ có những quan niệm về chính sách công khác nhau, tuy nhiên có một số quan niệm của các nhà nghiên cứu trên thế giới được nhiều người thừa nhận đó là: “Chính sách công là một tập hợp các quyết định có liên quan lẫn nhau của một nhà chính trị hay một nhóm nhà chính trị gắn liền với việc lựa chọn các mục tiêu và các giải pháp để đạt được các mục tiêu đó” (Wiliam Jenkin); “ Chính sách công là những hoạt động mà chính quyền chọn làm và không làm” (Thomas R. Dye); “Chính sách công là một quá trình hành động hoặc không hành động của chính quyền để đáp lại một vấn đề công cộng” (Kraft, Furlong); “Chính sách công mà một tập hợp các yếu tố gồm: dự định, mục tiêu; đề xuất các quyết định hay các lựa chọn; hiệu lực” (Charles O.
Ở Việt Nam, việc nghiên cứu về chính sách công mới chỉ được đề cập và tập trung trong khoảng hơn 20 năm trở lại đây; Cũng giống như xu hướng chung của thế giới, các nhà nghiên cứu ở nước ta ở những góc độ tiếp cận khác nhau cũng có rất nhiều cách hiểu khác nhau về chính sách công. Trong bài viết về Chính sách kinh tế - xã hội, tác giả Lê Chi Mai đồng nhất chính sách công với chính sách kinh tế - xã hội và đưa ra định nghĩa “Chính sách kinh tế - xã hội là tổng thể các quan điểm, tư tưởng, các giải pháp và công cụ mà Nhà nước sử dụng để tác động lên các đối tượng và khách thể quản lý 10 nhằm giải quyết vấn đề về chính sách, thực hiện những mục tiêu nhất định theo định hướng mục tiêu tổng thể của xã hội”. Theo Từ điển tiếng Việt, chính sách được hiểu là “sách lược và kế hoạch cụ thể nhằm đạt một mục đích nhất định, dựa vào đường lối chính trị chung và tình hình thực tế mà đề ra”. Hay nói cách khác, chính sách “là giải pháp cùng các biện pháp cụ thể thực hiện giải pháp ấy được một chủ thể quyền lực lựa chọn và thể hiện bằng văn bản có giá trị pháp lý nhằm điều chỉnh hành vi của xã hội hoặc cộng đồng để giải quyết một hoặc một số vấn đề lớn liên quan đến nhiều đối tượng trong một giai đoạn xác định”(Nguyễn Minh Thuyết, Vận động chính sách ở nước ta từ góc nhìn của một cựu đại biểu Quốc hội, trong cuốn Vận động chính sách công.
Lý luận và thực tiễn, Đào Trí Úc và Vũ Công Giao đồng chủ biên, Nxb. Lao Động, Hà Nội, 2015). Với những cách tiếp cận đó, có thể khẳng định chính sách công là sản phẩm của một đảng cầm quyền hoặc của nhà nước,mang tính chất “công”, mặc dù trong thực tế, chính sách đôi khi còn được hiểu theo nghĩa rộng, trong đó chủ thể ban hành bao gồm cả những thiết chế ngoài nhà nước. Khái niệm người có công Người có công hiểu theo nghĩa rộng là những người không phân biệt tôn giáo, tín ngưỡng, dân tộc, nam nữ, tuổi tác, đã tự nguyện hiến dâng cuộc đời mình cho sự nghiệp dựng nước, giữ nước và kiến thiết đất nước (Bùi Thị Xuân Mai (2012), Giáo trình nhập môn Công tác xã hội, Nxb Lao động xã hội, Hà Nội).
Theo nghĩa hẹp người có công là những người không phân biệt tôn giáo, tín ngưỡng, dân tộc, nam nữ, tuổi tác có những đóng góp, những cống hiến xuất sắc trong thời kỳ trước Cách mạng tháng Tám năm 1945, trong các cuộc giải phóng dân tộc và bảo vệ Tổ quốc, được các cơ quan, tổ chức có thẩm quyền công nhận (Bùi Thị Xuân Mai (2012), Giáo trình nhập môn Công tác xã hội, NXB Lao động xã hội, Hà Nội ) 11 Với những cách tiếp cận đó, có thể khái quát rằng người có công là những người không phân biệt tôn giáo, tín ngưỡng, dân tộc, nam nữ, tuổi tác có những đóng góp, những cống hiến xuất sắc trong thời kỳ trước Cách mạng tháng Tám năm 1945, trong các cuộc kháng chiến giải phóng dân tộc và bảo vệ Tổ quốc, được các cơ quan, tổ chức có thẩm quyền công nhận. Khái niệm chính sách người có công Theo Nguyễn Đình Liêu “Chính sách đối với người có công là đường lối, chủ trương của Đảng, Nhà nước căn cứ vào nhiệm vụ chính trị từng thời kỳ, dựa vào sự phát triển nền kinh tế - xã hội, nhằm mục tiêu ghi nhận công lao, sự đóng góp, sự hy sinh cao xả của những người có công, tạo mọi điều kiện, khả năng, đền đáp, bù đắp phần nào về đời sống vật chất, văn hóa tinh thần đối với người có công” (Nguyễn Đình Liêu (1996), Hoàn thiện pháp luật ưu đãi người có công ở Việt Nam - Lý luận và thực tiễn, Đại học Khoa học xã hội và Nhân văn Hà Nội). Hay nói cách khác, chính sách người có công là những quy định chung của Nhà nước bao gồm mục tiêu, phương hướng, giải pháp về việc ghi nhận công lao, sự đóng góp, sự hy sinh của người có công, tạo mọi điều kiện khả năng góp phần ổn định và nâng cao đời sống vật chất, tinh thần đối với người có công, Nhà nước cụ thể hóa các chế độ đối với người có công nhằm ghi nhận công lao, đóng góp của họ đối với sự nghiệp giải phóng dân tộc, bảo vệ Tổ quốc, làm nhiệm vụ quốc tế. Đặc điểm, vai trò của chính sách đối với người có công 1.Đặc điểm của chính sách đối với người có công Chính sách người có công là một bộ phận trong tổng thể các chính sách xã hội của Đảng và Nhà nước ta, thông qua những chính sách đó nhằm không ngừng chăm lo đời sống vật chất, tinh thần đối với người có công với cách mạng và gia đình họ, nâng cao đời sống người có công, góp phần ổn định và 12 phát triển kinh tế - xã hội, tạo động lực cho sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc qua các thời kỳ.
Xuất phát từ thực tiễn đấu tranh cách mạng, khi đất nước hoàn toàn độc lập, việc thực hiện chính sách đối với người có công không ngoài mục đích nhằm tôn vinh, ghi nhận sự cống hiến, hy sinh, góp phần chăm sóc, ổn định đời sống vật chất, tinh thần của người có công và gia đình người có công với cách mạng, tạo sự ổn định chính trị, phát triển xã hội; đồng thời, là sự thể hiện chủ nghĩa nhân đạo cao đẹp, truyền thống, đạo lý tốt đẹp của dân tộc, thể hiện sự quan tâm của toàn Đảng, toàn quân và toàn dân đối với người có công. Bằng những quy định cụ thể, mức ưu đãi đối với người có công được nhà nước xác định dựa trên cơ sở mức tiêu dùng bình quân toàn xã hội, mặt bằng đời sống của đại bộ phận nhân dân, khả năng đáp ứng của nền kinh tế và nhu cầu phát triển của xã hội, tùy vào điều kiện của nền kinh tế xã hội và nguồn lực ngân sách, nhà nước sẽ có những điều chỉnh phù hợp để mức ưu đãi đối với người có công thực sự phát huy tác dụng, góp phần ổn định đời sống của bộ phận này. Để thực hiện chính sách công nói chung và chính sách đối với người có công nói riêng, đòi hỏi phải có những nguồn lực nhất định, đối với chính sách người có công, nguồn lực thực hiện thông qua hai nguồn chính, đó là: Nguồn ngân sách nhà nước và nguồn xã hội hóa. Nguồn lực từ ngân sách nhà nước giữ vai trò then chốt; đồng thời, để thực hiện ngày càng tốt hơn chính sách đối với người có công thì việc đẩy mạnh xã hội hóa, khuyến khích các tổ chức, doanh nghiệp và người dân tham gia là một tất yếu khách quan.
Ngoài ra, các địa phương căn cứ vào tình hình thực tế về thu chi ngân sách sẽ chủ động bố trí thêm kinh phí từ nguồn ngân sách địa phương để thực hiện chính sách người có công trên địa bàn, đồng thời vận dụng và kết hợp thêm các nguồn xã hội hóa, các nguồn huy động hợp pháp khác để thực hiện các chính sách người có công. 13 Nguồn lực bên ngoài cũng đóng vai trò quan trọng trong thực hiện chính sách người có công, bởi để thực hiện tốt việc chăm lo đời sống đối với người có công cần sự chung sức của cả hệ thống chính trị và người dân, doanh nghiệp; các hình thức chủ yếu gồm vận động thành lập, xây dựng quỹ “Đền ơn đáp nghĩa”, các hoạt động tặng sổ tiết kiệm, xây tặng nhà tình nghĩa, nhận phụng dưỡng bà mẹ Việt Nam anh hùng. Vai trò của chính sách đối với người có công Chính sách người có công có vai trò vô cùng quan trọng trong đời sống chính trị - xã hội, với tầm quan trọng của mình, chính sách người có công đã được duy trì thực hiện thường xuyên, liên tục, có tính kế thừa và ngày càng được bổ sung, điều chỉnh để phù hợp với thực tiễn quá trình phát triển của đất nước; Chính sách người có công không chỉ thể hiện sự quan tâm vô cùng đặc biệt của Đảng, Nhà nước đối với người có công, mà còn là trách nhiệm và sự ghi nhận, tôn vinh xứng đáng với những cống hiến của người có công đối với đất nước đồng thời còn thể hiện tính tiên tiến, nhân văn sâu sắc của chế độ. Ngoài ra, chính sách người có công còn thể hiện trách nhiệm của toàn xã hội đối với người có công, góp phần quan trọng vào sự ổn định xã hội, giữ vững thể chế, phát huy truyền thống tốt đẹp của dân tộc và có tác dụng giáo dục thế hệ trẻ để họ có những nhận thức đúng đắn và hành động cụ thể đối với người có công.
Thực hiện chính sách đối với người có công 1. Khái niệm thực hiện chính sách đối với người có công Sau khi một chính sách được hoạch định, chính sách đó cần được thực hiện trong cuộc sống, đây là giai đoạn thứ hai trong cả quá trình chính sách, nhằm biến chính sách thành những hoạt động và kết quả trên thực tế. Bộ máy hành chính nhà nước chịu trách nhiệm chính đối với tổ chức thực hiện chính sách. 14 Như vậy, tổ chức thực hiện chính sách là quá trình biến các chính sách thành những kết quả trên thực tế thông qua các hoạt động có tổ chức trong bộ máy nhà nước, nhằm hiện thực hoá những mục tiêu mà chính sách đã đề ra.