Tổng quan nghiên cứu

Nông nghiệp giữ vị trí chiến lược đặc biệt quan trọng trong nền kinh tế Việt Nam khi tạo sinh kế trực tiếp cho hơn 70% dân số nông thôn và đóng góp tỷ trọng lớn vào kim ngạch xuất khẩu. Tỉnh Bình Thuận là thủ phủ thanh long của cả nước với diện tích canh tác vượt trên 27.000 ha, trong đó huyện Hàm Thuận Nam giữ vị trí dẫn đầu toàn tỉnh với hơn 12.000 ha. Toàn huyện có 25.106 hộ gia đình với 103.956 nhân khẩu, trong đó số hộ có nguồn thu nhập chính từ nông nghiệp chiếm tới 79,79%. Dù mang lại nguồn thu nhập lớn và giúp địa phương thực hiện thành công chương trình xóa đói giảm nghèo, nghề trồng thanh long tại Hàm Thuận Nam đang đối mặt với những rủi ro mang tính hệ thống. Điển hình vào cuối vụ năm 2015, ảnh hưởng của thời tiết cực đoan kết hợp dịch bệnh nấm trắng bùng phát đã khiến giá thanh long loại 1 chạm đáy ở mức 3.000 đồng/kg, giảm tới 66,7% so với mức giá trung bình các năm trước. Thêm vào đó, hơn 80% sản lượng phụ thuộc hoàn toàn vào kênh thu mua của thương lái trung gian xuất khẩu sang thị trường Trung Quốc, khiến nông dân thường xuyên rơi vào tình trạng bị ép giá và thua lỗ nặng nề.

Trước bối cảnh rủi ro thiên tai và thị trường ngày càng gia tăng, nghiên cứu được thực hiện nhằm hệ thống hóa cơ sở lý luận, đánh giá thực trạng nhu cầu và xác định các nhân tố ảnh hưởng đến mức sẵn lòng tham gia bảo hiểm nông nghiệp của các hộ trồng thanh long tại huyện Hàm Thuận Nam, tỉnh Bình Thuận. Phạm vi nghiên cứu tập trung vào chuỗi số liệu thứ cấp giai đoạn 2015–2017 và khảo sát thực địa sơ cấp trong năm 2018 trên địa bàn 4 xã trọng điểm. Kết quả nghiên cứu mang lại ý nghĩa khoa học và thực tiễn sâu sắc, cung cấp căn cứ định lượng phục vụ công tác triển khai Nghị định 58/2018/NĐ-CP của Chính phủ về chính sách hỗ trợ bảo hiểm nông nghiệp, hướng tới nâng cao tỷ lệ bao phủ bảo hiểm từ mức 36,02% hiện tại lên các mục tiêu an sinh xã hội bền vững cho vùng chuyên canh cây ăn trái.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Nghiên cứu được xây dựng dựa trên sự tích hợp của các lý thuyết kinh tế học hành vi và quản trị rủi ro hiện đại. Trước hết, Thuyết Tháp nhu cầu của Abraham Maslow (1954) và Thuyết ERG của Clayton Alderfer (1969) được sử dụng để giải thích động cơ bảo vệ tài sản và ổn định thu nhập của nông hộ. Khi các nhu cầu tồn tại căn bản được đáp ứng, nhu cầu an toàn (được bảo vệ trước các cú sốc tài chính do thiên tai, dịch bệnh) sẽ trở thành động lực thúc đẩy nông dân tìm kiếm các công cụ bảo hiểm. Bên cạnh đó, nghiên cứu vận dụng Lý thuyết Quản trị rủi ro của Frank H. Knight (1921), phân định rõ rủi ro công nghệ sinh học (thiên tai, nấm bệnh làm giảm năng suất) và rủi ro thị trường (biến động giá cả đầu ra). Khung phân tích cũng kế thừa Lý thuyết Cung - Cầu nông nghiệp của Đỗ Kim Chung (2009), xem xét bảo hiểm nông nghiệp như một loại hình dịch vụ tài chính phi nhân thọ đặc thù chịu sự chi phối của mức giá phí, thu nhập, kỳ vọng và chính sách hỗ trợ công.

Khung lý thuyết của đề tài làm rõ 4 khái niệm trung tâm:

  1. Bảo hiểm nông nghiệp: Nghiệp vụ quản lý rủi ro tài chính phi nhân thọ nhằm chuyển giao rủi ro tổn thất cây trồng sang tổ chức bảo hiểm.
  2. Mức sẵn lòng chi trả (WTP): Mức giá tối đa mà chủ hộ chấp nhận chi trả để sở hữu hợp đồng bảo hiểm mùa vụ.
  3. Rủi ro hệ thống trong nông nghiệp: Những biến cố bất lợi xảy ra trên diện rộng như hạn hán, bão lũ hay biến động giá thị trường mà một cá nhân không thể tự khắc phục.
  4. Quỹ bảo hiểm nông nghiệp: Nguồn tài chính hình thành từ phí bảo hiểm của người tham gia và trợ cấp của Nhà nước nhằm phục vụ chi trả bồi thường.

Kinh nghiệm quốc tế cung cấp nhiều bài học giá trị. Tại Hoa Kỳ, Chương trình Bảo hiểm Cây trồng Liên bang hỗ trợ từ 48% đến 67% phí bảo hiểm, giúp đạt tỷ lệ bao phủ hơn 85% diện tích canh tác. Tại Trung Quốc, chính sách Tam Nông trợ cấp từ 70% đến 90% phí mua bảo hiểm nông nghiệp cho nông dân. Tại Thái Lan, Nhà nước hỗ trợ bồi thường từ 60% đến 90% sản lượng trung bình khi gặp hạn hán, lũ lụt. Tại Việt Nam, chương trình thí điểm theo Quyết định 315/QĐ-TTg giai đoạn 2011–2013 đạt tổng giá trị bảo hiểm 7.747,9 tỷ đồng trên 304.017 hộ, nhưng có tới 91,9% là hộ nghèo và cận nghèo nhờ được Nhà nước tài trợ 80% đến 100% phí bảo hiểm.

Phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu sử dụng nguồn dữ liệu thứ cấp giai đoạn 2015–2017 từ Chi cục Thống kê huyện Hàm Thuận Nam, Phòng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn và các báo cáo ngành bảo hiểm. Dữ liệu sơ cấp được thu thập thông qua phỏng vấn trực tiếp bằng bảng hỏi cấu trúc đối với 261 hộ trồng thanh long tại 4 xã đại diện gồm Hàm Cường, Hàm Kiệm, Hàm Minh và Hàm Mỹ. Cỡ mẫu 261 hộ được phân bổ theo phương pháp chọn mẫu phân tầng ngẫu nhiên dựa trên quy mô diện tích canh tác (quy mô nhỏ dưới 0,5 ha, quy mô vừa từ 0,5 đến 1,5 ha, quy mô lớn trên 1,5 ha). Phương pháp chọn mẫu này đảm bảo tính đại diện cao cho tổng thể 25.106 hộ trên toàn địa bàn huyện, phản ánh trung thực sự đa dạng về điều kiện kinh tế và mức độ rủi ro.

Nghiên cứu kết hợp phương pháp Định giá ngẫu nhiên (Contingent Valuation Method - CVM) để mô phỏng thị trường giả định nhằm xác định mức sẵn lòng chi trả (WTP) của nông hộ đối với hai sản phẩm: bảo hiểm sản lượng và bảo hiểm giá. Để lượng hóa các yếu tố ảnh hưởng đến quyết định tham gia, mô hình hồi quy Logit nhị nguyên (Binary Logit) được lựa chọn với biến phụ thuộc dạng nhị phân (tham gia hoặc không tham gia). Lý do lựa chọn mô hình Logit vì phương pháp này khắc phục được các nhược điểm của mô hình xác suất tuyến tính, đảm bảo xác suất ước lượng luôn nằm trong khoảng từ 0 đến 1 và xử lý hiệu quả các biến độc lập thuộc nhóm nhân khẩu học, kinh tế và nhận thức. Toàn bộ quá trình khảo sát và xử lý dữ liệu được thực hiện trong khung thời gian từ tháng 10/2017 đến tháng 8/2018.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Quá trình phân tích thực chứng trên 261 hộ khảo sát đã chỉ ra 4 phát hiện quan trọng:

Thứ nhất, tỷ lệ sẵn lòng tham gia bảo hiểm nông nghiệp của các hộ trồng thanh long ở mức thấp. Trong tổng số 261 hộ được điều tra, chỉ có 94 hộ đồng ý tham gia bảo hiểm nông nghiệp (tương ứng tỷ lệ 36,02%), trong khi có tới 167 hộ (chiếm 63,98%) từ chối hoặc do dự. Điều này phản ánh tâm lý e ngại và khoảng cách lớn giữa nhận thức về rủi ro và hành vi phòng ngừa bằng công cụ tài chính.

Thứ hai, rủi ro thị trường và rủi ro sinh học xuất hiện với tần suất và mức độ thiệt hại rất cao. Hơn 85,3% số hộ cho biết từng chịu tổn thất nặng nề do bệnh nấm trắng và đốm nâu trên cành, quả thanh long. Đồng thời, do hơn 80% kênh phân phối phụ thuộc vào thương lái trung gian xuất khẩu sang thị trường Trung Quốc, 91,2% số hộ phản ánh tình trạng giá thu mua bấp bênh, dao động từ mức đỉnh 25.000 đồng/kg xuống mức đáy 3.000 đồng/kg, gây thất thoát trung bình từ 30% đến 55% doanh thu hàng năm.

Thứ ba, cơ cấu nhu cầu nghiêng mạnh về sản phẩm bảo hiểm giá. Khi được giới thiệu hai loại hình sản phẩm, có 58,5% số hộ có nhu cầu ưu tiên lựa chọn bảo hiểm bảo đảm giá bán đầu ra, trong khi chỉ có 41,5% số hộ quan tâm đến bảo hiểm sản lượng thuần túy. Nguyên nhân là do nông dân tự tin vào năng lực thâm canh và xử lý ra hoa trái vụ bằng đèn điện, nhưng hoàn toàn bất lực trước sự biến động bất thường của giá cả thị trường.

Thứ tư, mô hình kinh tế lượng Logit chỉ ra 4 yếu tố tác động thuận chiều có ý nghĩa thống kê đến quyết định mua bảo hiểm gồm: trình độ học vấn, quy mô diện tích, độ tuổi chủ hộ và mức thu nhập. Trong đó, trình độ học vấn của chủ hộ có tác động mạnh nhất (các chủ hộ có trình độ học vấn từ cấp THPT trở lên có xác suất tham gia cao hơn 2,4 lần so với nhóm tiểu học), trong khi thu nhập là yếu tố có hệ số tác động biên nhỏ nhất trong mô hình. Nhóm hộ có quy mô canh tác lớn trên 1,5 ha có tỷ lệ đồng thuận tham gia đạt 52,8%, cao hơn đáng kể so với mức 24,1% của nhóm hộ quy mô nhỏ dưới 0,5 ha.

Thảo luận kết quả

Tỷ lệ sẵn sàng tham gia bảo hiểm dừng lại ở mức 36,02% bắt nguồn từ nhiều nguyên nhân thực tế. Thu nhập từ nghề trồng thanh long không ổn định, kết hợp với sự thiếu hụt thông tin về nguyên lý vận hành của bảo hiểm phi nhân thọ khiến người dân coi việc đóng phí bảo hiểm là một khoản chi phí phát sinh hơn là một công cụ bảo vệ tài chính. Thêm vào đó, thủ tục giám định bồi thường tổn thất trong nông nghiệp thường phức tạp, mất nhiều thời gian, làm giảm sút niềm tin của các chủ hộ. Thực trạng này hoàn toàn tương đồng với kết quả thí điểm bảo hiểm nông nghiệp theo Quyết định 315/QĐ-TTg tại tỉnh Vĩnh Phúc và Thái Bình, nơi mà số hộ bình thường tham gia tự nguyện chỉ chiếm dưới 12% tổng số hộ do mức phí bảo hiểm thương mại chưa có trợ giá còn quá cao so với khả năng chi trả.

Dữ liệu nghiên cứu về sự phân hóa nhu cầu theo quy mô canh tác và mức thu nhập có thể được biểu diễn trực quan qua biểu đồ cột ghép, thể hiện rõ tỷ lệ sẵn sàng chi trả tăng dần từ 24,1% ở nhóm hộ nhỏ lên 52,8% ở nhóm hộ lớn. Đồng thời, bảng ma trận hệ số tác động biên (Marginal Effects) từ mô hình hồi quy Logit là công cụ trực quan giúp các nhà quản lý nhận diện xác suất gia tăng nhu cầu khi trình độ học vấn và diện tích canh tác của nông hộ thay đổi. So sánh với các mô hình thành công tại Hoa Kỳ và Trung Quốc, điểm mấu chốt để nâng cao tỷ lệ tham gia từ mức 36,02% lên trên 80% chính là cơ chế Nhà nước trợ giá phí bảo hiểm tối thiểu 50% cho hộ sản xuất thông thường, đồng thời các công ty bảo hiểm cần chuyển đổi từ phương thức bồi thường truyền thống sang bảo hiểm dựa trên chỉ số thời tiết và chỉ số giá thị trường.

Đề xuất và khuyến nghị

Nhằm thúc đẩy nhu cầu và mở rộng quy mô tham gia bảo hiểm nông nghiệp của các hộ trồng thanh long tại huyện Hàm Thuận Nam, nghiên cứu đề xuất 4 nhóm giải pháp trọng tâm:

Thứ nhất, hoàn thiện chính sách hỗ trợ phí bảo hiểm theo Nghị định 58/2018/NĐ-CP. Ủy ban nhân dân tỉnh Bình Thuận và Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn cần ban hành quy định phân bổ ngân sách địa phương hỗ trợ 50% phí bảo hiểm cho các hộ nông dân sản xuất thanh long thông thường, hỗ trợ 70% đến 90% cho hộ cận nghèo và nghèo. Mục tiêu cụ thể là nâng tỷ lệ hộ trồng thanh long tham gia bảo hiểm tại huyện Hàm Thuận Nam từ 36,02% lên tối thiểu 55% trong giai đoạn 2019–2021.

Thứ hai, đa dạng hóa và chuẩn hóa sản phẩm bảo hiểm của các doanh nghiệp. Các công ty bảo hiểm như Bảo Việt, Bảo Minh cần thiết kế sản phẩm bảo hiểm chỉ số thời tiết (hạn hán, lượng mưa) và bảo hiểm kết hợp giá - sản lượng thay vì chỉ bảo hiểm thiệt hại cây trồng đơn thuần. Đơn giản hóa hợp đồng, minh bạch hóa quy trình thẩm định tổn thất và cam kết rút ngắn thời gian chi trả bồi thường xuống dưới 15 ngày làm việc kể từ khi xác nhận sự kiện bảo hiểm. Mục tiêu giảm 80% thời gian xử lý khiếu nại bồi thường trong giai đoạn 2019–2020.

Thứ ba, tăng cường công tác thông tin truyền thông và đào tạo kỹ thuật nông nghiệp. Hội Nông dân huyện phối hợp với Trạm Khuyến nông tổ chức định kỳ 50 lớp tập huấn mỗi năm tại 13 xã, thị trấn nhằm nâng cao hiểu biết của người dân về lợi ích của bảo hiểm nông nghiệp. Đồng thời, hướng dẫn kỹ thuật sản xuất thanh long an toàn theo tiêu chuẩn VietGAP, GlobalGAP nhằm giảm thiểu tỷ lệ rủi ro nấm bệnh xuống dưới 20% diện tích, giúp hạ mức phí bảo hiểm đầu vào cho nông hộ từ năm 2019.

Thứ tư, phát triển chuỗi liên kết giá trị và quỹ bảo hiểm tương hỗ. Khuyến khích các Hợp tác xã thanh long đóng vai trò đại diện đứng ra ký kết hợp đồng bảo hiểm tập thể với doanh nghiệp bảo hiểm để hưởng mức chiết khấu phí từ 10% đến 15%. Thiết lập chuỗi liên kết 3 nhà (Nông dân - Doanh nghiệp xuất khẩu - Công ty bảo hiểm) nhằm giảm thiểu tỷ lệ phụ thuộc 80% vào kênh thương lái trung gian, bảo đảm giá sàn thu mua ổn định trên 10.000 đồng/kg cho các hộ tham gia chuỗi trong giai đoạn 2020–2022.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Công trình nghiên cứu mang lại giá trị tham khảo thiết thực cho 4 nhóm đối tượng chính:

  1. Cơ quan quản lý nhà nước và hoạch định chính sách: Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn tỉnh Bình Thuận, Chi cục Thống kê và Ủy ban nhân dân huyện Hàm Thuận Nam có thể sử dụng hệ thống số liệu định lượng và mô hình dự báo của luận văn làm căn cứ xây dựng kế hoạch phân bổ ngân sách hỗ trợ phí bảo hiểm theo Nghị định 58/2018/NĐ-CP trên địa bàn tỉnh.
  2. Các doanh nghiệp kinh doanh bảo hiểm phi nhân thọ: Các công ty bảo hiểm (Bảo Việt, Bảo Minh, Pjico) có thể khai thác kết quả phân tích mức sẵn lòng chi trả (WTP) và độ co giãn của cầu để định phí sản phẩm bảo hiểm cây ăn trái, thiết kế các gói bảo hiểm chỉ số giá phù hợp với khả năng tài chính của nông hộ.
  3. Giới nghiên cứu, giảng viên và sinh viên khối ngành kinh tế: Học viên cao học và các nhà nghiên cứu chuyên ngành Quản lý kinh tế, Phát triển nông thôn có thể kế thừa khung phương pháp luận kết hợp CVM và mô hình kinh tế lượng Logit nhị nguyên để ứng dụng nghiên cứu nhu cầu bảo hiểm trên các đối tượng cây trồng, vật nuôi khác.
  4. Ban quản trị Hợp tác xã và chủ trang trại nông nghiệp: Các nhà quản lý vùng trồng thanh long quy mô lớn có thể tham khảo các phân tích về cơ cấu rủi ro để xây dựng chiến lược phòng ngừa tổn thất, quản trị tài chính mùa vụ và chủ động đàm phán hợp đồng bảo hiểm nông nghiệp tập thể.

Câu hỏi thường gặp

Tỷ lệ hộ trồng thanh long tại Hàm Thuận Nam sẵn sàng tham gia bảo hiểm nông nghiệp là bao nhiêu?

Kết quả khảo sát thực tế trên 261 hộ cho thấy tỷ lệ sẵn lòng tham gia bảo hiểm nông nghiệp chỉ đạt 36,02% (tương ứng 94 hộ). Hơn 63,98% số hộ còn lại từ chối hoặc e ngại do mức thu nhập từ thanh long chưa ổn định, nhận thức về vai trò của bảo hiểm còn hạn chế và lo ngại quy trình thủ tục chi trả bồi thường khi có thiệt hại diễn ra phức tạp.

Yếu tố nào có ảnh hưởng mạnh nhất đến quyết định tham gia bảo hiểm của hộ dân?

Thông qua mô hình hồi quy Logit nhị nguyên, trình độ học vấn của chủ hộ là yếu tố có tác động thuận chiều mạnh nhất đến quyết định tham gia bảo hiểm nông nghiệp. Các chủ hộ có trình độ văn hóa từ cấp THPT trở lên có xác suất đồng ý mua bảo hiểm cao gấp 2,4 lần so với nhóm có trình độ tiểu học nhờ khả năng tiếp cận và đánh giá rủi ro tốt hơn.

Tại sao người trồng thanh long lại có xu hướng chuộng bảo hiểm giá hơn bảo hiểm sản lượng?

Do hơn 80% sản lượng thanh long tại Hàm Thuận Nam phụ thuộc vào thương lái trung gian xuất khẩu sang thị trường Trung Quốc, giá bán thường xuyên biến động mạnh từ 3.000 đến 25.000 đồng/kg. Nông dân có thể chủ động kiểm soát năng suất bằng kỹ thuật chong đèn nhưng không thể kiểm soát rủi ro thị trường, khiến 58,5% số hộ ưu tiên lựa chọn bảo hiểm giá.

Kinh nghiệm quốc tế nào về bảo hiểm nông nghiệp có thể áp dụng hiệu quả tại Bình Thuận?

Kinh nghiệm từ Hoa Kỳ và Trung Quốc cho thấy bảo hiểm nông nghiệp chỉ mở rộng thành công khi Nhà nước hỗ trợ từ 50% đến 90% phí bảo hiểm và cung cấp cơ chế tái bảo hiểm công. Tại Hoa Kỳ, nhờ chính sách trợ cấp phí mạnh mẽ kết hợp bảo hiểm đa rủi ro, tỷ lệ nông dân tham gia mua bảo hiểm cây trồng đạt mức ấn tượng trên 85%.

Luận văn sử dụng phương pháp khoa học nào để lượng hóa nhu cầu bảo hiểm?

Đề tài áp dụng phương pháp Định giá ngẫu nhiên (CVM) để đo lường mức sẵn lòng chi trả (WTP) của 261 hộ dân dựa trên các kịch bản phí bảo hiểm giả định. Đồng thời, mô hình kinh tế lượng Logit nhị nguyên (Binary Logit) được ứng dụng để kiểm định mức độ ảnh hưởng của 4 biến số gồm học vấn, quy mô diện tích, độ tuổi và thu nhập đến xác suất tham gia.

Kết luận

  • Huyện Hàm Thuận Nam là vùng trồng thanh long trọng điểm dẫn đầu tỉnh Bình Thuận với hơn 12.000 ha, nhưng nông hộ đang chịu áp lực lớn từ rủi ro nấm bệnh và biến động giá thị trường xuất khẩu.
  • Tỷ lệ nông hộ sẵn lòng tham gia bảo hiểm nông nghiệp hiện mới đạt 36,02%, phản ánh thị trường bảo hiểm nông nghiệp còn nhiều dư địa phát triển nhưng đang bị cản trở bởi rào cản nhận thức và quy trình bồi thường.
  • Mô hình hồi quy Logit khẳng định trình độ học vấn của chủ hộ và quy mô diện tích canh tác là hai nhân tố có tác động tích cực lớn nhất đến hành vi mua bảo hiểm nông nghiệp.
  • Nhu cầu của người dân tập trung chủ yếu vào gói bảo hiểm giá (chiếm 58,5%), đòi hỏi các doanh nghiệp bảo hiểm phải chuyển đổi mô hình từ bồi thường truyền thống sang bảo hiểm theo chỉ số thị trường.
  • Chính sách trợ cấp 50% phí bảo hiểm từ ngân sách nhà nước theo tinh thần Nghị định 58/2018/NĐ-CP là giải pháp đòn bẩy tiên quyết để mở rộng diện bao phủ bảo hiểm.

Đóng góp chính của luận văn là đã cung cấp hệ thống luận cứ khoa học thực chứng và mô hình định lượng chuẩn xác về hành vi kinh tế của nông hộ trồng thanh long đối với công cụ bảo hiểm nông nghiệp. Để hiện thực hóa mục tiêu nâng cao năng lực quản trị rủi ro cho vùng chuyên canh thanh long giai đoạn 2019–2022, các cơ quan quản lý nhà nước, doanh nghiệp bảo hiểm và chính quyền địa phương cần khẩn trương phối hợp triển khai đồng bộ các gói giải pháp chính sách, đưa bảo hiểm nông nghiệp trở thành chỗ dựa tài chính vững chắc cho người nông dân.