Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ HIỆU QUẢ SẢN XUẤT NÔNG NGHIỆP 1. Khái quát về nông hộ 1. Khái niệm về nông hộ Theo giáo sư Frank Ellis Trường Đại học tổng hợp Cambridge (1988) nông hộ là đơn vị kinh tế cơ bản, sản xuất nông hộ mang tính thời vụ. Nông hộ vừa là đơn vị sản xuất vừa là đơn vị tiêu dùng, sản xuất nông nghiệp là tế bào cơ sở của kinh tế nông nghiệp - nông thôn và cũng là tế bào của nền kinh tế quốc dân.
Đặc điểm của kinh tế nông hộ Theo nhận định của PGS. TS Trần Văn Điền vào năm (2015) kinh tế nông hộ là một tổ chức kinh tế nông nghiệp. Trong sản xuất, kinh tế nông nghiệp có khả năng thích ứng cao nên có sức cạnh tranh với các tổ chức kinh tế khác. Tuy nhiên, do nằm trong khuôn khổ gia đình nên có nhiều hạn chế và thiếu thốn, kĩ thuật thô sơ, sản phẩm làm ra phải tìm nơi tiêu thụ, thương lái ép giá, không có công lao động.
Những hạn chế của kinh tế nông hộ nếu được các cấp chính quyền địa phương tác động và tổ chức một cách hợp lý thì sẽ mang lại hiệu quả cao hơn. Vai trò của kinh tế nông hộ Theo nhận định của PGS. TS Trần Văn Điền vào năm (2015) Kinh tế nông hộ là một trong những bộ phận cấu thành nên nền kinh tế quốc dân của mỗi nước, nó không chỉ tự phát triển, tự ảnh hưởng mà còn ảnh hưởng tới sự tác động của tất cả các thành phần kinh tế khác. Sự tồn tại và phát triển của kinh tế nông hộ ảnh hưởng sâu sắc tới đến đời sống vật chất, văn hóa, tinh thần của mọi tầng lớp dân cư trong xã hội.
Khái niệm và đặc điểm sản xuất nông nghiệp 1. Khái niệm về sản xuất Theo PGS. TS Đinh Phi Hổ vào năm (2013) Sản xuất là quá trình kết hợp các nguồn lực hoặc các yếu tố đầu vào của sản xuất được sử dụng để tạo sản phẩm hoặc dịch vụ mà người tiêu dùng có thể dùng được. Khái niệm về sản xuất nông nghiệp Theo PGS.
TS Đinh Phi Hổ vào năm (2013) nông nghiệp là quá trình sản xuất lương thực, thực phẩm, thức ăn gia súc, sợi và sản phẩm mong muốn khác bởi trồng trọt những cây chính và chăn nuôi đàn gia súc,.vv Nông nghiệp là một nền kinh tế quan trọng trong nền kinh tế mỗi nước. Đặc biệt là trong những thế kỷ trước đây khi công nghiệp chưa phát triển và nông nghiệp chiếm tỷ trọng cao trong ngành kinh tế. Nông nghiệp là tập hợp các phân ngành như trồng trọt, chăn nuôi, chế biến nông sản và công nghệ sau thu hoạch. Trong nông nghiệp cũng có hai loại chính: Thứ nhất, nông nghiệp thuần nông là lĩnh vực sản xuất nông nghiệp có đầu vào hạn chế, sản phẩm đầu ra chủ yếu phục vụ cho gia đình của mỗi người nông dân.
Không sự cơ giới hóa trong nông nghiệp thuần nông. Thứ hai, là nông nghiệp chuyên sâu, tức là lĩnh vực sản xuất nông nghiệp được chuyên môn hóa trong tất cả các khâu sản xuất. Nông nghiệp chuyên môn có nguồn đầu vào sản xuất lớn, bao gồm cả việc sử dụng hóa chất diệt sâu, diệt cỏ, phân bón, chọn lọc và lai tạo giống, nghiên cứu các giống mới và mức độ cơ giới hóa cao. Sản phẩm đầu ra chủ yếu được dùng cho mục đích thương mại, làm hàng hóa bán ra trên thị trường hay xuất khẩu.
Đặc điểm của sản xuất nông nghiệp Theo PGS. TS Đinh Phi Hổ vào năm (2013) nông nghiệp là một trong hai ngành sản xuất vật chất chủ yếu của xã hội. Sản xuất nông nghiệp có đặc điểm riêng mà các ngành sản xuất khác không thể có đó là: Sản xuất nông nghiệp được tiến hành trên địa bàn rộng lớn phức tạp và phụ thuộc vào điều kiện tự nhiên mang tính khu vực rõ rệt. Trong nông nghiệp, ruộng đất là tư liệu sản xuất chủ yếu không thể thay thế được.
Đất đai là điều kiện cần thiết cho tất 7 ` cả các ngành sản xuất, nhưng nội dung kinh tế của nó lại rất khác. Và đối tượng sản xuất của nó là cơ chế sống – cây trồng và vật nuôi. Khái quát về hiệu quả sản xuất 1. Khái niệm hiệu quả sản xuất Hiệu quả kinh tế là phạm trù quan trọng gắn với sức sản xuất xã hội nó thể hiện kết quả sản xuất trong mỗi đơn vị chi phí của các nguồn sản xuất.
Nó là đại lượng so sánh kết quả sản xuất thu được ứng với chi phí để tạo ra nó. Trong bất kỳ hoạt động sản xuất kinh doanh nào thì việc nâng cao hiệu quả kinh tế là mối quan tâm hàng đầu của chủ sản xuất. Do đó việc nâng cao hiệu quả kinh tế không chỉ đem lại nguồn kinh tế ổn định cho người sản xuất mà còn cho toàn xã hội. Việc nâng cao hiệu quả sản xuất nông nghiệp là một nhu cầu bức thiết để tiến tới sản xuất hàng hóa.
Việc nâng cao hiệu quả sản xuất cần đạt được một số yêu cầu sau: - Nghiên cứu hiệu quả kinh tế ngoài góc độ kỹ thuật còn chú ý đến hiệu quả kinh tế xã hội gắn với quá trình sản xuất, xem xét tác động của nó đến con người. - Xem xét hiệu quả kinh tế không chỉ quan tâm về mặt số lượng mà còn quan tâm về mặt chất lượng. - Hiệu quả kinh tế không chỉ đáp ứng nhu cầu xã hội về mặt vật chất mà còn góp phần bảo vệ môi trường sản xuất nông nghiệp. - Nâng cao lợi nhuận trên một đồng chi phí, tăng sản lượng và chất lượng sản phẩm.
Theo Thái Anh Hòa (2011) Vì vậy, việc hiểu đúng bản chất của hiệu quả kinh tế, xác định đúng các chỉ tiêu để đo lường, đánh giá hiệu quả kinh tế là vấn đề quan trọng cần làm rõ khi phân tích hiệu quả sản xuất của một hoạt động trong nền kinh tế. Theo Nguyễn Đức Dỵ, hiệu quả kinh tế là mối tương quan giữa các yếu tố đầu vào khan hiếm với đầu ra hàng hóa dịch vụ và khái niệm hiệu quả kinh tế được dùng làm một tiêu chuẩn để xem xét các tài nguyên được các thị trường phân phối tốt như thế nào? Như vậy, có thể hiểu hiệu quả kinh tế là mức độ 8 ` thành công của các chủ thể sản xuất trong việc phân bổ các yếu tố nguồn lực kham hiếm để sản xuất ra sản phẩm, nhằm đáp ứng một mục tiêu nào đó. Theo Samullson và Nordhaus, hiệu quả sản xuất diễn ra khi xã hội không thể tăng sản lượng một cách hàng loạt của một loại hàng hóa mà không cắt giảm sản lượng một loại hàng hóa khác. Thực chất quan điểm hiệu quả này là đề cập đến khía cạnh phân bổ có hiệu quả các nguồn lực của nền sản xuất xã hội.
Việc phân bổ và sử dụng có hiệu quả các nguồn lực làm tăng hiệu quả. Điều này cho thấy rằng áp dụng theo khái niệm về hiệu quả sản xuất để đưa ra được những kết luận chính xác và hiệu quả. Các chỉ tiêu đo lường kết quả Các chỉ tiêu đo lường kết quả bao gồm: giá trị tổng sản lượng (doanh thu), chi phí sản xuất, lợi nhuận, thu nhập. Giá trị tổng sản lượng: Còn gọi là doanh thu (DT) là kết quả tính bằng tiền, chỉ tiêu này phản ánh kết quả thu được từ quá trình sản xuất.
DT= Gía bán * Sản lượng Chi phí sản xuất: (CPSX) là tất cả các khoản chi phí bỏ ra trong quá trình sản xuất. CPSX= CPVC + CPLĐ + CPKH Trong đó: - CPVC là chi phí vật chất trong đề tài này thì bao gồm chi phí phân bón, thuốc BVTV, giống, chi phí máy móc.vv - CPLĐ là chi phí lao động gồm chi phí lao động nhà (CPLĐN) và lao động thuê. - CPKH là tổng chi phí đầu tư cơ bản bao gồm khai hoang, trồng và chăm sóc từ khi bắt đầu đến thu hoạch chia cho số vụ khai thác trong năm. Thông thường hai vụ trong một năm.
- Lợi nhuận: (LN) là khoảng chênh lệch giữa doanh thu và chi phí trong quá trình sản xuất bao gồm cả chi phí lao động nhà. LN= DT – CP 9 ` - Thu nhập hỗn hợp: (TNHH) Là phần thu được từ việc bán tất cả các sản phẩm làm ra từ chi phí vật chất và chi phí lao động thuê. Do đặc thù sản xuất nông nghiệp nên nó được tính là khoảng lợi nhuận cộng với chi phí lao động nhà. Đây là chỉ tiêu quan trọng đối với nông hộ.
Nó phản ánh mức thu nhập của nông hộ để từ đó đánh giá mức sống của họ. TN= LN + CPLĐN + CPVCN 1. Các chỉ tiêu đo lường hiệu quả sản xuất a) Tỷ suất doanh thu Tỷ suất doanh thu= DT/CPSX Ý nghĩa: Chỉ tiêu này cho biết một đồng chi phí bỏ ra mang lại bao nhiêu đồng doanh thu. b) Tỷ suất lợi nhuận Tỷ suất lợi nhuận=LN/CPSX Ý nghĩa: Chỉ tiêu này cho biết một đồng chi phí bỏ ra mang lại bao nhiêu đồng lợi nhuận.
c) Tỷ suất thu nhập Tỷ suất thu nhập=TN/CPSX Ý nghĩa: Chỉ tiêu này cho biết một đồng chi phí bỏ ra mang lại bao nhiêu đồng thu nhập. Nguồn gốc, đặc điểm sinh thái, giá trị sử dụng, quy trình trồng Thanh Long 1. Nguồn gốc cây Thanh Long Thanh long (tên trong tiếng Anh là Pitahaya, Pitaya, hay Dragon fruit) thuộc họ xương rồng (nên còn gọi là “Cactus pear”). Tới cuối thập niên 1990, Việt Nam là nước duy nhất ở Đông Nam Á trồng thanh long tập trung trên quy mô thương mại với diện tích ước lượng >5.
Thanh long được người Pháp đem vào Việt Nam trên 100 năm nay, nhưng 10 ` cuối thập niên 80 thế kỷ XX mới phát triển mạnh (Nguyễn Văn Kế, 2003). Trong nước ta, thanh long được trồng nhiều và có sản lượng đứng đầu tập trung ở ba tỉnh là Bình Thuận, Tiền Giang, Long An. Ở phía Bắc, mặc dù có khí hậu lạnh nhưng được đưa vào trồng một số nơi như Lạng Sơn, Vĩnh Phúc, Hải Dương, Quảng Ninh, Thanh Hóa và Hà Nội (Nguyễn Phong, 2016). Trong bản dự thảo mô tả sản phẩm thanh long mà Phân viện Công nghệ Sau thu hoạch đã xây dựng cho thấy độ Brix của thanh long ở Bình Thuận biến thiên từ 11% đến 15,3% (Trần Thị Oanh Yến và ctv, 2003).
Phân tích thành phần sinh hóa cho thấy trong 100 g thịt quả chín: hàm lượng đường tổng số có thể biến động từ 8 g đến 12 g, vitamin C từ 3,8 mg đến 9,4 mg. Có sự biến động này là do phân bón, chế độ chăm sóc và thời gian hái, nếu để trái chín trên cây càng lâu thì càng ngọt (Nguyễn Văn Kế, 2014).