Tổng quan nghiên cứu

Làng Vọng Nguyệt, xã Tam Giang, huyện Yên Phong, tỉnh Bắc Ninh là vùng đất cổ giàu truyền thống văn hiến với hơn 800 hộ dân và trên 2.000 nhân khẩu. Nằm bên ngã ba sông Cầu và sông Cà Lồ, địa bàn xã Tam Giang có diện tích tự nhiên 864,8 ha cùng mật độ dân số 1.206 người/km2, sở hữu bề dày lịch sử gắn liền với phòng tuyến Như Nguyệt lừng danh năm 1077. Lễ hội làng Vọng Nguyệt được tổ chức định kỳ 5 năm một lần vào các ngày từ 11 đến 13 tháng Hai âm lịch, là sinh hoạt văn hóa tín ngưỡng đặc sắc phản ánh toàn diện đời sống tâm linh của một làng khoa bảng và làng nghề tơ tằm cổ truyền.

Vấn đề nghiên cứu trọng tâm của luận văn là làm rõ vị trí, vai trò của lễ hội làng Vọng Nguyệt trong đời sống cộng đồng cư dân nông thôn Đồng bằng Bắc Bộ, đồng thời nhận diện những biến đổi văn hóa dưới tác động của quá trình công nghiệp hóa và đô thị hóa từ sau năm 2007. Mục tiêu nghiên cứu bao gồm: hệ thống hóa cơ sở lý luận về đời sống văn hóa và môi trường văn hóa; khảo sát toàn diện tiến trình tổ chức lễ hội năm 2016 gắn với sự kiện khánh thành trùng tu đình làng; phân tích chức năng cố kết cộng đồng và đề xuất giải pháp bảo tồn phát triển.

Nghiên cứu mang ý nghĩa thực tiễn sâu sắc khi cung cấp nguồn dữ liệu thực nghiệm chuẩn xác về một làng quê sản xuất từ 60 đến 70 tấn tơ mỗi năm (chiếm xấp xỉ 10% sản lượng cả nước) và sở hữu dòng họ Ngô danh giá với 5 đời liên tiếp đỗ đại khoa. Kết quả luận văn đóng góp cơ sở khoa học giúp chính quyền địa phương hoàn thiện chính sách bảo tồn di sản văn hóa phi vật thể kết hợp phát triển du lịch bền vững.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Luận văn vận dụng lý thuyết đời sống văn hóa và môi trường văn hóa được định hình từ Nghị quyết Trung ương 5 khóa VIII năm 1998, kết hợp quan điểm kinh điển của học giả Đào Duy Anh năm 1938 về văn hóa sinh hoạt và nghiên cứu của học giả A. Arnoldov năm 1981 về hai thành tố cốt lõi là yếu tố vật thể và nhân cách văn hóa. Bên cạnh đó, nghiên cứu tích hợp lý thuyết cấu trúc - chức năng của Đinh Gia Khánh năm 1993 và Toan Ánh năm 1968 để phân tích mối tương quan hữu cơ giữa phần lễ và phần hội.

Bốn khái niệm then chốt được xác lập bao gồm: đời sống văn hóa tinh thần, môi trường văn hóa làng xã, không gian thiêng và cấu trúc biểu tượng phồn thực. Luận văn phân tích lễ hội như một chỉnh thể văn hóa nguyên hợp, nơi diễn ra sự tương tác giữa hơn 2.000 cư dân với hệ thống 4 di tích lịch sử văn hóa tiêu biểu của địa phương gồm Chùa Khai Nghiêm, Đình Vọng Nguyệt, Đền Vọng Nguyệt và Nhà thờ 5 tiến sĩ họ Ngô.

Phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu sử dụng nguồn dữ liệu đa tầng gồm dữ liệu sơ cấp từ điền dã dân tộc học và dữ liệu thứ cấp từ 36 đạo sắc phong giai đoạn 1673-1924 cùng văn bia chùa Khai Nghiêm khắc năm 1335. Cỡ mẫu phỏng vấn sâu được xác lập gồm 45 cá nhân đại diện, được lựa chọn theo phương pháp chọn mẫu mục đích (purposive sampling) kết hợp phân tầng theo nhóm tuổi và vai vế dòng họ. Mẫu nghiên cứu bao gồm: 15 bô lão am hiểu phong tục, 20 người dân trực tiếp thực hành nghi lễ và 10 cán bộ quản lý văn hóa cấp xã, huyện.

Phương pháp phân tích được xây dựng trên nền tảng quan sát tham dự trực tiếp trong suốt 3 ngày diễn ra đại lễ (11-13 tháng Hai năm 2016) kết hợp phân tích văn bản học và đối sánh lịch sử. Lý do lựa chọn tổ hợp phương pháp này xuất phát từ đặc trưng của chuyên ngành Văn hóa học, đòi hỏi nhà nghiên cứu phải tiếp cận từ góc nhìn bên trong (emic approach) nhằm giải mã chính xác các tầng ý nghĩa biểu tượng của nghi thức và trò diễn dân gian. Timeline nghiên cứu được thực hiện liên tục trong 24 tháng, từ tháng 3 năm 2014 đến tháng 7 năm 2016.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Thứ nhất, lễ hội Vọng Nguyệt thể hiện tính liên kết cộng đồng cao thông qua quy mô huy động nguồn lực lớn. Năm 2016, 100% trong số hơn 800 hộ dân đã tham gia đóng góp định mức 120.000 đồng/hộ cùng hàng trăm triệu đồng tiền công đức tự nguyện. Đoàn rước quy tụ hơn 100 nhân sự trực tiếp, gồm 16 thiếu nữ rước 2 kiệu bát cống, 8 thanh niên dắt ngựa ông, 8 thiếu nữ điều hành ngựa bà và hàng trăm người dân xếp theo thứ tự trang phục áo đỏ, áo xanh kéo dài hơn 500 mét qua các trục đường làng.

Thứ hai, lễ hội bảo tồn nguyên vẹn các lớp biểu tượng nông nghiệp và tín ngưỡng phồn thực cổ xưa. Sự tích cụ tổ Chu Thị Bột (bà Thí Thóc) được tái hiện sống động qua nghi thức người dân tung hàng chục kilôgam thóc dưới chân tượng rước. Các trò chơi dân gian như đánh đu nam nữ, sới vật hình tròn đặt trên nền sân vuông, trò bắt vịt tại ao làng và hội cờ người 32 quân thể hiện sâu sắc ước vọng âm dương hòa hợp, cầu cho mưa thuận gió hòa và mùa màng bội thu.

Thứ ba, không gian sinh hoạt ẩm thực cộng cảm với quy mô 50 mâm cỗ tại đình làng khẳng định trật tự xã hội truyền thống theo nguyên tắc "hương ước trọng xỉ". Vị trí ngồi ăn được phân định nghiêm ngặt theo lớp tuổi từ cụ thượng thọ đến các độ tuổi kế tiếp, tạo nên cơ chế cân bằng vị thế xã hội và gắn kết bền chặt giữa các dòng họ trong làng.

Thứ tư, quá trình công nghiệp hóa mang lại tác động kép. Thu nhập bình quân từ 5 đến 6 triệu đồng/tháng tại các khu công nghiệp giúp 100% hộ dân sở hữu phương tiện sinh hoạt hiện đại và tăng nguồn lực tài trợ lễ hội, nhưng đồng thời làm giảm khoảng 15% thời lượng tham gia trực tiếp của lực lượng lao động trẻ vào các khâu tập dượt nghi lễ.

Thảo luận kết quả

Nguyên nhân cốt lõi duy trì sức sống bền bỉ của lễ hội Vọng Nguyệt nằm ở nền tảng văn hóa vững chắc của dòng họ Ngô 5 đời đỗ đại khoa kết hợp nguồn lực kinh tế dồi dào từ nghề dâu tằm tơ (cung ứng gần 10% sản lượng tơ sợi cả nước).

Dữ liệu nghiên cứu về cơ cấu nguồn lực và nhân sự có thể được trực quan hóa thông qua biểu đồ tròn thể hiện tỷ trọng thành phần tham gia lễ hội (40% người cao tuổi, 35% thanh niên và phụ nữ, 25% thiếu nhi) và bảng thống kê nguồn thu ngân sách tổ chức (chiếm 60% từ đóng góp cố định của hộ dân, 25% từ nguồn xã hội hóa công đức và 15% trích từ quỹ hoa lợi công ích). So sánh với các lễ hội lân cận ven sông Cầu, lễ hội Vọng Nguyệt có nét độc đáo vượt trội nhờ sự kết hợp nhuần nhuyễn giữa di tích quốc gia Nhà thờ 5 tiến sĩ họ Ngô (Quyết định 4481/QĐ-BVHTTDL năm 2015) với không gian diễn xướng Dân ca Quan họ được UNESCO vinh danh năm 2009.

Đề xuất và khuyến nghị

Nhằm bảo tồn và phát huy giá trị lễ hội làng Vọng Nguyệt trong giai đoạn mới, luận văn đề xuất 4 nhóm giải pháp trọng tâm:

Thứ nhất, chuẩn hóa và số hóa 100% hồ sơ khoa học di sản bao gồm 36 đạo sắc phong, văn bia đá chùa Khai Nghiêm lập năm 1335 và hệ thống gia phả họ Ngô. Thời gian thực hiện từ năm 2017 đến năm 2020, do Ủy ban nhân dân xã Tam Giang phối hợp cùng Phòng Văn hóa và Thông tin huyện Yên Phong chủ trì thực hiện nhằm lưu trữ an toàn và quảng bá trực tuyến.

Thứ hai, xây dựng quy chế quản lý lễ hội định kỳ 5 năm một lần gắn liền với đề án phát triển tuyến du lịch văn hóa ven sông Cầu và trải nghiệm làng nghề dâu tằm tơ. Chỉ tiêu đề ra là nâng tỷ lệ khách du lịch thập phương tăng từ 20% đến 30% trong mỗi kỳ hội, giao Ban Tổ chức lễ hội thôn Vọng Nguyệt phối hợp cùng các doanh nghiệp lữ hành triển khai trong giai đoạn 2018-2021.

Thứ ba, thành lập Câu lạc bộ thực hành Quan họ và phục dựng bài bản các trò diễn dân gian (đánh đu, cờ người, đấu vật), đặt mục tiêu 100% học sinh trường Trung học cơ sở Tam Giang được tiếp cận di sản từ năm học 2017-2018. Đoàn Thanh niên thôn và Hội Người cao tuổi chịu trách nhiệm trực tiếp truyền dạy lề lối hát thờ và nghi thức tế lễ cho thế hệ trẻ.

Thứ tư, hoàn thiện quy hoạch bảo vệ không gian cảnh quan quần thể di tích Đình - Đền - Chùa Vọng Nguyệt và Nhà thờ họ Ngô đạt 100% chuẩn phân vùng bảo vệ cấp 1 và cấp 2 theo Luật Di sản Văn hóa, hoàn thành trước năm 2022 dưới sự phê duyệt và cấp vốn từ Ủy ban nhân dân huyện Yên Phong.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Luận văn là tài liệu tham khảo giá trị cho 4 nhóm đối tượng chuyên môn cụ thể:

Thứ nhất, các nhà nghiên cứu văn hóa học, dân tộc học và nhân học tôn giáo. Công trình cung cấp hệ thống tư liệu thực địa chi tiết về cấu trúc nghi lễ, đám rước và biểu tượng phồn thực tại một làng cổ châu thổ sông Hồng với cỡ mẫu khảo sát thực tế 45 người.

Thứ hai, cán bộ quản lý văn hóa và chính quyền địa phương tại tỉnh Bắc Ninh. Luận văn gợi mở mô hình quản lý hài hòa giữa phát triển công nghiệp hóa hiện đại và bảo tồn thiết chế văn hóa làng xã cho hơn 800 hộ dân tại cơ sở.

Thứ ba, giảng viên, học viên cao học và sinh viên các khối ngành Văn hóa học, Lịch sử, Du lịch và Việt Nam học. Tài liệu đóng vai trò như một case study điển hình về phương pháp điền dã kết hợp lý thuyết đời sống văn hóa để hoàn thiện đề tài nghiên cứu chuyên ngành.

Thứ tư, ban khánh tiết di tích, cộng đồng nghệ nhân làng nghề dâu tằm tơ và các đơn vị phát triển du lịch di sản. Công trình cung cấp giải pháp khai thác giá trị kinh tế - văn hóa từ lễ hội 5 năm một lần để thúc đẩy du lịch sinh thái nông thôn.

Câu hỏi thường gặp

Lễ hội làng Vọng Nguyệt được tổ chức với chu kỳ và thời gian cụ thể như thế nào?
Lễ hội làng Vọng Nguyệt được tổ chức định kỳ 5 năm một lần vào các ngày từ 11 đến 13 tháng Hai âm lịch. Quy mô năm 2016 diễn ra trong 3 ngày liên tục, gắn liền với lễ khánh thành tu bổ ngôi đình làng cổ được xây dựng lại từ năm 1880, thu hút sự tham gia của hơn 2.000 dân làng và hàng nghìn khách thập phương.

Điểm độc đáo nhất trong nghi thức rước kiệu tại lễ hội Vọng Nguyệt là gì?
Điểm đặc sắc nhất là sự xuất hiện của tượng cụ tổ Thí Thóc (bà Chu Thị Bột). Khi đoàn rước gồm 16 thiếu nữ khiêng 2 kiệu bát cống và 8 thanh niên dắt ngựa đi qua các ngõ xóm, nhân dân phủ hàng chục kilôgam thóc dưới chân tượng để tri ân công đức cứu đói dân làng trong nạn mất mùa xưa kia.

Vai trò của dòng họ Ngô đối với sự hình thành và duy trì lễ hội ra sao?
Dòng họ Ngô là một trong "tứ lệnh tộc" đất Kinh Bắc với truyền thống 5 đời đỗ đại khoa và lịch sử hơn 550 năm. Họ Ngô đóng vai trò nòng cốt trong việc tổ chức, chuẩn bị lễ vật và gìn giữ di tích Nhà thờ 5 tiến sĩ được xếp hạng di tích quốc gia năm 2015.

Bữa ăn cộng cảm trong lễ hội mang ý nghĩa cấu trúc xã hội như thế nào?
Bữa ăn cộng cảm gồm 50 mâm cỗ tại đình làng thực hiện nghiêm quy tắc "hương ước trọng xỉ". Vị trí ngồi được sắp xếp theo lớp tuổi từ cụ thượng thọ trở xuống, thể hiện sự bình đẳng theo độ tuổi và củng cố tinh thần đoàn kết của hơn 800 hộ dân trong làng.

Sự phát triển của các khu công nghiệp tại Yên Phong ảnh hưởng ra sao đến lễ hội?
Thu nhập 5-6 triệu đồng/tháng từ khu công nghiệp nâng cao đời sống của 100% hộ dân, giúp tạo nguồn lực kinh phí xã hội hóa dồi dào, song làm giảm khoảng 15% thời gian chuẩn bị và tham gia lễ hội của lực lượng lao động trẻ.

Kết luận

Luận văn thạc sĩ "Lễ hội làng Vọng Nguyệt trong đời sống người dân xã Tam Giang, huyện Yên Phong, tỉnh Bắc Ninh" đã hoàn thành toàn diện các mục tiêu nghiên cứu với 5 đóng góp học thuật và thực tiễn cốt lõi:

  • Hệ thống hóa toàn diện cơ sở lý luận về đời sống văn hóa và môi trường văn hóa ứng dụng tại làng quê Bắc Bộ.
  • Khảo sát và ghi chép chuẩn xác toàn bộ tiến trình đại lễ năm 2016 với sự tham gia của hơn 2.000 nhân khẩu.
  • Làm sáng tỏ các giá trị lịch sử - tâm linh độc đáo gắn với di tích quốc gia Nhà thờ 5 tiến sĩ họ Ngô và chùa Khai Nghiêm 700 năm tuổi.
  • Nhận diện chính xác tác động kép của công nghiệp hóa hiện đại đối với việc chuyển đổi cấu trúc tham gia lễ hội của cư dân nông thôn.
  • Đề xuất hệ thống 4 nhóm giải pháp đồng bộ định hướng giai đoạn 2017-2022 nhằm bảo tồn bền vững di sản văn hóa.

Timeline kế tiếp hướng tới mở rộng nghiên cứu đối sánh chuỗi lễ hội dọc lưu vực sông Cầu. Các cơ quan quản lý và nhà nghiên cứu quan tâm có thể ứng dụng ngay khung giải pháp này để hoàn thiện chính sách bảo tồn di sản văn hóa tại địa phương.