Chương 1: Đặt vấn dé Chương 2: Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu Chương3: Tổng quan Chương 4: Kết quả nghiên cứu và thảo luận Chương 5: Kết luận và kiến nghị 1. Phạm vi nghiên cứu - Về không gian: Đề tài tập trung nghiên cứu nghành trông trọt mà chủ yếu là cây ăn trái trên 2 vùng của xã Đông Hoà Hiệp vì đây là nghành SX chính của xã. + Vùng có đê bao ngăn lũ kiên cố (đê bao triệt để) bao gồm 5 ấp: An Lợi, An Thạnh, An Bình Đông, Phú Hoà, An Hiệp. + Vùng không có đê bao ngăn lũ bao gồm 2 ấp: An Hoà, An Ninh.
- Về thời gian: Từ 8-3-2005 > 8-6-2005 1. Giới hạn nghiên cứu Do thời gian nghiên cứu có hạn cùng với vùng nghiên cứu là vùng đê bao triệt để nên để tài giới hạn: Chỉ tập trung nghiên cứu những hộ trồng cây ăn trái đặc biệt là: Nhãn tiêu quế và Cam sành Chương 2 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 2. Vài nét về đê bao ngăn lũ 2. Quá trình hình thành đê bao Trong những năm gần đây đã có những trận lũ lụt lớn chưa từng thấy đã xẩy ra tại vùng ĐBSCL, diễn biến của lũ vô cùng phức tạp đặc biệt là cơn lũ từ tháng 9 đến tháng 11 năm 2000 được gọi là cơn lũ thế kỷ.
Cơn lũ này đã làm gần 1000 người thiệt mạng trong đó 80% là trẻ em, hơn 30.000 căn nhà bị ngập chìm trong biển nước và bị lũ cuốn trôi, tổn thất về tài san và mùa màng được ước tính đến 500 triệu Mỹ Kim (nguồn tin: internet — trang web http://www.com) Riêng xã Đông Hòa Hiệp huyện Cái Bè tỉnh Tiền Giang mùa lũ năm 2000 đã làm cho hơn 140 căn nhà, 32.374 gia súc, gia cầm bị cuốn trôi, làm ngập chìm hàng chục ha hoa màu (mì, bắp), làm giảm chất lượng lúa (do phải tranh thủ cắt sớm trước khi lũ về khi đó lúa chỉ chín khoản 80%), thiệt hại cho vườn cây ăn trái là 587 triệu đồng. Trước tình hình đó Đảng và Nhà nước có những chủ trương, chính sách về việc xây dựng cụm tuyến ô đê bao chống lũ và hệ thống đê bao triệt để này được xây dựng dành cho các cụm dân cư tập trung như: Tân Hồng, Tam Nông, Tân Hưng, Mộc Hóa, Tân Thanh,.các khu SXNN trong điểm như: Tân Hồng, vùng Bo Bo, Cái Bè. Xã Đông Hòa Hiệp là một trong những xã đã bước đầu thực hiện thành công dự án này, đê bao trên địa bàn xã được xây dựng vào năm 2002. DT đê bao trên địa bàn xã hiện có là 875,12 ha với tổng kinh phí đầu tư cho dự án là 1,2 tỷ đồng chủ yếu xây dựng các tuyến kênh chính và các đập lớn khoảng 25m/cái, trong đó chi phí người dân đầu tư xây dựng là 375 triệu đồng.
Chiều cao đê bình quân cao hơn so với mặt đất hiện tại là 1,2 m, cao hơn đỉnh lũ năm 1998 là 80 cm. Nhìn chung, đê bao ngăn lũ có tính chất tuyệt đối vì chiéu cao đê như vậy đỉnh lũ khó có thể cao hơn. Mục đích chính của đê bao là ngăn chặn nước lũ, bảo vệ mùa màng, tài sản, ổn định SX và đời sống của người dân trong vùng, dam bảo phát triển bén vững. Với hệ thống đê bao ngăn lũ sẽ góp phần ổn định SX nâng cao hiệu quả cây trồng, vật nuôi góp phần gia tăng TN, cải thiện cuộc sống, từng bước nâng cao đời sống người dân.
Các kết luận và đánh giá về đê bao Có quá nhiều dé bao ngăn lũ đã và đang triển khai trong vùng Đồng Tháp Mười. Theo nhận định của giới khoa học, thực tế đê bao ngăn lũ đã giúp người dân tránh được thiệt hại về nhà cửa và tính mạng. Tuy nhiên, do có quá nhiều hệ thống đê bao chống lũ được xây dựng cho Sản Xuất Nông Nghiệp nên đây có thể là nguyên nhân gây nên tình trạng nước lũ đến vùng Đồng Tháp Mười quá nhanh và mực nước dâng khá cao, lưu trữ trên vùng này khá đài so với những năm trước đây. Những luận cứ khoa học công bố gần đây cho thấy sự kết hợp giữa lượng nước lũ khá lớn đổ về và triều cường từ biển Đông đã gây nên tình trạng thoát lũ chậm và làm ngập lụt các vùng phía Nam của tỉnh Long An như Thủ Thừa, Bến Lức, Tân An.
Giới khoa học cũng cho rằngkhi tổng lượng dòng chảy từ sông Mêkông đổ vào địa phận ĐBSCL khoảng 300 — 400 ti mẺ nước, với lưu lượng khoảng 50.000 mỶ/giây thì bổn trũng nội địa Đồng Tháp Mười là một trong những bồn chứa đóng vai trò cân bằng nước trong vùng. “Nhung do có quá nhiều khu vực ngăn chặn không cho lũ tràn vào nên một lượng lớn nước từ sông Tiền đổ vào Đồng Tháp Mười sẽ đi theo hệ thống kênh tiến nhanh vào vùng trung tâm như Tân Hưng, Vĩnh Hưng Và Tháp Mười, làm cho các khu vực này bị ngập sớm hơn” — thạc sĩ Lê Phát Quới (trưởng phòng quan lý khoa học, Sở Khoa học công nghệ tỉnh Long An) đưa ra phân tích. Và điều đáng lo ngại hơn là thế cân bằng nước bị phá vỡ làm cho mức nước ngập ngày càng cao và thoát chậm, đã gây ra những thiệt hại nghiêm trọng đối với các công trình giao thông trong vùng. Những ghi nhận thực tế cũng cho thấy các yếu tố: nước ngập cao, thời gian rút chậm, lượng phù sa mang theo lớn.
Trong khi đó một để tài mang tên “ Nghiên cứu tác động của đê bao đến đời sống kinh tế — xã hội và môi trường tại một số khu vực có đê bao ở tỉnh An Giang” cũng được các nhà khoa học sớm kết thúc và đưa ra những nhận định cụ thể, chi tiết va những lợi ích, hại của đê bao chống lũ. Ông Dương Văn Nhã - trường Đại Học An Giang — trực tiếp báo cáo kết quả nghiên cứu, đã đưa ra nhận định: “Ngay sau khi bao đê triệt để, nông dân có thể tăng vụ (ba vụ lúa/năm) và tăng TN. Tuy nhiên, chỉ sau một thời gian chi phi SX tăng cao nhưng năng suất lúa lại giảm, dẫn đến giảm lợi nhuận”. Kết quả nghiên cứu cũng cho thấy sau sáu năm bao đê triệt để, TN của nông dân làm lúa ba vụ thấp hơn so với trồng lúa hai vụ (trước khi bao đê triệt để), đó là chưa kể mỗi năm nông dân sử dụng phân bón ngày càng nhiều, do đất bị khai thác liên tục, không được bổ sung dinh dưỡng.
Theo ông Dương Văn Nhã có một diéu đáng quan tâm là những người được tham vấn đều cho rằng hiện nay bao đê chưa ảnh hưởng lớn nhưng lưu tốc dòng chay trên sông mạnh hơn và là một trong những nguyên nhân quan trọng gây sạt lở vùng ven sông. Các nhà khoa học đặc biệt nhấn mạnh nếu bao đê hết khu vực ĐBSCL thì khu vực này sẽ trở thành một “Hà Lan 2”, nằm dưới mực nước biển. Ông Dương Văn Nhã cũng cho biết trong quá trình thực hiện nghiên cứu, ông đã tổ chức tham vấn 13 nhà khoa học trưởng đầu ngành trong lĩnh vực đất, thủy sản, chăn nuôi, trồng trọt và kinh tế về quan điểm đối với các loại đê bao. Tất cả các nhà khoa học này đều cho rằng: “Đê bao triệt để là hoàn toàn có hại và không ủng hộ”.
Nhưng thực tế cả nông dân và những người lãnh đạo trong vùng bị ảnh hưởng lũ nặng ở khu vực ĐBSCL đều thấy rõ mặt lợi và hại của đê bao triệt để. Nhưng dưới mắt người dân, bao đê mang lại lợi ích lớn hơn thiệt hại nên nhu cầu bao đê ngày càng cao và DT đê bao triệt để ngày càng lớn. Còn dưới mắt các nhà khoa học thì hoàn toàn không thích đê bao triệt để và chỉ ủng hộ đê bao tháng tám mà thôi (đến thời điểm này là thu hoạch xong lúa hè thu, đê bị phá vỡ để nước lũ tràn vào đồng). Các nhà khoa học khuyến cáo đê bao tháng tám nên xây dựng ở những vùng sâu trong nội đồng, nơi không thể phát triển được rau màu hay vườn cây ăn trái.
Riêng đê bao triệt để, các nhà khoa học cho rằng cần cân nhắc thật kỹ lưỡng vì nếu triển khai trên DT lớn sẽ làm cho mực nước các vùng lân cận dâng lên, gây ngập lụt và thay đổi sinh thái toàn vùng ĐBSCL. Ở gốc độ nào đó, bao đê chống lũ rõ ràng là “lợi bất cập hại”, đặc biệt là bao đê triệt để, có thể được cái lợi trước mắt nhưng phải gánh chịu những hậu quả sinh thái, môi trường về lâu dài (“Dé bao ngăn lũ: ĐBSCL sẽ nằm dưới mực nước biển?”, báo tuổi trễ ngày 12/10/2004). Khái niệm chuyển dịch cơ cấu cây trồng Chuyển dịch cơ cấu cây trồng là một phạm trù triết học, được sử dụng để biểu thị cấu trúc bên trong thể hiện tỷ lệ hoặc thành phần và mối quan hệ giữa các bộ phận hợp thành của một hệ thống, cơ cấu được biểu hiện như là một tập hợp các mối liên hệ, liên kết các yếu tố khác nhau của một hệ thống nhất định. Vì vậy, khi nghiên cứu cơ cấu phải dựa trên quan điểm hệ thống.
Như vậy, cơ cấu cây trồng là thành phần các loại cây được bố trí thành một hệ thống theo không gian trong một cơ sở, một địa phương, một vùng, một quốc gia SXNN trong một thời gian nhất định được bắt nguồn từ khả năng của chủ thể SX và nhu cầu thị trường, với mục đích tận dụng hợp lý nhất các nguồn lực, các yếu tố tự nhiên để mang lại hiệu quả cao về kinh tế xã hội. “> Hiệu quả kinh tế trong SXNN Khi nói đến SX là phải nói đến hiệu quả kinh tế khác nhau. Trong SXNN, yếu tố đầu tiên phải kể đến là đất đai và kế đến là lao động vì lao động là yếu tố cần thiết để tạo ra của cải, vật chất và giá trị. Trong khi đó, mỗi hộ nông dân có điều kiện rất khác nhau về trình độ SX, lao động trong gia đình, quyền sử dụng đất đai, vốn SX,.
Khi tính hiệu quả kinh tế phải tổng hợp chi phí lao động sống đã bỏ ra, trang thiết bị kỹ thuật cũng như độ phì của đất. Các chỉ tiêu xác định kết quả và hiệu quả sản xuất 2. Các chỉ tiêu xác định kết quả sản xuất - Doanh thu: là chỉ tiêu tổng hợp được tính bằng tiền phản ánh kết quả thu được từ SX. Doanh thu = Tổng sản lượng * Đơn giá sản phẩm - Tổng chi phí san xuất: là tất cả những khoản chi phí bỏ ra để có được kết quả SX.