Chương 1 KHÁI QUÁT VỀ XÂY DỰNG ĐỜI SỐNG VĂN HÓA CƠ SỞ VÀ HUYỆN BÌNH GIANG, TỈNH HẢI DƯƠNG 1. Những khái niệm cơ bản 1. Văn hóa cơ sở Khái niệm Theo đại Từ điển Tiếng Việt cho rằng: "cơ sở là cái làm nên nền tảng, trong quan hệ với những cái xây dựng trên đó hoặc dựa trên đó mà tồn tại, phát triển” [42, tr. Trên cơ sở thực tế xã hội hiện nay, khái niệm cơ sở được áp dụng với đơn vị hành chính ở nhóm nhỏ nhất, cho nên văn hóa cơ sở cũng sẽ được áp dụng với các đối tượng thuộc thành phần thôn, tổ dân phố hay buôn, làng, bản ấp.
"Văn hóa cơ sở là hình thức tổ chức cơ bản của các hoạt động văn hóa. Đó là những cộng đồng dân cư liên kết với nhau trong các sinh hoạt vật chất và tinh thần diễn ra trong đời sống hàng ngày" [19, tr. Như vậy, văn hóa cơ sở bao gồm các hoạt động văn hoá diễn ra gắn liền với sinh hoạt của các cá nhân và cộng đồng trong những mối liên kết nhất định. Mỗi cộng đồng dân cư sống cố định và hình thành một đơn vị hành chính (gia đình, làng, xóm, ấp, bản, tổ dân phố…).
Đời sống văn hóa và đời sống văn hóa cơ sở Khái niệm đời sống văn hóa: Các nhà nghiên cứu Viện Văn hoá trong tác phẩm Xây dựng đời sống văn hóa cơ sở, Nxb Văn hóa Thông tin, Hà Nội xuất bản năm 1994 quan niệm về đời sống văn hóa như sau: Đời sống văn hóa là các hoạt động của quá trình sản xuất, phân phối, lưu giữ và tiêu thụ những tác phẩm văn hóa (sản phẩm văn hóa). Quá trình này sẽ biến các giá trị văn hóa tiềm tàng thành 12 những giá trị văn hóa hiện thực sao cho những giá trị văn hóa đó đi vào đời sống hàng ngày của mọi người, trở thành một bộ phận không thể tách rời, một thành tố tất yếu của đời sống. Đời sống văn hóa còn là quá trình sản xuất và tiêu thụ những sản phẩm văn hóa do chính con người tạo ra. Nhờ vào quá trình này, các giá trị văn hóa đi sâu vào đời sống của người dân, trở thành một bộ phận không thể tách rời của đời sống nhân dân.
Có thể thấy đời sống văn hóa được biểu hiện trong tất cả các hoạt động sống của con người, là khái niệm mang tính bao chùm, thể hiện cụ thể mọi mặt giá trí của đời sống vật chất và đời sống tinh thần của con người. Tuy nhiên, khi nền văn hóa xã hội phát triển thì sự đáp ứng những nhu cầu của con người cũng đạt đến trình độ tương ứng. Chính vì thế, xây dựng đời sống văn hóa phải xây dựng một cách tổng thể, bao quát toàn bộ các nhiệm vụ của đời sống xã hội. Đời sống văn hóa được đánh giá tồn tại thông qua đời sống văn hóa của từng cá nhân, cộng đồng.
Đời sống văn hóa cơ sở Đời sống văn hóa cơ sở là một yếu tố góp phần quan trọng trong công tác xây dựng đời sống văn hóa. Đời sống văn hóa cơ sở là khái niệm bao gồm các điều kiện vật chất, các sản phẩm văn hóa, các hoạt động văn hóa, các thiết chế văn hóa ở đơn vị cơ sở được con người sử dụng và thực thi các hoạt động văn hóa nhằm xây dựng một đời sống văn hóa lành mạnh, đáp ứng những nhu cầu văn hóa đa dạng và ngày càng đòi hỏi cao của các tầng lớp nhân dân trên từng địa bàn dân cư cụ thể. Xây dựng đời sống văn hóa cơ sở Xây dựng đời sống văn hóa cơ sở là công tác xây dựng, tổ chức các hoạt động văn hóa phù hợp với thực tế của các địa phương. Đây được coi là hoạt động xây dựng đời sống văn hóa ngay trong cuộc sống hàng ngày của người dân.
Bởi vì cấp cơ sở là nơi diễn ra các hoạt động kinh tế, chính trị, 13 văn hóa, xã hội. Ở cấp cơ sở, quần chúng nhân dân cùng tham gia xây dựng đời sống văn hóa dưới sự chỉ đạo của các cấp chính quyền địa phương và hưởng thụ chính những giá trị văn hóa đó do mình tạo ra. Đời sống văn hóa cơ sở là những hoạt động phong phú và đa dạng hướng tới các giá trị văn hóa cao đẹp. Khi nói đến đời sống văn hóa người ta thường nói đến quá trình sản xuất và tái sản xuất ra các giá trị văn hóa.
Tóm lại xây dựng đời sống văn hóa cơ sở là toàn bộ những hoạt động của con người, đáp ứng nhu cầu về vật chất, tinh thần nhằm duy trì cuộc sống của con người. Đời sống văn hóa bao gồm những hoạt động văn hóa của người dân và những hoạt động văn hóa của các tổ chức kinh tế, xã hội tác động vào hoạt động của văn hóa cộng đồng. Bản thân khái niệm đời sống văn hóa đã hàm chứa rất nhiều nội dung đa dạng, phong phú, nhưng trên thực tế xây dựng đời sống văn hóa cơ sở lại càng đa dạng, phong phú hơn nhiều. Bởi vì xây dựng đời sống văn hóa cơ sở là góp phần xây dựng con người có đủ trí lực, thể lực và khả năng thích ứng trong thời kỳ mới góp phần thực hiện mục tiêu “Dân giàu, nước mạnh, xã hội dân chủ, công bằng, văn minh”.
Hệ thống các văn bản về xây dựng đời sống văn hóa cơ sở 1. Các văn bản của Đảng và Nhà nước Năm 1998, Đảng ta ban hành Nghị quyết trung ương 5 (khóa VIII) về xây dựng và phát triển nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc văn hóa dân tộc. Nghị quyết đã được triển khai 15 năm, được toàn Đảng, toàn quân, toàn dân đồng tình ủng hộ, được cả hệ thống chính trị quan tâm, tổ chức thực hiện. Có thể nói, đây không chỉ là một văn kiện mang tính đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng trên lĩnh vực văn hóa, mà còn thể hiện tư duy lý luận văn hóa một cách toàn diện và sâu sắc trong giai đoạn cách mạng mới.
Chỉ thị số 27-CT/TW ngày 12 tháng 1 năm 1998 của Bộ Chính trị về thực hiện nếp sống văn minh trong việc cưới, việc tang, lễ hội; Kết luận số 14 51-KL/TW ngày 22/7/2009 của Bộ Chính trị (khoá X); Chỉ thị số 05/CT- TTg ngày 09 tháng 02 năm 2018 của Thủ tướng Chính phủ về đẩy mạnh việc thực hiện nếp sống văn minh trong việc cưới, việc tang. Các văn bản trên đã từng bước hoàn thiện các chủ trương của Đảng và Nhà nước về công tác xây dựng nếp sống văn minh trong việc cưới, việc tang và lễ hội. Là cơ sở để các địa phương xây dựng, hoàn thiện và tổ chức thực hiện các quy định về nếp sống văn minh trong việc cưới, việc tang và lễ hội phù hợp với đặc điểm, điều kiện, phong tục tập quán tốt đẹp của từng địa phương. Quyết định số 01/2000/QĐ-BCĐ ngày 12 tháng 4 năm 2000 của Trưởng Ban chỉ đạo phong trào “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hoá” về việc ban hành Kế hoạch triển khai phong trào “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hoá”.
Quyết định có ý nghĩa là căn cứ để triển khai thực hiện các nhiệm vụ xây dựng đời sống văn hóa ở cơ sở. Nêu các chỉ tiêu để thực hiện và 5 nội dung, 7 phong trào cụ thể để thực hiện. Quyết định 581/QĐ-TTg ngày 6 tháng 5 năm 2009 về việc phê duyệt chiến lược phát triển văn hóa đến năm 2020. Việc xây dựng “Chiến lược phát triển văn hóa đến năm 2020” là nhằm cụ thể hóa, thể chế hóa các quan điểm, đường lối của Đảng về phát triển văn hóa, xác lập những mục tiêu, nhiệm vụ và các giải pháp chủ yếu; là cơ sở hoạch định quy hoạch, kế hoạch để từng bước thực hiện việc xây dựng nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế.
Quyết định 1610/QĐ-TTg ngày 16 tháng 9 năm 2011 của Thủ tướng Chính phủ về việc phê duyệt chương trình thực hiện phong trào “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa” giai đoạn 2011- 2015, định hướng đến năm 2020. Quyết định có mục đích nhằm nâng cao chất lượng phong trào xây dựng gia đình văn hóa; thôn, làng, ấp, bản văn hóa; 15 tổ dân phố văn hóa; cơ quan, đơn vị, doanh nghiệp đạt chuẩn văn hóa; tạo chuyển biến tích cực trong việc xây dựng con người có tư tưởng, đạo đức, lối sống, nếp sống văn hóa; thực hiện tốt nếp sống văn minh trong việc cưới; việc tang và lễ hội; xây dựng môi trường văn hóa lành mạnh; bảo tồn và phát huy các giá trị văn hóa dân tộc; góp phần đẩy lùi các tệ nạn xã hội. Gắn kết và phát huy vai trò của phong trào “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa” với phát triển văn hóa nông thôn; xây dựng nông thôn mới; xây dựng nếp sống văn minh đô thị; đẩy mạnh thực hiện xã hội hóa việc xây dựng các thiết chế văn hóa và hoạt động văn hóa, thể thao ở cơ sở; thực hiện thắng lợi các nhiệm vụ chính trị, kinh tế, xã hội trong giai đoạn mới. Quyết định số 2164/QĐ-TTg ngày 11 tháng 11 năm 2013 của Thủ tướng Chính phủ về việc phê duyệt quy hoạch tổng thể phát triển hệ thống thiết chế văn hóa, thể thao cơ sở giai đoạn 2013- 2010, định hướng 2030.
Quyết định nhằm quy hoạch hệ thống thiết chế văn hóa, thể thao cơ sở nhằm tổ chức các cơ sở hoạt động văn hóa, thể thao trên địa bàn dân cư, đáp ứng nhu cầu sáng tạo, hưởng thụ văn hóa, thể thao của các tầng lớp nhân dân; đồng thời làm nhiệm vụ tuyên truyền, cổ động phục vụ các nhiệm vụ chính trị của Trung ương và của địa phương. Năm 2014, tại hội nghị Trung ương 9 (khóa XI) Đảng ta ban hành Nghị quyết số 33-NQ/TW ngày 09/6/2014 về xây dựng và phát triển văn hóa, con người Việt Nam đáp ứng yêu cầu phát triển bền vững đất nước. Sự ra đời của Nghị quyết đã đáp ứng đòi hỏi bức thiết của yêu cầu, nhiệm vụ xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa, nhất là đáp ứng yêu cầu phát triển toàn diện, bền vững đất nước trong thời kỳ mới, khi mà tình hình thế giới và khu vực đang và sẽ có nhiều diễn biến mới. Đảng ta đã có sự đổi mới trong tư duy về xây dựng và phát triển văn hóa, con người phù hợp với yêu cầu, nhiệm vụ xây dựng và bảo vệ Tổ quốc trong bối cảnh mới.