Tổng quan nghiên cứu

Huyện Võ Nhai là địa bàn miền núi đặc biệt khó khăn nằm ở phía Đông Bắc tỉnh Thái Nguyên với diện tích tự nhiên 83.943 ha và quy mô dân số 68.177 người năm 2018. Khu vực này mang tính chất đặc thù khi đồng bào dân tộc thiểu số chiếm tới 69,75% dân số toàn huyện. Địa hình đồi núi dốc và núi đá vôi chiếm tới 92% diện tích, tạo nên rào cản tự nhiên lớn cho phát triển kinh tế và hạ tầng giao thông. Vấn đề nghiên cứu trọng tâm tập trung vào thực trạng quản lý nhà nước về lĩnh vực dân tộc, giải quyết tình trạng tỷ lệ hộ nghèo dân tộc thiểu số chiếm 78,51% tổng số hộ nghèo và ngăn chặn các nguy cơ bất ổn an ninh trật tự từ các hiện tượng tôn giáo trái phép.

Mục tiêu cụ thể của luận văn là hệ thống hóa cơ sở lý luận, phân tích thực trạng thực thi chính sách dân tộc giai đoạn 2016-2018, chỉ rõ các hạn chế trong bộ máy quản lý và đề xuất giải pháp khả thi nâng cao hiệu lực quản lý nhà nước đến năm 2025. Phạm vi nghiên cứu bao quát toàn bộ 15 đơn vị hành chính cấp xã của huyện Võ Nhai, bao gồm 14 xã và 01 thị trấn, tập trung vào chuỗi dữ liệu kinh tế - xã hội giai đoạn 2016-2019. Ý nghĩa thực tiễn của công trình thể hiện qua việc cung cấp luận cứ khoa học hỗ trợ địa phương duy trì mục tiêu giảm tỷ lệ hộ nghèo bình quân trên 4% mỗi năm (năm 2018 đạt mức giảm 6,38%), nâng tỷ lệ trường chuẩn quốc gia đạt 65,6% (42 trên 65 trường) và hoàn thiện các tiêu chí nông thôn mới bền vững.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Luận văn vận dụng lý thuyết quản lý hành chính công hiện đại kết hợp quan điểm của Chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh về bình đẳng, đoàn kết và tương trợ giữa các dân tộc cùng phát triển. Nghiên cứu tích hợp khung thể chế pháp lý theo Nghị quyết số 24-NQ/TW của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa IX, Quyết định số 449/QĐ-TTg phê duyệt Chiến lược công tác dân tộc đến năm 2020 và Nghị định số 05/2011/NĐ-CP của Chính phủ.

Mô hình nghiên cứu làm rõ mối quan hệ tương tác giữa 4 nhóm nội dung quản lý nhà nước cấp huyện với các yếu tố môi trường tự nhiên, kinh tế và xã hội. Luận văn chuẩn hóa 4 khái niệm then chốt gồm: "Công tác dân tộc" là hoạt động quản lý nhà nước nhằm tạo điều kiện cho đồng bào phát triển toàn diện; "Chính sách dân tộc" là hệ thống chủ trương và biện pháp của Nhà nước; "Địa bàn đặc biệt khó khăn" là vùng có điều kiện tự nhiên khắc nghiệt và hạ tầng thiếu thốn; "Năng lực nội sinh" là khả năng tự vươn lên thoát nghèo của cộng đồng. Nghiên cứu kế thừa các phát hiện học thuật từ Lê Ngọc Thắng (2005) và Hoàng Chí Bảo (2009) về bảo đảm bình đẳng giữa 54 dân tộc, trong đó 53 dân tộc thiểu số chiếm 14% dân số cả nước.

Phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu sử dụng nguồn dữ liệu thứ cấp thu thập từ báo cáo chính thức giai đoạn 2016-2019 của Chi cục Thống kê huyện Võ Nhai, Phòng Dân tộc, Phòng Lao động - Thương binh và Xã hội, Phòng Tư pháp và Ủy ban nhân dân 15 xã, thị trấn. Dữ liệu sơ cấp được thu thập thông qua khảo sát thực tế tại các xóm bản vùng sâu vùng xa.

Cỡ mẫu nghiên cứu bao quát 100% gồm 15 đơn vị hành chính cấp xã trên địa bàn huyện, kết hợp phương pháp chọn mẫu phân tầng điển hình tại 4 xã có tỷ lệ đồng bào dân tộc thiểu số và tỷ lệ nghèo cao gồm Thượng Nung, Sảng Mộc, Thần Sa và Dân Tiến. Lý do lựa chọn phương pháp phân tích thống kê mô tả, hệ thống hóa và so sánh chuỗi số liệu là nhằm phản ánh khách quan biến động đa chiều giữa các nhóm dân tộc, xác định chính xác mối tương quan giữa nguồn lực phân bổ với kết quả giảm nghèo thực tế. Toàn bộ quy trình khảo sát và phân tích dữ liệu được thực hiện chặt chẽ theo dòng thời gian từ tháng 1 năm 2016 đến tháng 12 năm 2018, có cập nhật số liệu ước tính đến hết năm 2019.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Thứ nhất, nền kinh tế huyện Võ Nhai ghi nhận bước phát triển mạnh mẽ với tổng giá trị sản xuất vượt 1.146,08 tỷ đồng giai đoạn 2018-2019. Cơ cấu kinh tế chuyển dịch tích cực khi ngành công nghiệp - xây dựng đạt giá trị 1.144,8 tỷ đồng, nông lâm thủy sản đạt 844,48 tỷ đồng và thương mại dịch vụ đạt 156,8 tỷ đồng. Thu ngân sách nhà nước năm 2018 đạt 62,612 tỷ đồng, vượt 83% kế hoạch và tăng gấp 4,7 lần so với mốc 13,29 tỷ đồng năm 2010.

Thứ hai, giá trị sản xuất trên 1 ha đất canh tác năm 2018 đạt 63,7 triệu đồng nhờ hình thành các vùng chuyên canh đặc sản như bưởi Tràng Xá hay na La Hiên. Mặc dù tỷ lệ hộ nghèo toàn huyện giảm xuống 19,48%, nhưng bất bình đẳng giữa các nhóm dân tộc còn rất lớn. Trong tổng số 3.653 hộ nghèo toàn huyện năm 2018, hộ đồng bào dân tộc thiểu số chiếm tới 78,51%. Cụ thể, dân tộc Dao chiếm tỷ lệ nghèo cao nhất với 25,66%, dân tộc Mông chiếm 21,69%, dân tộc Tày chiếm 16,81% và dân tộc Nùng chiếm 11,60%.

Thứ ba, công tác tuyên truyền và phổ biến giáo dục pháp luật đạt kết quả vượt bậc. Số buổi tuyên truyền, trợ giúp pháp lý tăng 144,4% từ 45 buổi năm 2016 lên 110 buổi năm 2019, hỗ trợ cho hơn 4.600 lượt người nghèo với ngân sách tăng từ 7,2 triệu đồng lên 23,8 triệu đồng. Địa phương đã cấp phát hơn 5.000 tờ rơi và 55.500 ấn phẩm báo chí chuyên đề.

Thứ tư, bộ máy cơ quan chuyên trách làm công tác dân tộc cấp huyện còn rất mỏng. Phòng Dân tộc huyện chỉ duy trì 4 biên chế (2 lãnh đạo và 2 chuyên viên) nhưng phải quản lý địa bàn rộng 83.943 ha, cán bộ vẫn duy trì lịch đi cơ sở tối thiểu 2 lần mỗi tháng để nắm bắt địa bàn.

Thảo luận kết quả

Nguyên nhân chính dẫn đến sự chênh lệch mức sống giữa các nhóm dân tộc xuất phát từ địa bàn cư trú và tập quán sản xuất. Đồng bào Dao và Mông sinh sống chủ yếu tại tiểu vùng 3 với địa hình núi cao hiểm trở, thiếu đất màu mỡ và thiếu nguồn nước canh tác. Ngược lại, người Kinh chiếm 30,25% dân số và người Nùng chiếm 20,29% dân số cư trú dọc Quốc lộ 1B thuộc tiểu vùng 1 có lợi thế giao thương vượt trội.

Dữ liệu nghiên cứu được trực quan hóa hiệu quả thông qua biểu đồ cơ cấu 8 thành phần dân tộc và biểu đồ cột phản ánh tỷ lệ nghèo tại 15 xã. Bảng số liệu thống kê chứng minh 5 xã vùng cao gồm Thượng Nung, Sảng Mộc, Nghinh Tường, Thần Sa và Vũ Chấn có tỷ lệ hộ nghèo là người dân tộc thiểu số chạm mức 98% đến 100%.

Kết quả này hoàn toàn tương đồng với nghiên cứu của Nguyễn Thị Thúy (2012) tại huyện Định Hóa khi chỉ ra rằng chính sách trợ cấp trực tiếp dễ làm phát sinh tâm lý trông chờ ỷ lại. Bên cạnh đó, việc vận dụng bài học kiểm soát tà đạo Dương Văn Mình tại tỉnh Cao Bằng và cơ chế điều hành tại tỉnh Quảng Ninh đã giúp huyện Võ Nhai giữ vững an ninh chính trị, vận động tháo dỡ các nhà đòn trái phép tại xã Dân Tiến và xã Phương Giao.

Đề xuất và khuyến nghị

Thứ nhất, đổi mới cơ chế thực thi chính sách giảm nghèo từ hỗ trợ trực tiếp sang đầu tư nâng cao năng lực sản xuất nội sinh. Ủy ban nhân dân huyện Võ Nhai chủ trì phối hợp với Phòng Dân tộc triển khai các dự án sinh kế gắn với chuỗi giá trị nông lâm nghiệp, hướng tới mục tiêu giảm tỷ lệ hộ nghèo dân tộc thiểu số từ 4% đến 6% mỗi năm trong giai đoạn 2020-2025.

Thứ hai, đa dạng hóa phương thức tuyên truyền, phổ biến giáo dục pháp luật phù hợp với phong tục từng dân tộc. Phòng Tư pháp huyện chủ trì phối hợp với Trung tâm Văn hóa - Thể thao và Truyền thông huyện biên soạn tài liệu song ngữ, phấn đấu tổ chức trên 120 buổi tuyên truyền lưu động mỗi năm và cấp phát hơn 60.000 ấn phẩm đến năm 2023.

Thứ ba, kiện toàn tổ chức bộ máy và nâng cao năng lực đội ngũ cán bộ làm công tác dân tộc. Phòng Nội vụ huyện tham mưu bổ sung định biên Phòng Dân tộc lên từ 5 đến 6 biên chế trong giai đoạn 2021-2024, bảo đảm 100% cán bộ phụ trách công tác dân tộc cấp xã được đào tạo kỹ năng quản lý nhà nước và bồi dưỡng tiếng dân tộc thiểu số.

Thứ tư, phát huy vai trò nòng cốt của mạng lưới hơn 100 người có uy tín trong cộng đồng dân tộc thiểu số. Ban Dân vận Huyện ủy và Ủy ban Mặt trận Tổ quốc huyện định kỳ tổ chức tối thiểu 2 hội nghị cung cấp thông tin cấp huyện mỗi năm từ năm 2021, chủ động ngăn ngừa các tà đạo xâm nhập và giữ vững 100% thôn bản an toàn về trật tự xã hội.

Thứ năm, tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra và giám sát nguồn vốn đầu tư các chương trình mục tiêu quốc gia. Thanh tra huyện phối hợp với Hội đồng nhân dân huyện thực hiện kiểm tra định kỳ 2 đợt mỗi năm, đảm bảo 100% nguồn vốn chính sách được giải ngân đúng đối tượng và chống thất thoát lãng phí.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Nhóm thứ nhất là cán bộ lãnh đạo, chuyên viên tại Ủy ban Dân tộc và Ban Dân tộc các tỉnh miền núi. Nghiên cứu cung cấp hệ thống dữ liệu thực chứng tại một huyện có gần 70% dân số là đồng bào thiểu số, phục vụ trực tiếp cho việc hoạch định chính sách phân bổ ngân sách và an sinh xã hội.

Nhóm thứ hai là lãnh đạo Ủy ban nhân dân và cán bộ Phòng Dân tộc cấp huyện. Luận văn mang lại cẩm nang thực tiễn về cách thức tổ chức bộ máy tinh gọn từ 3 đến 4 biên chế và phương pháp phối hợp liên ngành nhằm giải quyết các điểm nóng về an ninh tôn giáo vùng cao.

Nhóm thứ ba là giảng viên, học viên cao học và sinh viên thuộc các chuyên ngành Quản lý công, Chính sách công và Xã hội học. Công trình là tài liệu tham khảo giá trị về phương pháp khảo sát toàn diện 15 xã, thị trấn và mô hình phân tích chuỗi số liệu kinh tế - xã hội giai đoạn 2016-2019.

Nhóm thứ tư là các tổ chức phi chính phủ và các ban quản lý dự án phát triển cộng đồng. Dữ liệu luận văn giúp thiết kế các chương trình tài trợ sinh kế nhắm trúng hai nhóm yếu thế nhất là đồng bào Dao chiếm 25,66% và đồng bào Mông chiếm 21,69% tổng số hộ nghèo.

Câu hỏi thường gặp

Cơ cấu dân tộc tại huyện Võ Nhai có những đặc điểm nổi bật nào?

Huyện Võ Nhai có 8 dân tộc chính cùng sinh sống với tổng dân số 68.177 người năm 2018, trong đó đồng bào dân tộc thiểu số chiếm gần 70%. Tỷ trọng dân số gồm: dân tộc Kinh chiếm 30,25%, Tày chiếm 24,29%, Nùng chiếm 20,29%, Dao chiếm 13,44% và Mông chiếm 7,01%. Địa bàn cư trú phân hóa rõ rệt giữa các tiểu vùng đồi núi.

Tỷ lệ hộ nghèo phân bổ như thế nào giữa các nhóm dân tộc tại địa phương?

Hộ nghèo tập trung chủ yếu ở nhóm thiểu số, chiếm 78,51% trong tổng số 3.653 hộ nghèo toàn huyện năm 2018. Tỷ lệ nghèo phân theo dân tộc gồm: dân tộc Dao chiếm cao nhất với 25,66%, dân tộc Mông chiếm 21,69%, dân tộc Tày chiếm 16,81% và dân tộc Nùng chiếm 11,60%, chủ yếu do thiếu đất sản xuất và địa hình chia cắt.

Chính quyền huyện Võ Nhai đã xử lý vấn đề tà đạo và an ninh trật tự ra sao?

Cấp ủy và chính quyền huyện đã thành lập Ban Chỉ đạo liên ngành, huy động lực lượng công an bám sát cơ sở và vận động đồng bào Mông tháo dỡ các nhà đòn bất hợp pháp tại bản Làng Ươm, xã Dân Tiến. Huyện duy trì hơn 100 buổi tuyên truyền pháp luật mỗi năm để củng cố niềm tin của nhân dân.

Công tác phổ biến giáo dục pháp luật vùng dân tộc đạt kết quả cụ thể nào?

Giai đoạn 2016-2019, kinh phí thực hiện tăng từ 7,2 triệu lên 23,8 triệu đồng, tổ chức 110 buổi tuyên truyền trợ giúp pháp lý cho hơn 4.600 lượt người nghèo. Huyện đã cấp phát 55.500 ấn phẩm báo chí chuyên đề và tổ chức từ 3 đến 5 phiên tòa xét xử lưu động hàng năm tại các cụm xã.

Tổ chức bộ máy cơ quan quản lý nhà nước về dân tộc cấp huyện hiện có cấu trúc ra sao?

Phòng Dân tộc huyện Võ Nhai hoạt động chuyên trách theo Nghị định số 05/2011/NĐ-CP của Chính phủ. Đến năm 2018, cơ quan có 4 biên chế gồm 2 lãnh đạo và 2 chuyên viên. Đội ngũ công chức duy trì lịch công tác nắm tình hình địa bàn tối thiểu 2 lần mỗi tháng tại 15 xã, thị trấn.

Kết luận

  • Luận văn đã chuẩn hóa hệ thống lý luận và khung thể chế quản lý nhà nước về công tác dân tộc cấp huyện theo Nghị định số 05/2011/NĐ-CP của Chính phủ.
  • Phân tích thực chứng toàn diện điều kiện kinh tế - xã hội huyện Võ Nhai với quy mô 83.943 ha, dân số 68.177 người và tỷ lệ đồng bào dân tộc thiểu số chiếm 69,75%.
  • Nhận diện rõ thách thức nghèo đa chiều khi hộ dân tộc thiểu số chiếm 78,51% tổng số hộ nghèo, trong đó người Dao chiếm 25,66% và người Mông chiếm 21,69%.
  • Đánh giá hiệu quả công tác tuyên truyền với 110 buổi trợ giúp pháp lý cho hơn 4.600 lượt người nghèo và bài học giải quyết dứt điểm tà đạo giữ vững an ninh trật tự.
  • Đề xuất 5 nhóm giải pháp đồng bộ gắn với mục tiêu giảm nghèo từ 4% đến 6% mỗi năm trong giai đoạn 2020-2025 và nâng cấp năng lực bộ máy quản lý.

Đóng góp quan trọng nhất của luận văn là cung cấp giải pháp chuyển đổi phương thức quản lý từ trợ cấp thụ động sang kiến tạo sinh kế nội sinh cho đồng bào. Các khuyến nghị trong luận văn mở ra lộ trình hành động thiết thực cho giai đoạn 2021-2025 nhằm thực hiện thắng lợi Chương trình mục tiêu quốc gia phát triển kinh tế - xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi. Quý độc giả, các nhà quản lý và nhà nghiên cứu hãy tham khảo toàn văn công trình để áp dụng hiệu quả vào thực tiễn quản lý địa phương.