ĐẶT VẤN ĐỀ Chăn nuôi vịt là nghề truyền thống của nước ta, trong những năm qua đã đạt được sự tăng trưởng khá cả về số lượng đầu con và quy mô sản xuất. Theo số liệu của Cục Chăn nuôi ngày 01/04/2017 thì tổng đàn vịt nước ta là 71,47 triệu con, tăng 105,64% so với năm 2016, trong đó tổng số trứng vịt là 2,01 tỷ quả tăng 383,850 nghìn quả, tăng 107,30% so với năm 2016. Nước ta có nhiều sông ngòi, ao, hồ, đầm… thích hợp phát triển các loài thủy cầm như vịt, ngan. Giống vịt Biển 15 – Đại Xuyên được nhập vào nước ta theo dự án DA 15.
Vịt Biển 15 – Đại Xuyên tuổi đẻ từ 20 - 21 tuần, khối lượng vào đẻ 2,5 - 2,7 kg/con, năng suất trứng 235 - 247 quả/mái/năm. Khối lượng trứng, 82 - 86 gr/quả, tiêu tốn thức ăn/10 quả trứng là 3,1 - 3,3 kg. Khối lượng vịt thương phẩm 2,26 - 2,35 kg/con. Tiêu tốn thức ăn trên 1 kg tăng khối lượng 2,4 - 2,6 kg.
Điều kiện nuôi vịt Biển 15 – Đại Xuyên rất phong phú và đa dạng, có thể nuôi ở nước mặn (nước biển), nước lợ và nước ngọt. Để góp phần thúc đẩy chăn nuôi thủy cầm nói chung và chăn nuôi vịt nói riêng khâu ấp trứng nhân tạo không thể thiếu được và gần đây nó đã không ngừng phát triển, góp phần thúc đẩy công nghiệp hóa, hiện đại hóa trong chăn nuôi gia cầm nói chung và chăn nuôi vịt nói riêng. Trước đây chăn nuôi vịt mang tính thời vụ nặng nề nên người sản xuất gặp khó khăn trong việc tiêu thụ sản phẩm. Cùng với đó là sự biến đổi thời tiết diễn ra ngày càng rõ rệt, sự xâm nhập mặn vào đất liền ngày càng nhiều.
Do đó đòi hỏi của sản xuất phải có con giống tốt, có quanh năm và nuôi với nhiều phương thức khác nhau. Một số tác giả như: Lê Xuân Đồng (1993), Nguyễn Văn Trọng (1998), Bạch Thị Thanh Dân (1998),… đã nghiên cứu quy trình ấp nở các giống vịt chuyên trứng cũng như chuyên thịt. Tuy nhiên áp dụng quy trình chung để ấp giống vịt Biển 15 – Đại Xuyên đã cho kết quả ấp nở không cao. Xuất phát từ những yêu cầu thực tiễn đó, chúng tôi đã tiến hành nghiên cứu đề tài: “Một số yếu tố ảnh hưởng đến kết quả ấp nở trứng vịt Biển 15 – Đại Xuyên”.
MỤC TIÊU CỦA ĐỀ TÀI Xác định được các chỉ tiêu về chất lượng của trứng vịt Biển 15 – Đại Xuyên. Xây dựng quy trình ấp nở trứng vịt Biển 15 – Đại Xuyên. 1 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail. Ý NGHĨA KHOA HỌC VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI - Kết quả nghiên cứu có hệ thống một số yếu tố trong quá trình ấp ảnh hưởng đến kết quả ấp nở trứng vịt Biển 15 – Đại Xuyên.
- Kết quả của đề tài là cơ sở để xây dựng chế độ ấp nở thích hợp đối với trứng vịt Biển 15 – Đại Xuyên, góp phần thúc đẩy phát triển giống vịt Biển 15 – Đại Xuyên tại Việt Nam. 2 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail. TỔNG QUAN TÀI LIỆU NGHIÊN CỨU 2. CÁC YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN KẾT QUẢ ẤP NỞ 2.
Chất lượng trứng Chất lượng trứng liên quan đến kết quả ấp nở, ấp nở đạt kết quả cao khi trứng phải đủ tiêu chuẩn. Trứng ấp phải có cấu trúc vỏ hoàn chỉnh, có chất lượng lòng đỏ, lòng trắng và tỷ lệ giữa lòng đỏ/lòng trắng phù hợp với giống. Việc kiểm tra chất lượng trứng trước khi ấp trong thực tế sản xuất là rất có lợi. Khi phát hiện sớm được những thay đổi xảy ra trong trứng phải có biện pháp để cải thiện kịp thờichất lượng trứng.
Đánh giá chất lượng trứng là xác định một số đặc điểm cơ bản như khối lượng trứng, chất lượng vỏ và các chỉ tiêu về lòng đỏ, lòng trắng, đơn vị Haugh,. Khối lượng trứng Tiêu chuẩn khối lượng của trứng thay đổi tùy thuộc vào giống, dòng, mục đích sử dụng cũng như tuổi của đàn gia cầm. Những trứng có khối lượng quá to hoặc quá nhỏ luôn luôn cho kết quả ấp nở thấp hơn so với trứng có khối lượng trung bình, nguyên nhân là do sự mất cân đối giữa các thành phần của trứng. Trứng quá to hoặc quá nhỏ làm mất đi sự phát triển bình thường của phôi.
Trứng quá nhỏ có tỷ lệ lòng đỏ cao và tỷ lệ lòng trắng ít hơn so với trứng to. Ngoài ra, trứng nhỏ còn có tỷ lệ diện tích bề mặt lớn hơn so với khối lượng của nó. Khối lượng trứng phụ thuộc vào nhiều yếu tố như: chế độ chăm sóc nuôi dưỡng, dinh dưỡng, mùa vụ, tuần tuổi của đàn vịt,… Đặc biệt yếu tố giống có vai trò quyết định đến khối lượng trứng. Giống vịt siêu trứng có khối lượng trứng nhỏ.
Ngược lại, các giống vịt siêu thịt lại có khối lượng cơ thể cũng như khối lượng trứng lớn. Một số giống vịt đang được nuôi phổ biến ở nước ta hiện nay như: Vịt CV 2000 Layer là giống vịt chuyên trứng của Vương Quốc Anhđược nhập vào Trung tâm Nghiên cứu Vịt Đại Xuyên năm 1997 và 2001năng suất trứng rất cao, khối lượng 70 - 75g/quả. Trứng vịt thường nở sau 28 ngày ấp; Tỷ lệ phôi: 90 - 97% và tỷ lệ ấp nở trên 80%. Vịt Cỏ là một trong những giống vịt nuôi lâu đời và phổ biến nhất ở nước ta.
Vịt Cỏ có nguồn gốc từ vịt trời được thuần hoá tự nhiên. Vịt Cỏ có tầm vóc 3 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com nhỏ bé, bắt đầu đẻ trứng sau 140 ngày tuổi, sản lượng trứng 200 - 225 quả/mái/năm. Trứng nhỏ, khối lượng 64 - 65g/quả, có tỷ lệ phôi cao. Vịt Khaki Campbell của Anh được nhập vào nước ta cuối năm 1989.
Trong điều kiện sản xuất đại trà, vịt bắt đầu đẻ lúc 140 - 150 ngày tuổi; sản lượng trứng 250 - 280 quả/mái/năm; khối lượng trứng 65 - 75g/quả; tỷ lệ trứng có phôi đạt cao trên 90%. Theo Hoàng Văn Tiệu và Lê Xuân Thọ (2001), con lai F1 giữa CV 2000 Layer với Khaki Campbell có khối lượng trứng là 68,01 - 69,28g. Theo Doãn Văn Xuân và cs. (2007), con lai giữa vịt Cỏ và Triết Giang ở tuần đẻ 50 có khối lượng trứng từ 69,31 - 70,30g.
Theo Nguyễn Đức Trọng và cs. (2011), trứng vịt CV Super M khối lượng trong khoảng 77 - 87g có tỷ lệ phôi và tỷ lệ nở/phôi đạt cao nhất. Vịt CV SuperM2 dòng trống có khối lượng trứng 85,54g, dòng mái có khối lượng trứng 82,90g. Vịt CV SuperM3Super Heavy (SM3SH) lúc khảo sát ở 15, 17, 19 tuần đẻ, dòng trống T13 có khối lượng trứng 91,64g, dòng mái T14 có khối lượng trứng là 88,59g.
Theo Dương Xuân Tuyển (1998), vịt CV. Super M tại trại VIGOVA dòng trống khối lượng trứng là 84,73g; dòng mái là 82,10g. Theo Phùng Đức Tiến và cs. (2008), trứng ngan bố mẹ R71 có khối lượng 80,65 ± 0,84g cho kết quả ấp nở cao.
Cụ thể tỷ lệ phôi đạt 92,25%; nở /phôi đạt 90,08%; nở/ tổng trứng ấp đạt 82,12%. Theo Nguyễn Thị Tú và cs. Kết quả nghiên cứu của Phùng Đức Tiến và cs. (2004), cho biết trứng ngan R51 bố mẹ có khối lượng 81,59g ± 0,75 cho tỷ lệ phôi đạt 93,8% và tỷ lệ nở loại I/ tổng trứng ấp đạt 79,98%.
Kiểm soát khối lượng trứng ấp là rất quan trọng, vì chỉ tiêu này biến động phụ thuộc điều kiện ngoại cảnh. Khi điều kiện chăm sóc nuôi dưỡng kém, khối lượng trứng giảm và độ đồng đều thấp. Vì vậy việc đầu tiên là phải kiểm soát khối lượng trứng một cách có hệ thống. Khối lượng trứng và các thành phần cấu tạo trứng bị ảnh hưởng bởi một số nhân tố di truyền và không di truyền.
Những yếu tố này có thể ảnh hưởng trực tiếp đến khối lượng trứng hoặc ảnh hưởng gián 4 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com tiếp đến khối lượng cơ thể. Những thay đổi di truyền dẫn đến thay đổi kích thước trứng cũng như dẫn đến thay đổi các thành phần của trứng. Hệ số di truyền của khối lượng trứng là 0,46 ± 0,16. Với hệ số di truyền trung bình cao có thể chọn lọc những tính trạng này theo cá thể nhằm tạo ra đàn giống có chất lượng trứng cao, đồng đều về khối lượng góp phần nâng cao tỷ lệ ấp nở.
Chất lượng vỏ trứng Vỏ trứng là lớp ngăn cách giữa các thành phần bên trong của trứng và môi trường, bảo vệ các thành phần bên trong trứng. Vỏ trứng bao gồm nhiều lớp khác nhau. Vỏ trứng được bao bên ngoài bởi lớp màng keo mỏng do tử cung và âm đạo tiết ra. Lớp keo dính này làm giảm ma sát giữa thành âm đạo và và trứng, làm thuận lợi cho trứng được đẻ ra.
Lớp keo này còn hạn chế sự bốc hơi nước của trứng và ngăn cản sự xâm nhập của vi khuẩn. Tiếp lớp màng keo là lớp vỏ cứng, đây là phần chủ yếu trong cấu tạo vỏ trứng gia cầm, có độ dày trung bình từ 0,2 - 0,6mm. Độ dày vỏ trứng không đồng đều mà tăng dần từ đầu lớn đến đầu nhỏ của quả trứng. Ngoài ra, vỏ cứng còn có khả năng thẩm thấu không khí ra, vào.
Ở các vị trí khác nhau sự thẩm thấu không khí không giống nhau, đầu to của trứng thấm không khí nhiều hơn đầu nhỏ, ở trứng gà tính thấm không khí lớn hơn trứng các loài gia cầm khác. Các loại khí khác nhau cũng thẩm thấu qua vỏ không giống nhau. Hyđro có khả năng thẩm thấu lớn nhất và ôxy lại thẩm thấu nhỏ nhất. Bagley et al.
(1990) cho biết, độ thẩm thấu không khí của vỏ trứng tăng theo tuổi của gia cầm sinh sản. Theo Charles Deeming (1991), vỏ cứng là lớp cacbonat canxi có nhiều lỗ khí và giữ vai trò quan trọng trong quá trình trao đổi khí và nước giữa phôi với môi trường bên ngoài. Độ dày vỏ trứng và số lỗ khí có quan hệ chặt chẽ với nhau, trứng mỏng có số lỗ khí nhiều hơn trứng dày và ngược lại. Theo Orlov (1974), mật độ lỗ khí phân bố không đều trên vỏ trứng: đầu to có mật độ lỗ khí nhiều hơn vùng giữa và đầu nhỏ, số lỗ khí và kích thước lỗ khí từ khi trứng được đẻ ra đến khi gia cầm nở không thay đổi.
Các giống gia cầm khác nhau thì mật độ lỗ khí trên vỏ trứng cũng khác nhau. Những lỗ khí này để ôxy vào bên trong và đẩy oxitcacbon cùng nước ra ngoài. Nước đi qua các lỗ khí này, nếu trứng bị rạn nứt nước sẽ bị thoát ra ngoài nhiều. Theo Nguyễn Ân (1978), thời gian đầu 5 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.