Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ HỢP ĐỒNG LAO ĐỘNG VÔ HIỆU VÀ XỬ LÝ HỢP ĐỒNG LAO ĐỘNG VÔ HIỆU 1. Khái niệm, phân loại và tuyên bố hợp đồng lao động vô hiệu 1. Khái niệm về hợp đồng lao động và hợp đồng lao động vô hiệu Trong nền kinh tế thị trường, sức lao động là hàng hoá. Người lao động có quyền làm việc (bán sức lao động) cho bất kỳ người sử dụng lao động nào, ở bất kỳ nơi nào mà pháp luật không cấm.
Còn người sử dụng lao động có quyền lựa chọn, tuyển dụng lao động phù hợp với nhu cầu sản xuất kinh doanh của mình. Việc tuyển dụng lao động hiện nay được thực hiện dưới một số hình thức: bầu cử, biên chế nhà nước và hợp đồng lao động. Mỗi hình thức tuyển dụng lao động này được áp dụng trong một phạm vi nhất định phù hợp với tính chất của quá trình sử dụng lao động. Song về bản chất, chúng đều dựa trên những quy định của pháp luật.
Qua những quy định đó, nhà nước tạo ra môi trường pháp lý để các bên tham gia vào quan hệ lao động, đồng thời là cơ sở bảo đảm quyền tự do làm việc của công dân. Trong các hình thức tuyển dụng lao động đó, hợp đồng lao động là hình thức tuyển dụng lao động chủ yếu và phổ biến. Bởi vì, so với các hình thức tuyển dụng lao động khác, việc tuyển dụng lao động theo HĐLĐ được áp dụng trong phạm vi và đối tượng rộng rãi hơn, nó bảo đảm quyền tự do tuyển dụng lao động của người sử dụng lao động và tự do lựa chọn việc làm của người lao động Trong pháp luật lao động, chế định HĐLĐ là chế định chủ yếu có vai trò đặc biệt quan trọng. HĐLĐ chính là công cụ để xác lập, thay đổi hoặc chấm dứt quan hệ lao động giữa người lao động và người sử dụng lao động.
Hợp đồng lao động áp dụng các nguyên tắc của các loại hợp đồng nói chung đó là sự tự do, tự nguyện và bình đẳng giữa các bên giao kết. 5 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Đây thực chất là một loại thỏa thuận nhưng mang tính chất đặc thù của quan hệ lao động. Tổ chức lao động quốc tế (ILO) định nghĩa HĐLĐ như sau: “HĐLĐ là một sự ràng buộc pháp lý giữa một người sử dụng lao động và một người công nhân trong đó xác lập các điều kiện và chế độ làm việc” [17]. Đây là một khái niệm tương đối đầy đủ các yếu tố của một HĐLĐ, tuy nhiên vẫn hạn chế ở việc quy định người lao động chỉ là công nhân.
Hiện nay BLLĐ sửa đổi 2012 (Bộ luật này đã được Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam khóa XIII, kỳ họp thứ 3 thông qua ngày 18/ 6/2012 và có hiệu lực thi hành từ ngày 1/5/2013) đưa ra khái niệm HĐLĐ như sau: “ Hợp đồng lao động là sự thỏa thuận giữa người lao động và người sử dụng lao động về việc làm có trả lương, điều kiện làm việc, quyền và nghĩa vụ của mỗi bên trong quan hệ lao động” [26]. Nhìn chung các khái niệm về HĐLĐ đều đã nêu được các đặc điểm chủ yêu để nhận diện HĐLĐ cũng như nội dung chính để phân biệt HĐLĐ với các loại hợp đồng khác. Như vậy, HĐLĐ được hiểu là sự thỏa thuận giữa người lao động và người sử dụng lao động về các nội dung cụ thể của hợp đồng, trong đó vấn đề quyền và nghĩa vụ của các bên là nội dung chủ yếu. Từ đó có thể nhận thấy các đặc điểm của HĐLĐ như sau: - Đối tượng của HĐLĐ là việc làm có trả công - Chủ thể của HĐLĐ là người lao động và người sử dụng lao động - Có sự phụ thuộc pháp lý của người lao động đối với người sử dụng lao động - HĐLĐ có tính đích danh - HĐLĐ chịu sự điều chỉnh của thỏa ước lao động và pháp luật lao động.
HĐLĐ được hiểu là một sự thỏa thuận, tức là sự thể hiện ý chí của các bên chấp nhận sự ràng buộc xoay quanh vấn đề việc làm có trả lương. Tuy 6 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com nhiên không phải mọi HĐLĐ đều có hiệu lực pháp lý và được nhà nước công nhận, bảo vệ. Chính vì vậy khái niệm HĐLĐ vô hiệu được sử dụng khá phổ biến trong khoa học pháp lý và thực tiễn giải quyết tranh chấp về HĐLĐ. Theo từ điển tiếng Việt, “vô hiệu” có nghĩa là không có hiệu lực pháp luật [28].
Như vậy, HĐLĐ vô hiệu được hiểu là một hợp đồng không có giá trị pháp lý và không có giá trị bắt buộc thực hiện đối với các bên giao kết. Trong khoa học pháp lý khái niệm HĐLĐ vô hiệu được dung để chỉ tình trạng một hợp đồng trái với ý chí của các bên hoặc trái với điều kiện có hiệu lực của pháp luật hoặc không có hiệu lực ràng buộc các bên. Khi hợp đồng bị tuyên vô hiệu có nghĩa phần bị tuyên vô hiệu đó không được pháp luật thừa nhận kể từ khi ký kết. Theo tác giả Phạm Công Bảy trong cuốn “Soạn thảo, ký kết HĐLĐ và giải quyết tranh chấp lao động” cho rằng “HĐLĐ vô hiệu là HĐLĐ vi phạm các quy định của pháp luật về HĐLĐ hoặc có nội dung trái với các thỏa ước đang áp dụng trong doanh nghiệp” [3], nói cách khác “việc giao kết HĐLĐ mà vi phạm các quy định của BLLĐ là trái pháp luật và bị coi là vô hiệu” [3].
Trong chuyên đề bàn về hiệu lực của HĐLĐ và việc xử lý hợp đồng vô hiệu, tác giả Phạm Thị Chính đưa ra các yêu cầu để xác định một HĐLĐ có hiệu lực và từ đó xác định HĐLĐ vô hiệu là hợp đồng không đáp ứng đầy đủ các yêu cầu có hiệu lực của hợp đồng. Các yêu cầu bảo đảm hiệu lực của HĐLĐ gồm: Yêu cầu về nguyên tắc giao kết, nội dung chủ yếu của hợp đồng, các hành vi pháp luật cấm, yêu cầu về chủ thể (độ tuổi của NSDLĐ, NLĐ, thẩm quyền giao kết hợp đồng), yêu cầu về hình thức của hợp đồng, yêu cầu về cấp phép đối với người lao động nước ngoài [9]. Quan điểm trên cũng giống với quan điểm của tác giả Lê Thị Hoài Thu cho rằng: “HĐLĐ vô hiệu là hợp đồng không đảm bảo các điều kiện có hiệu lực của pháp luật. Do vậy nếu HĐLĐ vi phạm một trong các điều kiện về chủ thể, nguyên tắc giao kết hoặc có nội dung trái pháp luật và thỏa ước lao động tập thể thì hợp đồng đó vô hiệu” [31].
7 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Pháp luật lao động Việt Nam, cụ thể BLLĐ 2012 hiện nay cũng không đưa ra khái niệm cụ thể về HĐLĐ vô hiệu mà chỉ dựa trên các điều kiện có hiệu lực của HĐLĐ. Trong BLDS 2005, những quy định về giao dịch dân sự vô hiệu được áp dụng chung cho hợp đồng dân sự và HĐLĐ. Điều 127 BLDS quy định “giao dịch dân sự không có một trong các điều kiện được quy định tại điều 122 của Bộ luật này thì vô hiệu” [25]. Điều 122 quy định: 1.
Giao dịch dân sự có hiệu lực khi có đủ các điều kiện sau: a. Người tham gia giao dịch có năng lực hành vi dân sự; b. Mục đích và nội dung của giao dịch không vi phạm điều cấm của pháp luật, không trái đạo đức xã hội; c. Người tham gia giao dịch hoàn toàn tự nguyện d.
Hình thức giao dịch dân sự là điều kiện có hiệu lực của giao dịch trong trường hợp pháp luật có quy định. [25] Như vậy, có thể hiểu HĐLĐ vô hiệu là hợp đồng trong đó không đáp ứng các yêu cầu của pháp luật về điều kiện có hiệu lực của hợp đồng theo quy định của pháp luật và không làm phát sinh quyền và nghĩa vụ của các bên trong hợp đồng kể từ thời điểm xác lập. Cần phải phân biệt HĐLĐ vô hiệu và HĐLĐ mất hiệu lực hoặc bị chấm dứt hiệu lực.Hợp đồng mất hiệu lực là hợp đồng có hiệu lực pháp luật vào thời điểm xác lập và sau đó rơi vào tình trạng mất hiệu lực.Hợp đồng bị chấm dứt hiệu lực là hợp đồng có hiệu lực cho đến thời điểm bị chấm dứt hiệu lực. Phân loại hợp đồng lao động vô hiệu Hiện nay trong khoa học pháp lý còn có nhiều cách phân loại HĐLĐ vô hiệu khác nhau và dựa vào những tiêu chí phân loại khác nhau: - Dựa vào mức độ vô hiệu có hai loại là HĐLĐ vô hiệu toàn bộ và HĐLĐ vô hiệu từng phần.
HĐLĐ vô hiệu toàn bộ là khi các yêu cầu của pháp luật không được 8 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com tuân thủ, làm ảnh hưởng đến toàn bộ quyền và lợi ích chính đáng của các chủ thể hoặc ảnh hưởng đến lợi ích chung của xã hội hội tới mức không thể để hợp đồng đó phát sinh quyền và nghĩa vụ giữa hai bên. HĐLĐ vô hiệu từng phần được hiểu là hợp đồng có một hoặc một số nội dung bị coi là trái pháp luật nhưng phần vi phạm này không ảnh hưởng đến những phần còn lại trong hợp đồng hay các nội dung khác đúng pháp luật vẫn có giá trị thực hiện. Điều này có nghĩa phần thỏa thuận đúng pháp luật vẫn phát sinh hiệu lực, phần vô hiệu không có giá trị ràng buộc hai bên và nó có thể bị hủy bỏ hoặc sửa đổi cho đúng quy định của pháp luật. Trường hợp HĐLĐ vô hiệu từng phần khi nội dung của phần đó vi phạm pháp luật nhưng không ảnh hưởng đến các phần còn lại của hợp đồng.
Trong trường hợp một phần nội dung của hợp đồng lao động quy định quyền lợi của người lao động thấp hơn quy định trong pháp luật về lao động, nội quy lao động, thoả ước lao động tập thể đang áp dụng hoặc nội dung của hợp đồng lao động hạn chế các quyền khác của người lao động thì một phần nội dung đó bị vô hiệu [26, Điều 50]. - Dựa trên nguyên nhân của HĐLĐ vô hiệu có thể phân thành các loại HĐLĐ vô hiệu sau: Hợp đồng lao động vô hiệu do vi phạm điều kiện chủ thể: Là loại HĐLĐ được giao kết khi các bên không có hoặc không đủ thẩm quyền theo quy định của pháp luật. Hay nói cách khác chính là năng lực ký kết của hai bên gồm năng lực pháp luật và năng lực hành vi lao động. Về phía NSDLĐ thông thường do người đại diện của NSDLĐ và người đại diện là cá nhân hoặc NSDLĐ là cá nhân phải đủ 18 tuổi trở lên, có các điều kiện về thuê mướn, sử dụng lao động.