ĐẶT VẤN ĐỀ Cây tía tô là một trong những cây gia vị phổ biến, lâu đời và được trồng rộng rãi ở nhiều nước Châu Á, đặc biệt là ở các nước Đông Á. Cây tía tô được xem như một loại gia vị không thể thiếu trong nhiều món ăn truyền thống ở Trung Quốc, Ấn Độ, Nhật Bản, Hàn Quốc và Việt Nam. Hiện tại, trên thế giới có rất nhiều giống tía tô, chúng có thành phần và hàm lượng khá khác nhau, nhưng về cơ bản, chúng có chung 3 giá trị ứng dụng là: làm gia vị, làm dược liệu trong y học cổ truyền và sản xuất dầu ăn (hay dầu chức năng giàu omega 3). Sở dĩ, tía tô có được các giá trị ứng dụng trên là do sự có mặt của tinh dầu tía tô và các hoạt chất chống oxy hóa (Đỗ Huy Bích và cs., 2004; Trần Thị Phương Liên, 2009).
Nhờ kết quả của các công trình nghiên cứu khoa học về cây tía tô đã được công bố và áp dụng vào đời sống và sản xuất mà trong thời gian gần đây cây tía tô không ngừng phát triển cả về diện tích trồng, năng suất, sản lượng lá và hạt tía tô. Các nước đi đầu trên thế giới về trồng và ứng dụng cây tía tô là Trung Quốc, Nhật Bản, Hàn Quốc. Từ cây tía tô, người ta đã tạo ra rất nhiều các sản phẩm trong số đó chủ yếu là thực phẩm chức năng và thuốc. Chỉ tính riêng Nhật Bản đã tạo ra được hơn 210 loại chế phẩm thuốc và hàng trăm sản phẩm chức năng khác từ các hợp chất có trong tía tô (He-ci Yu et al.
Ở Việt Nam, tía tô là một loại cây gia vị được sử dụng chủ yếu trong chế biến thực phẩm, trong trang trí món ăn. Cây tía tô gồm nhiều giống khác nhau và được trồng ở khắp cả nước. Hiện nay, vùng trồng tía tô nhiều nhất là Hải Dương, diện tích lên đến 1 nghìn ha cho chất lượng ổn định. Thông thường 1ha tía tô thu hoạch cho khoảng 20-25 tấn lá tươi.
Tuy nhiên, việc trồng tía tô chủ yếu được sử dụng với mục đích thu hái làm gia vị, thuốc đông y và thu hạt để làm giống nên chưa mang lại hiệu quả kinh tế cao. Trong khi đó, công nghệ sản xuất các hoạt chất sinh học chống oxy hóa từ lá tía tô ở nước ta còn chưa được quan tâm, đầu tư nghiên cứu nhiều chính vì vậy hiệu quả kinh tế đối với việc sử dụng nguồn nguyên liệu lá tía tô còn chưa cao. Xuất phát tình hình thực tế trên, tôi tiến hành nghiên cứu đề tài: “Nghiên cứu quy trình chiết tách các chất chống oxy hóa từ lá tía tô”. Đây là việc làm cấp thiết, có ý nghĩa khoa học và thực tiễn cao.
1 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail. MỤC TIÊU CỦA ĐỀ TÀI 1. Mục tiêu đề tài Nghiên cứu xây dựng quy trình chiết tách các hoạt chất chống oxy hóa từ lá tía tô. Yêu cầu − Phân tích đánh giá chất lượng nguyên liệu lá tía tô − Nghiên cứu ảnh hưởng của một số điều kiện công nghệ đến quá trình chiết tách hoạt chất chống oxy hóa từ lá tía tô.
− Xây dựng quy trình chiết tách hoạt chất chống oxy hóa từ lá tía tô. − Nghiên cứu làm giàu các hoạt chất chống oxy hóa từ cao chiết lá tía tô − Phân tích đánh giá chất lượng sản phẩm đề tài − Khảo sát khả năng kháng oxy hóa của các hợp chất chống oxy hóa từ lá tía tô. 2 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail. TỔNG QUAN TÀI LIỆU 2.
GIỚI THIỆU VỀ CÂY TÍA TÔ 2. Nguồn gốc, phân loại và đặc điểm − Cây tía tô có tên khoa học: Perilla frutescens, thuộc họ Lamiaceae − Tên gọi khác: Tử tô, Tô ngạnh, Tô diệp. Phân loại khoa học của cây tía tô Bộ Hoa môi Họ Hoa môi Chi Tía tô Loài Perilla frutescens Các phân loài Có 8-10 phân loài Nguồn gốc của cây tía tô Nguồn gốc bản địa của chi tía tô trải rộng từ Ấn Độ đến Đông Nam Á. Loài cây tía tô (Perilla frutescens L) được xác định có nguồn gốc ở vùng núi Himalaya đến vùng Đông Nam Á.
Ở Trung Quốc, cây tía tô được trồng ít nhất từ 500 năm trước Công nguyên. Ở Nhật Bản, cây tía tô được trồng vào khoảng từ thế kỷ thứ VII- IX sau Công nguyên. Loài cây này được du nhập vào Mỹ làm cây cảnh và đã trở thành loài thực vật xâm lấn. Đây là loài cây rau gia vị được trồng phổ biến ở Châu Á với nhiều phân loại: - Tía tô lá tím (P.
crispa): gốc Trung Quốc và Nhật Bản. Frutescens): được gọi là mè hoang dại ở Hàn Quốc. - Tía tô hai màu (P. crispa forma): là dạng lá phía trên màu xanh, phía dưới màu tím.
- Tía tô mép lá quăn (Perilla ocymoides L. bicolorlaciniata) có giá trị sử dụng cao - Dựa trên mục đích sử dụng, tía tô được chia thành hai loại chính là Perilla frutescens var. frutescens thường được trồng để lấy dầu nên có hạt lớn và mềm và Perilla frutescens var. crispa được dùng để làm thuốc trong y học cổ truyền, thân có nhiều nhánh nhỏ, hạt nhỏ và cứng (Hà Thị Mỹ Chi và Ngô Đại Nghiệp, 2013; Nitta et al.
3 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail. Perilla frutescens Hình 2. Perilla frutescens var. crispa Đặc điểm chính của cây tía tô (Đỗ Tất Lợi, 2003) - Thân: cây nhỏ cao 0.3-1m, thân vuông, mọc đứng, phân cành nhiều, có rãnh dọc và có lông.
- Lá: mọc đối, hình bầu dục, dài 2 – 3 cm gốc tròn, đầu nhọn mép khía răng và uốn lượn. mặt trên xanh lục, ở dưới màu tía, có khi hai mặt đều tía, nâu hay màu xanh lục có long nhám (tùy theo giống). - Hoa: mọc ở kẽ lá hoặc đầu cành, dài 6 - 20 cm. Hoa tía tô nhỏ mọc thanh xim có ở đầu canh, màu trắng hay tím, mọc đối.
- Quả: quả bế, hình cầu, màu nâu nhạt, đường kính dao động từ 1,1mm đến 2.5mm Cách gieo trồng - Có 2 cách: gieo hạt và giâm canh - Liếp gieo hạt được cày bừa kỹ (đất nhuyễn), bón lót phân chuồng trước khi gieo nên rải Basudin và sau khi gieo phủ rơm. Khi hạt nẩy mầm phải giở rơm để cây mọc cứng. - Khi cây có 5-6 lá thật (30 – 35 ngày sau gieo) là đem trồng. - Thời vụ gieo trồng: quanh năm.
4 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail. Hạt Thu hoạch: Thu hoạch làm rau gia vị: sau khi trồng 25 – 30 ngày có thể thu hoạch. Nếu cắt tỉa ta thường dùng liềm hay dao sắc cắt cây cách mặt đất khoảng 10cm, chừa lại 2 - 3 tầng lá để có thể đâm chồi cho đợt thu hoạch sau. Mỗi đợt cắt có thể thu 50 – 60 kg cho 100m2.
Nếu chăm sóc tốt có thể thu hoạch nhiều đợt (Đỗ Huy Bích và cs, 2004; Đỗ Tất Lợi, 2003). Vùng trồng và sản lượng trồng cây tía tô Tía tô được phân bố dọc theo dãy Hymalaya của Ấn Độ, Bhutan, Pakistan và Napel, phía bắc Đông Nam Á như Campuchia, Lào, Myanmar, Thái Lan, Việt Nam, Trung Quốc, Hàn Quốc, Nhật Bản và Đài Loan (Nitta et al. Gần đây, tía tô được đưa vào Châu Âu, Nga và Mỹ như một loại cây lấy dầu hoặc cây gia vị trồng trong vườn. Tía tô được sử dụng như một loại hương liệu trong chế biến thực phẩm, làm nguyên liệu cho công nghiệp ép dầu và là nguồn dược liệu quý trong điều trị một số bệnh như hen suyễn, cảm, viêm khớp, dị ứng.
Tía tô được ghi nhận lần đầu trong thư tịch cổ của Trung Quốc vào thế kỷ thứ V – VI là cây ưa sáng và ưa ẩm, thích nghi với những vùng khí hậu ôn hòa, nhiệt độ trung bình từ 18 – 25oC. Loại cây này mọc chủ yếu ở vùng khí hậu ôn hòa, có nguồn gốc từ núi Ấn Độ và Trung Quốc. Sau đó, cây tía tô được nhân trồng ở nhiều nơi trên thế giới ở Châu Á, Châu Âu, Châu Mỹ. Tại Châu Á, tía tô được trồng hoặc mọc hoang ở vĩ độ chủ yếu từ 36 đến 42 độ vĩ bắc đối với cây lấy dầu và được trồng hoặc mọc hoang trên núi cao đối với cây dùng làm thuốc.
5 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Các quốc gia trồng nhiều loại cây này là Trung Quốc, Nhật Bản, Hàn Quốc, Đài Loan, Ấn Độ, Nepal, Pakistan, Campuchia, Lào, Myanmar, Thái Lan và Việt Nam (Nguyễn Thị Hoàng Lan, 2014; Thu. Tại Nhật Bản, tía tô được trồng chủ yếu ở tỉnh Hokkai, Miyagi, Fukushima, Nagano, Tokyo, Shiga, Osaka, Nara, Hiroshima, Kyoto, Nagasaki, Wakayama, Kochi, Fukuoka, và Okinawa. Người Nhật thường gọi tía tô là aojiso, aobam hoặc aoshiso. Nó thường được dùng để ăn với món sashimi, một món ăn truyền thống từ hải sản của Nhật, cũng như thường được dùng như một loại rau gia vị trong salad, mì ống, thịt và các món ăn từ cá khác.
Năm 2009, hãng Pepsi tại Nhật Bản đã cho ra một loại nước giải khát mang hương vị tía tô là pepsi tía tô. Trong y học cổ truyền Nhật Bản, tía tô được sử dụng như một hoạt chất chữa bệnh dị ứng, hen suyễn do dị ứng, viêm khớp và bước đầu ứng dụng để điều trị bệnh alzheimer (Akio Tsukui et al. Tại Trung Quốc, tía tô được trồng nhiều ở các tỉnh Yunnan, Zheng Ning, Guangdong và Guangxi. Diện tích trồng hàng năm chỉ riêng tại tỉnh Zheng Ning là 110.000 ha với sản lượng hàng năm trên 10.Tại nước này, tía tô là một loại dược thảo cổ truyền trị cảm, nhức mỏi, ho suyễn và tạo hưng phấn.
Nó cũng là loại gia vị dân dã được sử dụng hết sức phổ biến trong điều chế thuốc đông y cũng như chế biến và bảo quản thực phẩm. Tại Việt Nam, theo Vũ Xuân Phương (2000) tía tô gồm nhiều giống khác nhau, mọc tự nhiên và được trồng ở nhiều nơi trên khắp cả nước nhưng tập trung nhiều ở các tỉnh miền núi phía Bắc như Lào Cai, Lạng Sơn, Hòa Bình… , ở miền Nam, tía tô được trồng nhiều ở Bình Chánh, Củ Chi, Hóc Môn. Ở miền Bắc, do nhu cầu sử dụng tía tô làm gia vị, cây được trồng quanh năm ở các vùng ngoại thành như Đông Dư (Gia Lâm); Hoàng Liệt ( Thanh trì); Duyên Hà (Thanh Trì), Hà An ( Giang Biên, Long Biên); Vân Nội ( Hà Nội )… 2. Thành phần hóa học và dinh dưỡng Trong các bộ phận cây tía tô có chứa chất tinh dầu (khoảng 0,5%) mà thành phần chủ yếu là: perilla aldehyde, limonene, α-pinene, β-caryophyllene, linalool và perilla alcohol (Hà Thị Mỹ Chi và Ngô Đại Nghiệp, 2013; He-ci Yu et al.