CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ BÁO CHÍ VÀ HÌNH ẢNH NGƯỜI LAO ĐỘNG TRÊN BÁO CHÍ CÔNG ĐOÀN 1. Lao động và người lao động Lao động: Sự phát triển của lao động sản xuất là nền tảng, là thước đo sự phát triển của xã hội.Ăngghen: Lao động đã sáng tạo ra con người và xã hội loài người. Lao động là hoạt động có mục đích, có ích của con người tác động lên giới tự nhiên, xã hội nhằm mang lại của cải vật chất cho bản thân và xã hội. Các Mác viết: “Lao động không những tạo ra của cải để nuôi sống con người mà còn cải tạo bản thân con người, phát triển con người cả về mặt thể lực và trí lực.
Trong khi tác động vào tự nhiên ở bên ngoài thông qua sự vận động đó, con người làm thay đổi tự nhiên, đồng thời quá trình đó cũng làm thay đổi bản tính của chính mình” [47, tr. Lao động là nguồn gốc và động lực phát triển xã hội. Đồng chí Lê Duẩn khẳng định: “Lao động bao giờ cũng là nguồn sống của xã hội. Xã hội nô lệ tồn tại trên lao động thặng dư của người nô lệ; xã hội phong kiến tồn tại trên địa bàn tô do nông dân tạo ra; xã hội tư bản, trên giá trị thặng dư do vô sản tạo ra.
Chủ nghĩa xã hội là sự thay thế lao động làm thuê bằng sức lao động cho mình, cho xã hội do mình làm chủ. Đó là sự thay đổi vĩ đại nhất trong lịch sử loài người” [48, tr. Ở nước ta, thời kỳ CNH-HĐH, lý luận về lao động được hiểu theo các cách sau: Lao động là phương thức tồn tại của con người những lợi ích con người phải được coi trọng. Lao động là biểu hiện bản chất còn lợi ích là vấn đề nhạy cảm nhất của con người, là nhân tố thấm sâu, phức tạp trong quan hệ giữa người với người, giữa cá nhân với xã hội.
Lao động được xem xét dưới dạng 14 năng suất, chất lượng và hiệu quả, là thước đo về số lượng, chất lượng, tính tích cực và trách nhiệm lao động. Bất kỳ hình thức lao động nào của cá nhân, không phân biệt thành phần kinh tế, nếu đáp ứng được yêu cầu xã hội, tạo ra sản phẩm hoặc công dụng nào đó, thực hiện lợi ích, đảm bảo nuôi sống mình và có thể đống góp cho xã hội một phần lợi ích thì đó là lao động có ích; lao động là hoạt động quan trọng nhất của con người, tạo ra của cải vật chất và các giá trị tinh thần của xã hội. Lao động có năng suất, chất lượng và hiệu quả cao là nhân tố quyết định sự phát triển của đất nước. - Người lao động Khái niệm người lao động là một khái niệm tương đối phổ biến trong khoa học pháp lý và trong đời sống thực tiễn.
Từ góc độ kinh tế học người lao động là những trực tiếp cung cấp sức lao động – một yếu tố sản xuất mang tính người và cũng là một dạng dịch vụ/hàng hóa cơ bản của nền kinh tế. Những người đang lao động là những người có cam kết lao động, sản phẩm lao động đối với tổ chức, người khác. Người lao động với tư cách là chủ thể của hoạt động lao động có thể là một người nhưng cũng có thể là nhiều người. Khi chủ thể là nhiều người thì mỗi cá nhân được phân công một nhiệm vụ cụ thể và cùng hướng đến một mục đích chung nhằm tạo ra một sản phẩm cụ thể nào đó để đáp ứng nhu cầu nhất định của cá nhân và xã hội.
Theo Đại từ điển tiếng Việt thì “Người lao động là người bỏ công sức ra để làm việc gì đó” [78, tr. Theo điều 6 của Bộ luật lao động nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam thì “Người lao động là những người ít nhất đủ 15 tuổi, có khả năng lao động và có giao kết hợp đồng” [43, tr. Đề tài nghiên cứu xác định: người lao động là những người trong độ tuổi lao động theo pháp luật quy định có cam kết lao động với chủ sử dụng lao động, 15 thường là nhận yêu cầu công việc, nhận lương và chịu sự quản lý của chủ lao động trong thời gian làm việc cam kết. Hình ảnh và hình ảnh người lao động - Hình ảnh Có rất nhiều các quan niệm khác nhau về hình ảnh.
Trong đó, thuật ngữ hình ảnh có nguồn gốc từ tiếng latinh “Imago” và có quan hệ mật thiết với từ la tinh khác là “Imatari” – dùng để chỉ sự mô phỏng, phỏng theo. Theo Từ điển tiếng Việt của Viện ngôn ngữ học, Nxb Từ điển Bách khoa, năm 2011, định nghĩa: “hình ảnh là hình người, vật, cảnh tượng thu được bằng khí cụ quang học (như máy ảnh) hoặc để lại ấn tượng nhất định và tái hiện được trong trí” [71, tr. Còn Từ điển từ và ngữ Việt Nam, Nxb Thành phố Hồ Chí Minh, năm 2000 định nghĩa: “hình: dáng bên ngoài, ảnh: hình thu được”, hình ảnh là đường nét màu sắc, dung mạo của người hay vật được phản chiếu vào trong trí óc” [72, tr. Hình ảnh là một bức hình, tấm ảnh, hay hình ảnh thứ ghi lại hay thể hiện/tái tạo được cảm nhận thị giác, tương tự với cảm nhận thị giác từ vật thể có thật, do đó mô tả được vật thể đó.
Hình ảnh có thể có hai chiều, như thể hiện trên tranh vẽ trên bề mặt phẳng, hoặc ba chiều, như thể hiện trên tác phẩm điêu khắc hoặc hologram. Hình ảnh có thể được ghi lại bằng thiết bị quang học – như máy ảnh, gương, thấu kính, kính viễn vọng, kính hiển vi do con người tạo ra, hoặc bởi các cơ chế tự nhiên, như mắt người hay mặt nước. Hình ảnh có thể dùng theo nghĩa rộng, thể hiện bản đồ, đồ thị, nghệ thuật trừu tượng. Với nghĩa này, hình ảnh có thể được tạo ra mới hoàn toàn, thay vì ghi chép lại, bằng cách vẽ, tạc tượng xuất hiện trong suy nghĩ của con người, tương tự như trí nhớ.
16 Như vậy, với cách hiểu này thì hình ảnh chính là dạng văn bản thông tin thu gọn. Khi con người không thể xử lý những văn bản có dung lượng lớn, sẽ sử dụng các phương án rút gọn của nó. Bất kỳ hình ảnh nào với tư cách một văn bản nhỏ có thể được phát triển thành một văn bản lớn khi cần. Khác với cách hiểu thông thường về các văn bản bằng lời, hình ảnh là một văn bản được xây dựng bằng tất cả các kênh (kênh hình ảnh, kênh hành vi…) được coi như một thao tác rút gọn hoặc mở rộng văn bản.
Theo đó, việc điều chỉnh hình ảnh trong nhiều trường hợp là việc thay thế những điểm thị giác (hoặc đặc điểm khác) không bản chất thành những đặc điểm mang tính quan trọng hơn trong cách nhìn nhận của một hình ảnh đó. Chúng ta cố gắng thể hiện bản thân mình ở phương diện tốt đẹp nhất khi nhấn mạnh những đặc điểm này hay đặc điểm khác của cá nhân. Chúng ta làm điều đó một cách vô thức, đặc biệt là trong những tình huống như lần đầu làm quen với một người mà ta mong họ có cảm tình với mình. Một nhà nghiên cứu từng khẳng định: Hình ảnh của cá nhân bạn là bức tranh nhỏ về bạn, ảnh của mình giống như quảng cáo.
Một bức tranh nhỏ bên ngoài như một lời hứa, rằng bản chất chúng ta cũng như sự thể hiện bên ngoài vậy. Mỗi người trong số chúng ta gắn các chuẩn mực ứng xử nhất định với những mẫu người tương ứng. Có thể nói rằng, hình ảnh quy tụ một cách cô đọng nhất bản chất con người, các tổ chức và quốc gia. Một chân lý đơn giản là xây dựng hình ảnh của mình chính xác bao nhiêu thì việc giao tiếp sẽ càng có hiệu quả bấy nhiêu.
Tạo dựng hình ảnh hiện nay là cần thiết đối với mọi đất nước, mọi tổ chức, mọi cá nhân, mọi nghề nghiệp. Trong triết học, hình ảnh được coi là kết quả của sự phản ánh khách thể đối tượng vào ý thức của con người. Ở trình độ cảm tính, hình ảnh là những cảm giác, tri giác và biểu tượng. Ở trình độ tư duy, đó là những khái niệm phán đoán và suy luận.
Về mặt nguồn gốc, hình ảnh là khách quan, về mặt nhận thức tồn tại, hình ảnh là chủ quan. 17 Ở khía cạnh khác, hình ảnh còn được xem là ngôn ngữ biểu tượng, tức là dùng ngôn ngữ hình ảnh để nói lên một vấn đề nào đó. Do vậy, hình ảnh được xem như một tiếng nói, một cảm xúc, một thể loại ngôn ngữ biểu tượng, giúp cho công chúng hình tượng rõ hơn về nội dung, ý đồ của tác giả. Hình ảnh là khoa học, là nghệ thuật mô phỏng hoặc mô tả về một đối tượng nhất định.
Hình ảnh là những hình dung về con người, đồ vật, tổ chức được hình thành trong nhận thức của công chúng với sự giúp đỡ của quan hệ công chúng, quảng cáo hoặc tuyên truyền. Có thể nói rằng, hình ảnh quy tụ một cách cô đọng nhất bản chất con người, hiện tượng, sự vật. Hình ảnh là ấn tượng chung mà một người, tổ chức hay sản phẩm giới thiệu đến công chúng. Trong luận văn này, thực chất hình ảnh người lao động trên báo chí là chân dung của họ được phản ánh trên báo chí.
Nó bao gồm: đặc điểm nhân khẩu xã hội học, đặc điểm thể chất, trí tuệ, nhân cách, tương ứng với hành động, thái độ, cảm xúc, văn hoá ứng xử. được thể hiện thông qua các tác phẩm báo chí. Báo chí Công đoàn có công chúng mục tiêu là người lao động, vì vậy, hình ảnh người lao động được đưa như thế nào sẽ ảnh hưởng lớn đến tính hấp dẫn, độ tin cậy và hiệu qủa tiếp cận, tiếp nhận của công chúng mục tiêu của tờ báo. Ảnh báo chí là một loại hình có đặc điểm khác các loại hình nhiếp ảnh khác.
Mục đích của ảnh báo chí là thông tin sự kiện. Muốn sự kiện có sức hấp dẫn người đọc, hình ảnh trong ảnh báo chí phải thật như “cái thật” đang diễn ra từ cuộc sống hàng ngày. Độc giả không muốn nhìn thấy sự gượng ép trong cách thức thể hiện, nhìn thấy sự bố trí, sắp xếp lại cái thật. Bức ảnh phải là tấm gương của cuộc sống thật vốn có.
Cái thật này phải được chọn lọc qua kiến thức, trí tuệ của người làm báo nên chọn cái gì đưa vào ảnh. - Hình ảnh người lao động 18 Dựa trên những khái niệm phân tích trên, chúng ta có thể thấy rằng hình ảnh người lao động trên báo chí công đoàn được xác định thông qua tất cả các yếu tố mang tính thông tin.