Tổng quan nghiên cứu

Rươi (Tylorrhynchus heterochaetus Quatrefages, 1865) thuộc họ Nereididae là loài thủy sản nước lợ đặc hữu có giá trị dinh dưỡng và thương phẩm rất cao, giá bán trên thị trường thường dao động từ 450.000 đến 600.000 đồng/kg. Nguồn lợi rươi tự nhiên phân bố rộng rãi tại vùng bãi triều cửa sông ven biển phía Bắc, tiêu biểu là lưu vực sông Hồng thuộc thành phố Hải Phòng với hơn 6.000 ha bãi bồi ven sông. Tuy nhiên, nghề khai thác truyền thống dựa hoàn toàn vào tự nhiên chỉ mang lại năng suất khiêm tốn khoảng 0,45 tấn/ha, đồng thời đang đứng trước nguy cơ suy thoái nghiêm trọng do tác động của đê kè ngăn dòng, xâm nhập mặn và việc lạm dụng hóa chất nông nghiệp.

Nhằm khắc phục tính bấp bênh của phương thức canh tác quảng canh và xây dựng cơ sở kỹ thuật thâm canh nhân tạo, luận văn thạc sĩ chuyên ngành Nuôi trồng thủy sản của học viên Hoàng Xuân Giang (2017) tại Học viện Nông nghiệp Việt Nam đã đi sâu giải quyết vấn đề kiểm soát thức ăn và mật độ ương nuôi trong hệ thống bể kín. Mục tiêu cụ thể của đề tài là hoàn thiện quy trình nuôi rươi từ giai đoạn ấu trùng xuống đáy đến khi thu sản phẩm sinh dục, đồng thời xác định chính xác công thức dinh dưỡng và mật độ tối ưu cho từng giai đoạn phát triển.

Nghiên cứu được triển khai từ tháng 6/2016 đến tháng 5/2017 tại Viện Nghiên cứu Nuôi trồng Thủy sản I (Bắc Ninh) và Trạm Nghiên cứu Nuôi trồng Thủy sản nước lợ Quý Kim (Hải Phòng). Kết quả nghiên cứu mang lại ý nghĩa thực tiễn to lớn khi giúp nâng cao tỷ lệ sống của ấu trùng lên 11,68% - 11,94% và thúc đẩy khối lượng cá thể nuôi vỗ đạt 0,862 g/con sau 90 ngày, tạo nền tảng vững chắc cho việc phát triển nghề nuôi rươi công nghiệp bền vững.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Nghiên cứu được xây dựng dựa trên nền tảng lý thuyết sinh thái học quần thể giun nhiều tơ (Polychaeta) và lý thuyết dinh dưỡng thủy sản nước lợ. Đặc tính sinh học nổi bật của rươi là hình thức sinh sản hữu tính thông qua cơ chế biến thái dị hình (epitoky). Khi thành thục, cơ thể rươi tự đứt đoạn từ đốt thứ 50 - 60, phần trước chứa đầy các sản phẩm sinh dục bơi lên mặt nước để phóng tinh trùng và trứng rồi chết. Sức sinh sản tuyệt đối trung bình của cá thể cái đạt khoảng 96.000 trứng/con, tương đương sức sinh sản tương đối khoảng 218.000 trứng/g khối lượng cơ thể.

Mô hình nghiên cứu tập trung kiểm soát mối quan hệ tương tác giữa dinh dưỡng ngoại sinh, mật độ quần thể và các thông số môi trường nước lợ. Bốn khái niệm chính được vận dụng bao gồm: ấu trùng gai cứng (Nectocheata), rươi bố mẹ nuôi vỗ thành thục, dinh dưỡng kết hợp (tảo đáy mùn bã và thức ăn tổng hợp) và giá thể nền đáy nhân tạo (tỷ lệ 7 phần bùn và 3 phần cát). Khoảng độ mặn thích ứng sinh học của loài dao động từ 0 đến 5‰, trong đó vùng thích hợp nhất cho quá trình thụ tinh và sinh trưởng là 2 - 3‰ với ngưỡng pH kiềm nhẹ 7,8 - 8,4.

Phương pháp nghiên cứu

Thí nghiệm được thực hiện bằng nguồn giống tự nhiên từ huyện Vĩnh Bảo (Hải Phòng) và ấu trùng sinh sản nhân tạo, bố trí hoàn toàn ngẫu nhiên trong hệ thống bể xi măng (1,5 m2) và bể composite (thể tích 300 lít) với 3 lần lặp lại cho mỗi nghiệm thức. Cỡ mẫu theo dõi định kỳ là 30 cá thể/bể được thu thập vào 6 giờ sáng với tần suất 2 ngày/lần. Phương pháp chọn mẫu ngẫu nhiên kết hợp đo đạc hình thái bằng trắc vi thị kính quang học độ phóng đại 10x7 nhằm xác định chính xác chiều dài thân (mm) và số đốt cơ thể. Tỷ lệ sống của ấu trùng được kiểm tra bằng phương pháp thể tích với buồng đếm luân trùng 1 ml (lặp lại 3 lần/mẫu).

Dữ liệu thực nghiệm được xử lý bằng phần mềm Microsoft Excel và SPSS 16 thông qua phân tích phương sai một nhân tố (One-way ANOVA) và phép thử Duncan ở mức ý nghĩa thống kê p < 0,05. Lý do lựa chọn ANOVA là nhằm so sánh và kiểm định sự sai khác có ý nghĩa giữa 3 chế độ thức ăn (tảo đáy, thức ăn tổng hợp Lansy/Fripak/NRD Inve, thức ăn kết hợp) và 4 mức mật độ ương nuôi (từ 50 đến 800 con/m2 hoặc con/lít). Toàn bộ chu kỳ nghiên cứu diễn ra liên tục qua hai giai đoạn: nuôi vỗ thành thục 90 ngày (tháng 6 - 9/2016) và ương ấu trùng 40 ngày (tháng 2 - 4/2017).

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Thứ nhất, loại thức ăn có ảnh hưởng quyết định đến tốc độ sinh trưởng khối lượng của rươi bố mẹ. Sau 90 ngày nuôi vỗ, nghiệm thức sử dụng thức ăn kết hợp (tảo đáy, mùn bã hữu cơ và thức ăn tổng hợp) đạt khối lượng trung bình cao nhất là 0,862 ± 0,047 g/con, tăng gấp 2,05 lần so với khối lượng ban đầu (0,42 ± 0,206 g/con). Kết quả này vượt trội hơn 36,18% so với nghiệm thức chỉ dùng thức ăn tổng hợp đơn thuần (0,633 ± 0,042 g/con, p < 0,05).

Thứ hai, tỷ lệ sống của rươi bố mẹ nuôi vỗ ở nghiệm thức tảo đáy kết hợp mùn bã hữu cơ đạt 66,63%, cao hơn so với nghiệm thức thức ăn kết hợp (64,33%) và nghiệm thức thức ăn tổng hợp (64,03%).

Thứ ba, ở giai đoạn ấu trùng 40 ngày tuổi xuống đáy, việc cho ăn kết hợp tảo tươi và thức ăn tổng hợp giúp ấu trùng đạt chiều dài thân 11,52 ± 0,64 mm và tỷ lệ sống từ 11,68% đến 11,94%, cao hơn đáng kể so với việc chỉ cung cấp đơn lẻ từng loại thức ăn.

Thứ tư, mật độ ương nuôi ảnh hưởng rõ rệt đến tỷ lệ sống của ấu trùng giai đoạn 20 - 40 ngày tuổi khi bắt đầu tập tính đào hang. Mật độ ương 500 con/lít cho tỷ lệ sống đạt 11,68%, tương đương mức 300 con/lít (11,62%) và 400 con/lít (11,75%), nhưng vượt trội có ý nghĩa thống kê so với mật độ 600 con/lít chỉ đạt 10,72% (p < 0,05). Đối với nuôi vỗ bố mẹ, mật độ 600 con/m2 là ngưỡng tối ưu về hiệu quả kinh tế và sinh học.

Thảo luận kết quả

Sự vượt trội của thức ăn kết hợp xuất phát từ đặc tính dinh dưỡng ăn lọc mùn bã kết hợp gặm đáy tự nhiên của rươi. Thức ăn công nghiệp tuy có hàm lượng đạm và vi chất cao nhưng kích thước hạt và cấu trúc dinh dưỡng đơn điệu chưa mô phỏng được hệ vi sinh vật đáy tự nhiên. Việc kết hợp với tảo tươi và mùn bã ngũ cốc tạo ra nguồn cơ chất phong phú, kích thích hệ tiêu hóa và phản xạ bắt mồi của cá thể. Kết quả này tương đồng với các công bố quốc tế của Koya Yasunori (2003) tại Nhật Bản về tỷ lệ thụ tinh nhân tạo rươi đạt 80,5% ở nhiệt độ 22 - 30 °C và Bartels cùng Zeeck (1990) về tập tính sống trong hang sâu 15 cm dưới đáy bùn.

Số liệu thực nghiệm có thể được hệ thống hóa qua biểu đồ cột thể hiện đường tăng trưởng khối lượng qua các mốc 15, 30, 45, 60, 75 và 90 ngày nuôi vỗ, phản ánh độ dốc tăng trưởng mạnh nhất ở nghiệm thức kết hợp từ ngày thứ 45 trở đi. Bên cạnh đó, bảng phân tích các yếu tố thủy lý hóa khẳng định môi trường nuôi bể xi măng kiểm soát rất ổn định với nhiệt độ 25,5 - 27,5 °C, DO duy trì 5 - 7 mg/l, NH3-N ở mức thấp 0,01 - 0,02 mg/l và H2S chỉ 0,005 - 0,006 mg/l, tạo điều kiện thuận lợi cho rươi tích lũy sản phẩm sinh dục mà không bị sốc môi trường.

Đề xuất và khuyến nghị

  1. Áp dụng công thức thức ăn kết hợp cân đối: Người nuôi và kỹ thuật viên trại giống cần sử dụng khẩu phần phối trộn gồm 50% tảo đáy, mùn bã hữu cơ lên men và 50% thức ăn công nghiệp tổng hợp (Lansy, NRD Inve), cho ăn 2 lần/ngày với khẩu phần 5 - 10% khối lượng thân, bổ sung Vitamin C và E định kỳ 1 tuần/lần trong suốt chu kỳ nuôi vỗ 90 ngày nhằm đưa khối lượng thương phẩm đạt trên 0,86 g/con.
  2. Thiết lập mật độ nuôi chuẩn hóa theo giai đoạn: Trại giống cần duy trì mật độ ương ấu trùng giai đoạn 20 - 40 ngày tuổi ở mức 500 con/lít để đảm bảo tỷ lệ sống trên 11,6%. Khi chuyển sang nuôi vỗ thành thục thương phẩm trong bể xi măng, cần cố định mật độ 600 con/m2 nhằm tối ưu hóa chi phí giá thể và diện tích mặt nước.
  3. Chuẩn bị giá thể đáy và kiểm soát thủy hóa: Kỹ thuật viên vận hành cần rải lớp đáy bùn cát phối trộn tỷ lệ 7:3 dày 15 - 30 cm trong bể composite hoặc bể xi măng, duy trì độ mặn ổn định 2 - 3‰, pH 7,8 - 8,4, oxy hòa tan DO từ 5 đến 7 mg/l, đồng thời siphon thay nước 2 ngày/lần để giữ hàm lượng khí độc NH3 dưới 0,02 mg/l.
  4. Chuyển giao công nghệ sản xuất giống nhân tạo: Trung tâm Khuyến nông và Chi cục Thủy sản các tỉnh ven biển cần tổ chức 3 - 5 lớp tập huấn kỹ thuật trong 12 tháng tới, hướng dẫn quy trình thụ tinh nhân tạo và ương nuôi trong bể kín cho hơn 200 hộ dân tại Hải Phòng, Hải Dương và Quảng Ninh.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

  • Học viên cao học và nghiên cứu sinh chuyên ngành Nuôi trồng thủy sản, Sinh học biển: Tiếp cận cơ sở dữ liệu thực nghiệm chuẩn mực về sinh lý sinh sản và tập tính dị hình của lớp giun nhiều tơ, phục vụ nghiên cứu phát triển các đối tượng sinh vật đáy mới.
  • Kỹ sư trại sản xuất giống và người nuôi thủy sản nước lợ: Sử dụng các định mức kỹ thuật về mật độ 500 con/lít, tỷ lệ bùn cát 7:3 và chế độ cho ăn cụ thể để triển khai mô hình nuôi rươi trong bể thương phẩm, nâng cao tỷ lệ sống đạt trên 11,6%.
  • Cơ sở sản xuất giống tôm sú và tôm thẻ chân trắng: Tham khảo tài liệu để áp dụng sinh khối rươi giàu đạm và acid béo không no làm thức ăn nuôi vỗ tôm bố mẹ, giúp tăng tỷ lệ thành thục của tôm lên trên 85% và cải thiện chất lượng bọc tinh, buồng trứng.
  • Cán bộ quản lý thủy sản và chuyên viên khuyến nông: Sử dụng luận văn làm tài liệu căn cứ để hoạch định chính sách bảo vệ vùng bãi triều 6.000 ha và xây dựng mô hình kinh tế nông nghiệp tuần hoàn bền vững tại địa phương.

Câu hỏi thường gặp

Độ mặn thích hợp nhất cho ấu trùng rươi sinh trưởng trong bể là bao nhiêu? Độ mặn tối ưu cho quá trình phát triển của ấu trùng rươi dao động từ 2 đến 3‰, mặc dù loài này có biên độ thích nghi rộng từ 0 đến 5‰. Duy trì độ mặn trong khoảng này giúp ấu trùng đạt tỷ lệ sống 11,94% và chiều dài thân 11,52 mm sau 40 ngày nuôi.

Tại sao không nên chỉ sử dụng duy nhất thức ăn tổng hợp công nghiệp khi nuôi rươi? Thức ăn tổng hợp đơn thuần chỉ giúp rươi đạt khối lượng 0,633 g/con sau 90 ngày với tỷ lệ sống thấp nhất 64,03%. Do tập tính ăn lọc bùn bã đáy, rươi cần chất xơ và hệ vi sinh vật từ mùn hữu cơ tự nhiên để hỗ trợ tiêu hóa tốt hơn.

Mật độ ương ấu trùng rươi giai đoạn xuống đáy nên duy trì ở mức nào? Mật độ ương tối ưu là 500 con/lít cho tỷ lệ sống đạt 11,68%. Nếu tăng mật độ lên 600 con/lít, sự cạnh tranh không gian sống và hoạt động đào hang của ấu trùng diễn ra gay gắt, làm tỷ lệ sống suy giảm rõ rệt xuống còn 10,72%.

Giá thể đáy bể nuôi rươi nhân tạo cần được bố trí ra sao? Bể nuôi cần được rải một lớp giá thể dày từ 15 đến 30 cm gồm bùn và cát mịn phối trộn theo tỷ lệ 7:3. Nền đáy này giúp rươi dễ dàng đào hang sâu 10 - 15 cm để ẩn nấp, hô hấp và trồi lên bắt mồi theo đúng tập tính tự nhiên.

Rươi nuôi trong bể kín có thể sinh sản nhân tạo được không? Rươi nuôi vỗ trong bể xi măng kiểm soát môi trường hoàn toàn có khả năng thành thục tốt. Khi rươi chuyển màu xanh nhạt ở con cái và trắng đục ở con đực, sức sinh sản đạt khoảng 96.000 trứng/cá thể với tỷ lệ thụ tinh nhân tạo thành công trên 80,5%.

Kết luận

  • Đã xác lập thành công quy trình kỹ thuật nuôi rươi khép kín trong bể từ giai đoạn ấu trùng nectochaeta xuống đáy đến giai đoạn thành thục sinh dục.
  • Khẳng định chế độ thức ăn kết hợp tảo đáy, mùn bã hữu cơ và thức ăn tổng hợp cho tốc độ tăng trưởng khối lượng cao nhất đạt 0,862 g/con sau 90 ngày.
  • Xác định mật độ ương ấu trùng tối ưu là 500 con/lít (tỷ lệ sống 11,68%) và mật độ nuôi vỗ rươi bố mẹ thích hợp nhất là 600 con/m2.
  • Chuẩn hóa các ngưỡng môi trường an toàn: nhiệt độ 25,5 - 27,5 °C, độ mặn 2 - 3‰, pH 7,8 - 8,4 và oxy hòa tan 5 - 7 mg/l.
  • Cung cấp giải pháp kỹ thuật nâng cao tỷ lệ sống của ấu trùng đạt 11,94% và tỷ lệ sống nuôi vỗ đạt 66,63%.

Luận văn đóng góp bước đột phá quan trọng trong việc chuyển đổi nghề nuôi rươi từ phụ thuộc tự nhiên sang hình thức nuôi bể thâm canh có kiểm soát. Kế hoạch tiếp theo cần tập trung hoàn thiện công nghệ sản xuất giống nhân tạo quy mô lớn trong 6 tháng tới và triển khai mô hình trình diễn 1,5 ha tại các vùng nước lợ trong vòng 12 - 24 tháng. Các hợp tác xã, doanh nghiệp và hộ nuôi thủy sản hãy chủ động áp dụng quy trình công nghệ này để nâng cao giá trị kinh tế và chủ động nguồn thương phẩm chất lượng cao.